Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
28 câu hỏi
…Điền thương con lắm. Vút cái, Điền thấy Điền không thể nào đi được. Điền không thể sung sướng khi con Điền còn khổ. Chao ôi! Trăng đẹp lắm! Trăng dịu dàng và trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa! Biết bao cực khổ và lầm than?... Không, không, Điền không thể nào mơ mộng được. Cái sự thật tàn nhẫn luôn luôn bày ra đấy. Sự thực giết chết những ước mơ lãng mạn gieo trong đầu óc Điền cái thứ văn chương của bọn nhàn rỗi quá. Điền muốn tránh sự thực, nhưng trốn tránh làm sao được? Vợ Điền khổ, con Điền khổ, cha mẹ Điền khổ. Chính Điền cũng khổ. Bao nhiêu người nữa, cùng một cảnh, khổ như Điền! Cái khổ làm héo một phần lớn những tính tình tươi đẹp của người ta. Tiếng đau khổ vang dội lên mạnh mẽ. Chao ôi! Chao ôi! Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả. Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời …
Sáng hôm sau, Điền ngồi viết. Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. Và cả tiếng chửi bới của một người láng giềng ban đêm mất gà.
(Trích Giăng sáng – Nam Cao)
Nội dung chính của văn bản: Tâm trạng đau khổ, đầy bi kịch và những trăn trở về nghệ thuật của nhân vật Điền.
Ngôn ngữ trong văn bản trên là của ai, sử dụng ngôi kể thứ mấy? Việc sử dụng ngôn ngữ đó có tác dụng gì?
Ngôn ngữ trong văn bản là ngôn ngữ nửa trực tiếp, nhà văn hóa thân vào nhân vật để cất lên tiếng nói nội tâm của nhân vật; sử dụng ngôi kể thứ ba.
=> Tác dụng: Ngôn ngữ đa thanh – một trong những đặc trưng của văn xuôi Nam Cao. Nó làm tăng sự chân thực cho đoạn văn.
Anh/chị cảm nhận như thế nào về nhân vật Điền trong văn bản trên? Viết câu trả lời trong khoảng 10 dòng.
Cảm nhận về nhân vật Điền:
- Là một nhà văn có lí tưởng đẹp đẽ về văn chương nghệ thuật.
- Có cái nhìn chân thực, sâu sắc về cuộc đời, về mối quan hệ giữa văn chương nghệ thuật và cuộc sống: nghệ thuật phải vị nhân sinh chứ không phải nghệ thuật vị nghệ thuật.
=> Nhà văn có tâm huyết, có tình thương và có hoài bão lớn.
Điền quan niệm: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Anh/chị có đồng ý với quan niệm đó hay không? Vì sao?
Em đồng ý với quan điểm nghệ thuật vị nhân sinh vì:
+ Con người là đối tượng phản ánh của văn học, hiện thực cuộc sống chính là nguồn cảm hứng, là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học. Con người cũng chính là đối tượng hướng tới của văn học. Nếu xa rời hiện thực, văn chương sẽ trở nên xáo rỗng; không có độc giả, văn chương sẽ “chết”.
+ Văn chương phải cất lên tiếng nói sẻ chia, đồng cảm với con người mới là văn chương chân chính.
Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi;
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ! Thời gian không đứng đợi.
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.
Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.
Vì chút mây đi, theo làn vút gió.
Biết thế nào mà chậm rãi, em ơi?
(Trích “Giục giã”, Xuân Diệu, “Gửi hương cho gió”, NXB Hội nhà văn, 1992)
Thể thơ: Tám chữ
Cách ngắt nhịp: Nhịp 3/5
Chỉ ra những cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng trong những câu thơ:
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Những cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng: (Tình) mới – xưa, nắng mọc – hoa rụng, tình yêu đến – tình yêu đi, gặp gỡ – li biệt, xưa – nay
Những từ ngữ thể hiện sự giục giã của “anh”: Mau với chứ, Vội vàng lên, gấp đi em
Ý nghĩa của việc sử dụng các cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập được sử dụng trong những câu thơ sau:
Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!
Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Ý nghĩa của việc sử dụng các cặp hình ảnh, từ ngữ đối lập: Khẳng định mạnh mẽ về sự chảy trôi liên tục, “không đứng đợi” ai của dòng chảy thời gian
Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đối được sử dụng trong những câu thơ sau:
Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.
Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đối được sử dụng: Nhấn mạnh sự tan biến, đổi thay nhanh chóng theo thời gian của điều tốt đẹp trong cuộc đời
Trong đoạn thơ trên, nhân vật trữ tình đã bộc lộ những tình cảm, cảm xúc gì?
Trong đoạn thơ trên, nhân vật trữ tình đã bộc lộ những tình cảm, cảm xúc: Cuống quýt, vội vàng, gấp gáp để sống trọn vẹn với giây phút hiện tại, vì ý thức rõ những điều tốt đẹp sẽ bống chốc thay đổi, biến mất theo thời gian
Anh/ chị có nhận xét gì về nhịp điệu, giọng điệu của đoạn thơ trên?
Nhận xét gì về nhịp điệu, giọng điệu của đoạn thơ:
- Nhịp điệu: nhanh, gấp gáp,
- Giọng điệu: hối thúc, giục giã
Qua đoạn thơ trên, tác giả muốn bộc lộ quan niệm sống như thế nào?
Qua đoạn thơ, tác giả bộc lộ quan niệm sống:
- Trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, cái đẹp và tình cảm con người cũng có thể thay đổi, biến mất.
- Vì vậy, con người hãy nhanh chóng, gấp gáp để sống trọn vẹn từng giây phút hiện tại, tận hưởng những điều tốt đẹp của cuộc đời trước khi mọi thứ tan biến.
- Đó là một quan niệm sống có ý nghĩa tích cực, tiến bộ.
Anh/chị cần làm gì để quỹ thời gian của mình không trôi qua một cách hoài phí?
Học sinh nêu những việc cần làm để quỹ thời gian của mình không trôi qua một cách hoài phí
Gợi ý:
- Lên kế hoạch công việc trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm và thực hiện nghiêm túc.
- Tư duy logic, hoàn thành trọn vẹn các công việc, tránh để dồn việc hoặc mất tập trung khi làm việc.
- ...
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên, Sách Ngữ văn 12, NXBGD-2007, tr. 144)
Xác định những phương thức biểu đạt trong đoạn thơ.
- Những phương thức biểu đạt: Biểu cảm, miêu tả, tự sự.
- Cách xưng hô: Tác giả xưng con thể hiện lòng biết ơn sâu nặng của mình với cuộc kháng chiến, với Tây Bắc. Tây Bắc chính là mảnh đất mẹ, là Mẹ Tổ quốc, Mẹ nhân dân mà Chế Lan Viên đang khao khát trở về.
- Biện pháp nghệ thuật so sánh: Tác giả dùng tới 5 hình ảnh so sánh, là những so sánh kép, tầng bậc, làm thành từng chum hình ảnh độc đáo: nghệ sĩ như nai, cỏ, én, đứa trẻ thơ đói lòng; nhân dân như suối ngọt, như cánh tay đưa nôi,… Tất cả những hình ảnh trên đều lấy từ đời sống tự nhiên gần gũi của con người, nhưng trong cách nói của nhà thơ nó vẫn gợi lên những liên tưởng mới lạ, đưa lại hiệu quả thẩm mĩ cao.
- Khổ thơ thể hiện niềm vui người chiến sĩ cách mạng khi gặp lại nhân dân. Về với nhân dân là về với những gì thân thuộc nhất, môi trường thuận lợi nhất; với niềm vui, hạnh phúc chờ mong; về với ngọn nguồn thiết yếu nhất cùa sự sống; về với lòng mẹ, tình mẹ bao la…Những hình ảnh diễn tả niềm sung sướng tột độ, ý nghĩa sâu xa của cuộc trở về cho thấy sự trở về này là lẽ tự nhiên, hợp quy luật: nghệ sĩ phải đến với nhân dân, gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhân dân.
Đọc đoạn trích sau:
[...] Mùa rét năm ấy đến, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đàn con bác Lê ôm chặt lấy nhau rét run trong căn nhà ẩm ướt và tối tăm vì đèn đuốc không có nữa. Mấy gia đình ở phố chợ đều đói rét và khổ sở. Nhưng mỗi nhà đều lặng lẽ, âm thầm và chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm lời gì, ai nấy đều biết cũng nghèo khốn như nhau.
Một buổi chiều, mà đàn con đã nhịn đói suốt buổi, bác Lê vá lại manh áo rét, gọi đứa cả đến rồi bảo:
- Ở nhà trông các em, tao vào ông Bá xem có xin được ít gạo nào không?
- Ban sáng u đã vào nhà người ta có cho đâu, cậu Phúc lại còn bảo hễ u vào nữa thì cậu ấy thả chó ra cắn.
Bác Lê đáp:
- Nhưng biết làm thế nào! Không có thì lấy gạo đâu ra mà ăn? Thôi tao cứ liều vào lần nữa xem sao.
Nói xong, bác Lê mở cửa liếp ra đi. Trong lòng bác vẫn có chút hy vọng trong buổi sáng lúc vào xin gạo. Ông Bá đã đuổi mắng không cho. Bác nhớ lại cái cảnh sang trọng, ấm cúng trong nhà ông Bá. Những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói. Không lẽ ông Bá giầu có thể mà không thí cho mẹ con bác được bát gạo hay sao?
Ở nhà, đàn con bác ngồi nhìn nhau đợi trong ổ rơm. Bác đi đâu không thấy về. Thằng Hy lắng tai nghe tiếng chó cắn trong làng rồi bảo chị nó:
- Hình như u về đấy chị ạ.
Thằng cả đi lại bên cửa bếp nhìn ra ngòai. Bỗng có tiếng chân người rầm rập, đến tiếng gọi, rồi lũ trẻ thấy bác Đối và một người nữa khiêng bác Lê vào trong nhà. Trên bắp chân người mẹ, máu đỏ chảy ròng ròng.
Thằng cả hiểu ngay mẹ nó bị chó ông Bá cắn. Bác đặt người bị thương xuống chiếu rồi ra đi sau khi dặn:
- Bây giờ, bác lấy lá lốt mà dịt cho nó cầm máu. Chó tây cắn thì độc lắm đấy Khi bác đi khỏi, lũ trẻ xúm quanh lấy mẹ. Thằng Hy vừa mếu máo vừa hỏi:
- U làm sao thế, u?
Bác Lê nén cái đau, giảng cho con biết:
- Thật cậu Phúc ác quá! Đã không cho thì thôi lại còn thả chó ra đuổi, tao đã chạy mà không kịp, nên nó cắn phải. May gặp bác Đối, chứ không biết bao giờ mới lê được về đến nhà.
Bác ngừng lại nhìn đàn con ốm yếu, rồi thở dài:
- Thế là mẹ con lấy gì ăn cho đỡ đói bây giờ.
Thằng Hy òa lên khóc, con Tý cũng khóc theo. Bác Lê giơ tay ôm chúng nó vào
lòng nghĩ thân phận mình, bác cũng ứa nước mắt.
(Trích: Nhà mẹ Lê, Thạch Lam)
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
Căn nhà mẹ Lê được miêu tả: ẩm ướt và tối tăm.
Nêu ngắn gọn thái độ của người kể chuyện trước tình cảnh của mẹ con bác Lê trong đoạn trích.
Thái độ của người kể chuyện trước tình cảnh của mẹ con bác Lê: đồng cảm, xót thương thân phận.
Nét đặc sắc về ngôn ngữ của đoạn trích là gì?
Nét đặc sắc về ngôn ngữ của đoạn trích: vừa trong sáng, giản dị, vừa gợi nhiều cảm xúc.
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.
Trong đoạn trích, bác Lê đến nhà ông Bá làm gì?
Bác Lê đến nhà ông Bá để xin gạo cho lũ con tội nghiệp.
Anh/ chị có cảm nhận như thế nào về cuộc sống con người được khắc họa trong đoạn trích?
- Cuộc sống con người trong đoạn trích: Nghèo đói, khổ sở đến thảm hại.
- Cảm nhận của bản thân: Đồng cảm, thương xót.
Từ hình tượng bác Lê trong đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về tình mẫu tử? (Trình bày trong khoảng 5 dòng).
- Hình tượng bác Lê trong đoạn trích: Là người mẹ yêu thương con, chấp nhận khổ cực, thậm chí liều mạng chỉ để xin được gạo cho các con ăn đỡ đói.
- Suy nghĩ về tình mẫu tử: Là thứ tình cảm thiêng liêng, đáng trân trọng...
Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ.
Tự tình II và Thuyền và biển là hai bài thơ tiêu biểu của hai nữ thi sĩ Việt Nam Hồ Xuân Hương và Xuân Quỳnh. Mặc dù thuộc hai thế hệ nhưng quan điểm, những trăn trở suy tư của hai nhà thơ về thân phận, cảm xúc của người phụ nữ đều được thể hiện trọn vẹn qua hai tác phẩm và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Tự tình II nằm trong chùm thơ Tự tình gồm có ba bài. Cả ba bài đều thể hiện nhất quán nỗi tự thương mình trong tình cảnh cô đơn, lẻ loi và khao khát hạnh phúc lứa đôi mãnh liệt. Những vần thơ còn thể hiện sự vùng vẫy, bứt phá để dành hạnh phúc cho chính mình, nhưng cuối cùng vẫn phải nhận về thất bại cay đắng. Thân phận người phụ nữ trong bài thơ được thể hiện đầy cay đắng xót xa, họ ý thức về thân phận mình, ý thức về tuổi thanh xuân trôi nhanh mà hạnh phúc lứa đôi chưa được tròn vẹn.
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu đưa hương say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Trước thực tại quá đỗi phũ phàng, dường như người phụ nữ cũng phải chấp nhận: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con”, câu thơ cất lên đầy ai oán chua xót. Trong một bài thơ khác Hồ Xuân Hương đã từng viết: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung/ Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” để cho thấy rõ hơn số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Tuổi xuân người con gái có được là bao nhiều, xuân “lại lại” đồng nghĩa với thanh xuân người con gái ngày một ngắn lại, vậy mà mảnh tình cũng phải san sẻ, chia năm sẻ bảy. Câu thơ với cách dùng từ độc đáo, cho thấy sự nhỏ dần, ít dần của tình duyên: mảnh tình – nhỏ bé, san sẻ - càng ít hơn và cuối cùng phần nhận được chỉ còn lại “tí con con”.
Cũng thể hiện khát vọng của người phụ nữ, Xuân Quỳnh của thế kỷ XX đã thể hiện được những rung động, tha thiết trong tình yêu.
Em sẽ chia sẻ với anh
…
Đưa thuyền khắp nơi
Bài thơ bắt đầu với hình ảnh của thuyền và biển. Thuyền và biển là hai hình tượng hòa quyện với nhau, không thể tách rời, mang đến vẻ đẹp trữ tình giản dị và tạo nên sự gắn kết mạnh mẽ. câu chuyện của một tình yêu chung thủy “Từ ngày nào không biết. Thuyền nghe theo lời biển khơi”. Câu thơ như một sự thú nhận ngần ngại, e ấp, rằng từ lâu em đã thích anh, sẵn sàng xây dựng hạnh phúc lứa đôi với anh. Không biết từ khi nào em đã yêu anh, nhưng tình yêu ấy là chân thành và vĩnh cửu.
Thông thường, biển thường tượng trưng cho người con trai vì sức mạnh của nó, nhưng Xuân Quỳnh đã tạo ra một sự đảo ngược, sử dụng hình ảnh của biển để biểu hiện người con gái, vì biển cũng có sự dịu dàng, chân thật, đặc biệt là với sự rộng lớn như tình yêu của nhà thơ.
Khi yêu, chúng ta không thể dự đoán được hướng đi. Trong tình yêu, con người ta thường theo đuổi theo cảm xúc, để tình yêu dẫn đường.Cảm xúc của đôi lứa không ngừng chuyển động, không bao giờ có thể nén trong vài câu từ, nó là một thế giới sống động và tuyệt vời, tình yêu không phải ai cũng có thể diễn đạt được, nhưng Xuân Quỳnh đã thực hiện nhiệm vụ đó rất tốt. Với Xuân Quỳnh, tình yêu được định nghĩa bởi sự cảm thông, sự thấu hiểu và lòng hy sinh. Tình yêu là sự kết nối tất yếu với sự khao khát tìm kiếm, mong muốn hiểu rõ lòng nhau. Trong bài thơ, Xuân Quỳnh thông minh tách “hiểu” và “biết”, cùng lúc sử dụng hai lần từ “chỉ có”, làm nổi bật sự riêng tư của “thuyền và biển”, cũng như của “anh và em”, không có ai thứ ba nào thấu hiểu. Đó là cảm giác tự hào, tự tin trong tình yêu của chúng ta. Đó là cảm xúc và là khao khát của mỗi người khi yêu. Hình ảnh thuyền và biển vẫn liên quan chặt chẽ với nhau, biểu tượng cho tình yêu không thể chia rẽ. Trái tim của Xuân Quỳnh, khi “Thuyền và biển” ra đời, vẫn còn trẻ và ấm áp. Như một ước mơ, một định mệnh, Xuân Quỳnh trở thành thi sĩ của tình yêu, sống vì tình yêu. Có lẽ đó là sự bù đắp cho cuộc đời của Xuân Quỳnh, cũng như là cơ hội để Quỳnh có thể trở thành chính bản thân mình. Yêu thương và khao khát, cuộc sống của Xuân Quỳnh trở thành một hành trình tìm kiếm hạnh phúc. Với trái tim hồn nhiên trong thời kỳ đó, Xuân Quỳnh mong muốn một tình yêu lý tưởng, chung thủy, duy nhất và hiểu biết tận cùng.
Qua đó có thể thấy, hai bài thơ Tự tình II và Thuyền và biển đều thể hiện rất tốt cảm xúc, tâm trạng của người phụ nữ trong các hoàn cảnh của cuộc đời. Nhưng có lẽ chính bởi hai tác giả thuộc hai thế hệ khác nhau nên dù cho cả hai đều có cách tân trong việc thể hiện nỗi lòng người phụ nữ nhưng ở Tự tình – khi tư tưởng còn bị ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, người đọc thấy một tâm trạng bi ai, than thân trách phận của người phụ nữ thời xưa, khi họ khao khát được bày tỏ nỗi lòng nhưng không được chấp nhận và phải sống cuộc đời “tầm gửi”. Ngược lại, Thuyền và biển đã thể hiện rõ ràng tâm trạng, mong muốn, khát vọng tình yêu của người phụ nữ, để thấy được rằng, trong tình yêu, người phụ nữ cũng mạnh mẽ, sẵn sàng cho đi hơn bất kì ai khác.
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ.
Trong thời đại kỷ nguyên số, vấn đề xây dựng và bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng không ít thách thức, khó khăn. Làm thế nào để bảo tồn và phát triển văn hóa trong thời đại 4.0, đó không còn là câu chuyện riêng mà là của mọi người, trong đó có trách nhiệm rất lớn của thế hệ trẻ.
Có rất nhiều định nghĩa về tuổi trẻ mà mẫu số chung là: Tuổi trẻ đồng nghĩa với sức bật, sự đổi mới, sáng tạo, tinh thần dấn thân, dám nghĩ, dám làm. Tuổi trẻ là mùa xuân của đời người thì người trẻ - thế hệ trẻ là mùa xuân của xã hội.
Khác với nhiều quốc gia, Việt Nam có lợi thế về dân số trẻ, đồng nghĩa với việc có một lực lượng thanh niên đông đảo nói chung, lao động trẻ nói riêng. Sôi nổi, năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, thanh niên Việt Nam đã và đang chứng tỏ vai trò là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Sức trẻ, khả năng sáng tạo của thế hệ trẻ Việt Nam đã in dấu ở trong và ngoài nước, ở nhiều vùng miền, đã tỏa sáng ở nhiều lĩnh vực.
Quá trình đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước gắn liền với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 vừa đặt ra những thuận lợi lớn, vừa có không ít khó khăn với những người trẻ. Phát huy hơn nữa sức trẻ, sự sáng tạo để thế hệ trẻ có đóng góp xứng đáng cho công cuộc này là đòi hỏi rất thời sự.
Thế giới đã bước vào kỷ nguyên 4.0. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, tuổi trẻ là lực lượng đóng vai trò quan trọng, nếu nói không quá thì đây là lực lượng nòng cốt. Bởi lẽ, với tri thức và hoài bão, khả năng sáng tạo, đổi mới, tuổi trẻ có thể tạo ra những đột phá mới làm thay đổi thế giới. Trong những thập niên vừa qua, có hàng loạt điển hình khởi nghiệp thành công trước ngưỡng tuổi 30 ở các quốc gia đã bước vào kỷ nguyên 4.0: Steve Jobs là một trong ba nhà đồng sáng lập Apple khi mới 25 tuổi. Ở tuổi 21, Bill Gates đã cùng Paul Allen thành lập hãng phần mềm Microsoft. Larry Page và Sergey Brin đều 25 tuổi khi họ bắt đầu thành lập Google. Vào năm 19 tuổi, Michael Dell đã bắt đầu những bước đi đầu tiên cho quá trình thành lập Hãng máy tính Dell…
Cuộc cách mạng 4.0 với các thành tố như internet kết nối vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big data), robot thông minh... đang tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Trong Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ số chính là cốt lõi. Sức bật, khả năng sáng tạo chính là lợi thế của tuổi trẻ trong Cách mạng công nghiệp 4.0. Nhưng nếu không phát huy được thì cuộc Cách mạng 4.0 cũng chính là rào cản với mỗi người trẻ khi trí tuệ nhân tạo, robot, quá trình tự động hóa… sẽ cạnh tranh gay gắt với chính con người. Điều này đòi hỏi thế hệ trẻ phải nhanh nhạy nắm bắt, làm chủ công nghệ và tạo ra những sản phẩm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Công nghệ số, cốt lõi của Cách mạng 4.0 mở ra những tài nguyên không giới hạn để thế hệ trẻ phát huy sức bật, năng lực sáng tạo của mình, để từ đó những hạt giống tiềm năng sẽ thực sự đóng vai trò, công sức xứng đáng cho đất nước.
Công nghệ số là nhân tố tạo ra nền tảng kinh tế số. Và chính kinh tế số sẽ mở ra kỷ nguyên số cho mỗi quốc gia. Từ thông điệp của người đứng đầu Chính phủ, có thể thấy phát huy sức trẻ, khả năng sáng tạo trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, phục vụ yêu cầu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế không chỉ là yêu cầu hết sức thời sự mà còn được tạo “bệ phóng” thuận lợi, để từ đó mỗi người trẻ có cơ hội phát huy đầy đủ tài năng, đóng góp nhiều hơn cho đất nước.

