Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề thi

Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án

A
Admin
VănLớp 1233 lượt thi
46 câu hỏi
Đoạn văn

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay...

(Bên kia sông Đuống- Hoàng Cầm)

1. Tự luận
• 1 điểm

Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn thơ trên.

Xem đáp án

Đoạn thơ sử dụng các phương thức biểu đạt là: tự sự, miêu tả, biểu cảm.

2. Tự luận
• 1 điểm

Cảm nhận vẻ đẹp của dòng sông qua câu thơ: Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì.

Xem đáp án

Câu thơ gợi tả một sông Đuống duyên dáng trữ tình như dáng hình gợi cảm, tràn đầy sức thanh xuân của người thiếu nữ Kinh Bắc. Đồng thời gợi lên vẻ đẹp của một sông Đuống trầm mình trong dòng chảy của thời gian lịch sử...

3. Tự luận
• 1 điểm

Từ hình ảnh sông Đuống của ngày xưa và ngày nay nói rõ xúc cảm của nhân vật trữ tình dành cho miền quê yêu dấu.

Xem đáp án

Sông Đuống ngày xưa là miền quê yên ả, thanh bình, trù phú... Sông Đuống hôm nay là ranh giới chia lìa giữa quá khứ và hiện tại, giữa bình yên và chiến tranh. Sông Đuống là niềm hướng vọng đau đáu thiết tha trong tâm khảm đứa con xa quê... Sông Đuống gợi thức niềm yêu tha thiết và nỗi đau quặn thắt...

4. Tự luận
• 1 điểm
Vì sao những dòng thơ viết về quê hương lại mở đầu bằng lời tâm tình với nhân vật "em"?
Xem đáp án

"Em" là một nhân vật phiếm chỉ, một thủ pháp trữ tình để nhà thơ tâm sự sẻ chia.

Đó một nhân vật vừa hữu hình vừa vô hình để lắng nghe dòng cảm xúc miên man

bất tận ngân lên từ cõi lòng thi sĩ.

Đoạn văn

Viên thẩm phán dỗ dỗ đầu bút xuống mặt giấy như thể gõ nhịp:

- Chị đã nghe rõ ý kiến của anh Sài chưa?

- Tôi nghe rõ rồi ạ.

- Chị có ý kiến gì về tài sản và con cái.

- Về tài sản, tuỳ toà quyết định như thế nào tôi cũng xin chấp hành. Riêng phần con: Cháu Giang Minh Thuỳ không phải là con của Sài.

- Chị có chứng cớ.

- Chứng cớ là tính từ ngày chúng tôi đi lại với nhau đến khi sinh cháu có bảy tháng ba ngày.

- Chị sinh cháu thứ hai cũng không được đủ tháng.

- Vâng, nhưng cháu Thuỳ nặng 3,2 Kg không có biểu hiện gì của sự thiếu tháng.

- Đã bao giờ chị cho anh Sài biết chuyện này chưa?

- Chưa.

- Chị nói tiếp.

- Vâng. Nguyện vọng của tôi là anh Sài không được phép nuôi cháu Giang Minh Thuỳ.

- Nhưng chị cũng xác nhận anh ấy là người vất vả chịu khó nuôi con.

- Thưa toà. Vì không phải là dòng máu của mình, nhất là đến hôm nay anh Sài mới biết chuyện này, anh sẽ không đủ sức mà thương yêu, nuôi dưỡng một đứa trẻ không phải là con của mình.

Có những lúc Sài đã chạnh nghĩ đến nó nhưng không bao giờ ngờ tới những lời của Châu như lúc này. Đầu óc anh choáng váng, mắt vẫn nhìn lên mà không còn thấy gì, không nghe được Châu nói tiếp những gì. Trong anh chỉ còn những hình ảnh con […], hàng tháng trời ngồi thâu đêm giữ kim và ôm con cho vợ ngủ. Những lời thông minh hóm hỉnh đầy tình cảm của nó: “Thuỳ thương bố nhất. Nhớn lên Thuỳ sẽ đi bán kem cho bố tha hồ ăn nhỉ”- “Sao mắt bố chảy nước? Bố khóc, Thùy buồn lắm”

[…]

Chiều hôm đó còn đồng nào trong túi Sài mua hết bánh kẹo cho các con. Anh bế và hôn lên khắp người mỗi đứa. Anh khoác chiếc ba lô có cái màn và mấy bộ quần áo nói với các con: “Bố đi công tác xa”. Rồi vội vã bước ra khỏi nhà. Với bộ mặt lạnh lẽo cay độc Châu vẫn nhìn anh như kẻ thù nhưng đến khi anh đi khỏi, hai đứa trẻ khóc oà chạy theo bố, cô cũng gục đầu xuống gối nức nở. Cho đến khi hai con chạy vào mỗi đứa một bên mếu máo lay gọi mẹ thì những ngừơi ở khu tập thể đã đứng đầy phía ngoài. Nhìn qua khe cửa thấy cảnh ba mẹ con kêu khóc trên một chiếc giường, nước mắt ai cũng muốn rào ra, ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai, cô gái rằng: Các người hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩn rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các người. Nhưng đừng có kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người.

(Lê Lựu, Thời xa vắng, NXB Văn học, 2022)

5. Tự luận
• 1 điểm
Điều gì xuất hiện trong ý nghĩ của Sài khi biết Thùy không phải là con trai mình?
Xem đáp án

Điều xuất hiện trong ý nghĩ của Sài khi biết Thùy không phải là con trai mình:

- Trong anh chỉ còn những hình ảnh con […], hàng tháng trời ngồi thâu đêm giữ kim và ôm con cho vợ ngủ.

- Những lời thông minh hóm hỉnh đầy tình cảm của nó “Thuỳ thương bố nhất. Nhớn lên Thuỳ sẽ đi bán kem cho bố tha hồ ăn nhỉ”- “Sao mắt bố chảy nước? Bố khóc, Thùy buồn lắm”

6. Tự luận
• 1 điểm

Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong đoạn văn bản sau:

“Nhìn qua khe cửa thấy cảnh ba mẹ con kêu khóc trên một chiếc giường, nước mắt ai cũng muốn rào ra, ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai, cô gái rằng: Các người hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩm rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các ngừơi. Nhưng đừng có kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người.”

Xem đáp án

Điểm nhìn của người kể chuyện trong đoạn văn bản: Điểm nhìn bên ngoài của những người hàng xóm/cả thiên hạ/người đời.

7. Tự luận
• 1 điểm

Qua sự chuyển biến tâm lí, hành động của Sài trong đoạn văn bản trên, anh/chị thấy Sài là người như thế nào?

Xem đáp án

- Chuyển biến tâm lí, hành động của Sài:

+ Khi ở trên tòa nghe vợ thừa nhận Thùy không phải con trai mình: Trong tâm trí hiện ra những hình ảnh Sài chăm sóc vợ con và con thì quấn quýt yêu thương bố.

+ Khi quyết chọn li hôn: Mua kẹo cho con và dứt khoát ra đi.

- Nhận xét:

+ Sài là người tràn đầy tình yêu thương đối với con, dù trong thâm tâm anh đã có nghi ngờ vợ.

+ Anh luôn mang trong mình lòng tự trọng của một người lính.

+ Sài không cay cú, tức tối, hận thù; dù li hôn nhưng không muốn gây thương tổn cho con.

+ Anh cao thượng, vị tha, sẵn sàng chấp nhận những đau đớn, thiệt thòi, hi sinh,...

8. Tự luận
• 1 điểm
Nhận xét của anh/chị về sự chuyển biến trong lời kể ở đoạn văn bản trên.
Xem đáp án

Nhận xét về sự chuyển biến trong lời kể ở đoạn văn bản trên.

- Sự chuyển biến trong lời kể ở đoạn văn bản trên:

+ Phần đầu đoạn văn bản chủ yếu là đối thoại trực tiếp.

+ Phần tiếp theo là những suy nghĩ của Sài, tác giả viết bằng lời nửa trực tiếp.

+ Phần cuối đoạn văn bản, tác giả kể bằng lời người kể chuyện, có đan cài thêm lời nhại.

- Nhận xét: Lời kể linh hoạt, tạo sự sinh động, hấp dẫn lôi cuốn khiến cho câu chuyện thêm gần gũi và trở nên chân thật, khách quan, tác động sâu sắc đến độc giả.

9. Tự luận
• 1 điểm

Hình ảnh hai đứa trẻ khi phải chứng kiến cảnh bố mẹ li hôn trong văn bản gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?

Xem đáp án

- Hình ảnh hai đứa trẻ khi phải chứng kiến cảnh bố mẹ li hôn: hai đứa trẻ khóc oà chạy theo bố, chạy vào mỗi đứa một bên mếu máo lay gọi mẹ

- Hình ảnh hai đứa trẻ khi phải chứng kiến cảnh bố mẹ li hôn, gợi lên những trăn trở, băn khoăn, day dứt:

+ Là những đứa trẻ, đáng ra chúng phải được nhận yêu thương của cả cha lẫn mẹ.

+ Chúng ngây thơ không thể hiểu được lí do người lớn rời xa nhau, nhưng chính chúng phải chịu những thiệt thòi, tổn thương.

+ Chúng sẽ phải lớn lên trong sự thiếu thốn đặc biệt về mặt tình cảm mà không có bất kì phương thuốc nào có thể xoa dịu,...

Đoạn văn

ĐI ĐƯỜNG (*)

(Tẩu lộ - Hồ Chí Minh)

Phiên âm:

Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan

Trùng san chi ngoại hựu trùng san

Trùng san đăng đáo cao phong hậu

Vạn lý dư đồ cố miện gian.

Dịch nghĩa:

Có đi đường mới biết đường đi khó,

Hết lớp núi này lại tiếp đến lớp núi khác;

Khi đã vượt các lớp núi lên đến đỉnh cao chót,

Thì muôn dặm nước non thu cả vào tầm mắt.

Dịch thơ:

Đi đường mới biết gian lao,

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng;

Núi cao lên đến tận cùng,

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

(Hồ Chí Minh, Nhật kí trong tù, NXB trẻ, 2020)

(*) Tác phẩm được rút ra từ tập Nhật kí trong tù (1942 – 1943) của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày bị giam ở nhà tù Tưởng Giới Thạch, Bác Hồ đã bị áp giải qua nhiều nhà lao. Và cuộc hành trình chuyển giao đầy gian nan được Hồ Chí Minh khắc họa chân thực qua bài thơ Đi đường (Tẩu Lộ).

10. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Xác định thể thơ của Đi đường căn cứ vào:

Bản phiên âm.

Bản dịch nghĩa.

Bản dịch thơ.

Bản gốc tiếng Hán.

Xem đáp án

A. Bản phiên âm.

11. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Bài thơ diễn tả cảm xúc của ai? Ở thời điểm nào?

Của Hồ Chí Minh - người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.

Của thi sĩ yêu thiên nhiên, trên đường luyện tập.

Của thi sĩ yêu thiên nhiên, đang ngắm cảnh.

Của chiến sĩ trên hành trình cách mạng.

Xem đáp án

A. Của Hồ Chí Minh- người tù cách mạng, trên đường chuyển lao.

12. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Xác định ngắt nhịp của dòng thơ thứ 2 trên bản dịch thơ?

Nhịp 2/2/4.

Nhịp 2/4/2.

Nhịp 4/4.

Nhịp phá cách

Xem đáp án

B. Nhịp 2/4/2.

13. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Cách gieo vần nào được sử dụng nhiều nhất trong bản dịch thơ

Vần lưng.

Vần cách.

Vần liền.

Linh hoạt, đa dạng.

Xem đáp án

C. Vần liền

14. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Câu thơ nào dịch chưa sát nghĩa so với bản phiên âm, dịch nghĩa

Đi đường mới biết gian lao.

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.

Núi cao lên đến tận cùng.

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.

Xem đáp án

A. Đi đường mới biết gian lao

15. Trắc nghiệm
• 1 điểm
 Dòng thơ thứ mấy gợi mở về nguyên nhân dẫn đến cảm xúc chính của bài thơ

Dòng thứ nhất.

Dòng thứ hai.

Dòng thứ ba.

Dòng thứ tư.

Xem đáp án

C. Dòng thứ ba.

16. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu thơ đầu tiên cho độc giả nhận thức về điều gì?

Những chặng đường dài cứ nối tiếp nhau, không thấy đích đến

Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.

Chỉ có người đã đi đường dài mới thấu hiểu những khó khăn, gian khổ

Sẽ gặp khó khăn chồng chất trên đường dài

Xem đáp án

B. Phải trải qua thực tiễn mới hiểu được khó khăn.

17. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Dòng thơ “Hết lớp núi này lại đến lớp núi khác” có chức năng nào trong bài thơ tứ tuyệt?

Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ

Có chức năng mở bài, gợi mở ý thơ

Kết hợp với câu chuyển làm cô đúc ý thơ, thể hiện nỗi niềm của tác giả

Gợi mở về bản chất, nguyên nhân của sự vật, hiện tượng được phản ánh

Xem đáp án

A. Nối tiếp câu khởi để làm trọn vẹn ý thơ.

18. Tự luận
• 1 điểm

Cảm xúc ở câu thơ đầu và câu thơ cuối khác nhau như thế nào? Hãy phân tích sự vận động mạch cảm xúc của bài thơ.

Xem đáp án

- Câu thơ đầu: Đi đường mới biết gian lao gợi lên hình ảnh người đi đường đối mặt với khó khăn thử thách và đã rút ra quy luật, nhận định thấm thía sâu sắc. trải qua thực tiễn mới thấu hiểu khó khăn → cảm xúc dường như được nén chặt giấu kín,...

- Câu cuối: Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non - với nhịp thơ 4/4 và không gian rộng mở, hình ảnh thơ tươi sáng chở theo dòng cảm xúc tự do sảng khoái từ dáng vẻ hiên ngang, ngạo nghễ của người vượt qua khó khăn thử thách để dạo chơi nhàn tản giữa non nước mây trời.

- Mạch cảm xúc của bài thơ vận động từ: từ nén chặt, giấu kín,... dần mở ra theo hành trình chinh phục con đường,... Câu thơ thứ 3 dường như là một sự reo vui khi đã vượt qua được hàng ngàn núi để lên được tới đỉnh núi cao nhất, tận cùng nhất. Khi lên đến đỉnh núi cao rồi, cũng là lúc con người ta có thể phóng tầm mắt bao quát và chiếm lĩnh cả một khoảng không bao la, như làm chủ vũ trụ, đất trời tự do, tự tại.

19. Tự luận
• 1 điểm
Em rút ra bài học nào cho bản thân từ bài thơ Đi đường của tác giả Hồ Chí Minh?
Xem đáp án

- Hs tự trả lời theo nhận thức của cá nhân

- Gợi ý: Bám sát nội dung của câu thơ thứ nhất và kết quả mà nhân vật trữ tình có được ở câu thơ cuối để hiểu về điều kiện con người được hưởng cảm xúc tự do, tự tại… Hành trình đi đường của nhân vật trữ tình sẽ là bài học quý cho bạn đọc.

Đoạn văn

NHÃ NHẠC CUNG ĐÌNH HUẾ THĂNG HOA CÙNG THỜI GIAN

TTXVN - Năm 2023 đánh dấu chặng đường 20 năm Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO ghi danh vào danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Suốt chặng đường đó, chính quyền tỉnh Thừa Thiên - Huế cùng những người làm công tác văn hóa, đặc biệt là các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhạc công Nhã nhạc cung đình Huế đã không ngừng nghỉ bảo tồn, phát huy di sản.

Chặng đường di sản

Media VietJack

Chương trình nghệ thuật với chủ đề “Di sản Cố đô, Ký ức và Trao truyền”.

(Ảnh: Đỗ Trưởng/TTXVN)

Khác với ca trù phát sinh từ dân gian rồi vào cung đình, Nhã nhạc có quá trình hình thành, lan tỏa trái ngược và được UNESCO đánh giá là loại hình âm nhạc duy nhất đạt tới tầm vóc quốc gia trong các thể loại nhạc cổ truyền.

Nhã nhạc cung đình xuất hiện vào những năm đầu của triều Lý (1010 - 1225). Tuy nhiên, phải đến thời Nguyễn (1802 - 1945), loại hình âm nhạc này mới thực sự phát triển rực rỡ. Âm nhạc của Nhã nhạc cung đình tao nhã, thiêng liêng thường dùng trình diễn trong các dịp đại lễ trang nghiêm của triều đình, cúng tế thần linh và không thể thiếu dưới triều đại bấy giờ. Từ đây, Nhã nhạc gắn liền với cung đình Huế và phát triển theo mô thức quy phạm đúng chuẩn, bài bản với hàng trăm nhạc chương. Sau khi nhà Nguyễn cáo chung vào năm 1945, Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.

Từ năm 1992, công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến. Năm 1994, UNESCO tổ chức Hội nghị quốc tế các chuyên gia về di sản văn hóa phi vật thể tại Thừa Thiên - Huế. Tại đây, một chương trình quốc gia khôi phục và nghiên cứu Nhã nhạc cung đình Huế được đệ trình UNESCO. Trên cơ sở đó, Bộ Văn hóa và Thông tin cùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã giao Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế - Nhạc Cung đình Việt Nam đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của thế giới.

Giáo sư Trần Văn Khê là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế (âm nhạc cung đình Việt Nam) đệ trình UNESCO công nhận là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Không chỉ góp phần hoàn thiện bộ hồ sơ đệ trình, sinh thời, giáo sư còn ghi dấu khi trực tiếp giới thiệu, chơi nhạc cụ truyền thống trước các bạn bè quốc tế.

Ngày 7/11/2003, Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại (từ năm 2008 gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại) và là di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Từ đây, Việt Nam có chương trình hành động quốc gia nhằm bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị loại hình âm nhạc này.

(https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/nha-nhac-cung-dinh-hue-thang-hoa-cung-thoi-gian/20037.html)

20. Tự luận
• 1 điểm

Theo tác giả, ai là người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế đệ trình UNESCO?

Xem đáp án

Người đã có nhiều đóng góp trong việc đưa Nhã nhạc cung đình Huế đệ trình UNESCO: Giáo sư Trần Văn Khê.

21. Tự luận
• 1 điểm
Xác định kiểu văn bản và phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản.
Xem đáp án

- Kiểu loại văn bản: Văn bản thông tin

- Phương thức biểu đạt chính: Thuyết minh

22. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của các yếu tố hình thức trong văn bản trên.

Xem đáp án

- Nhan đề: Nhã nhạc cung đình Huế thăng hoa cùng thời gian

+ Góp làm nổi bật nội dung chính, giúp người đọc có cơ sở định hướng, tiếp nhận nội dung của VB

- Hình ảnh: Biểu diễn Nhã nhạc cung đình

+ Minh hoạ trực quan

+ Làm cho thông tin của VB trở nên cụ thể, rõ ràng, sinh động, dễ hiểu, dễ hình dung hơn với người đọc

- Chú thích bên dưới hình ảnh: Biểu diễn Nhã nhạc cung đình tại nhà hát Duyệt Thị Đường, Đại Nội Huế. Ảnh: Tường Vi/TTXVN

+ Bổ sung thông tin cho hình ảnh.

23. Tự luận
• 1 điểm

Xác định cách trình bày dữ liệu, thông tin của văn bản. Chỉ ra hiệu quả của cách trình bày ấy.

Xem đáp án

- Dữ liệu, thông tin của văn bản được trình bày theo trình tự thời gian:

+ 1010 - 1225: Nhã nhạc cung đình Huế xuất hiện

+ 1802 - 1945: Nhã nhạc cung đình Huế phát triển rực rỡ

+ 1945: Nhã nhạc cung đình Huế đứng trước nguy cơ mai một, thất truyền.

+ 1992: Công tác bảo tồn Nhã nhạc cung đình được triển khai và dần được thế giới biết đến.

+ 1994: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế lập hồ sơ ứng cử cấp quốc gia Nhã nhạc Huế đệ trình UNESCO.

+ 7/11/2003, Nhã nhạc cung đình Huế được UNESCO vinh danh là Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.

+ 2008: Nhã nhạc cung đình Huế được gọi là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

- Hiệu quả: Làm rõ được quá trình hình thành, phát triển và trở thành Di sản văn hóa của Nhã nhạc cung đình Huế. Tăng tính khách quan, tin cậy cho văn bản.

24. Tự luận
• 1 điểm

Em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Nhã nhạc cung đình Huế trước bối cảnh văn hóa hội nhập. Đề xuất hai giải pháp cụ thể góp phần bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa này.

Xem đáp án

- Học sinh trình bày quan điểm cá nhân

- Đề xuất hai giải pháp

+ Đẩy mạnh công tác truyền thông: qua sách, báo, mạng xã hội....

+ Có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với các nghệ nhân nhằm khuyến khích việc truyền nghề lại cho các thế hệ kế tiếp.

Đoạn văn

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng nằm ở trung tâm Trung Trung Bộ của Việt Nam, phía Tây Nam sông Gianh; phía Tây và Tây Nam giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào; phía Bắc giáp xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa; phía Đông và Đông Nam giáp xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Vườn Quốc gia có chung ranh giới với Khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Media VietJack

Hình ảnh: Động Phong Nha (Phong Nha- Kẻ Bàng)

Dãy núi đá vôi Kẻ Bàng là hoang mạc đá vôi lớn nhất thế giới. Đó là kết quả tiến hóa tự nhiên cách đây gần 400 triệu năm. Quá trình tạo sơn phức tạp đã tạo cho Phong Nha - Kẻ Bàng địa thế hiểm trở, ẩn chứa một quần thể hang động kì vĩ, những tượng thạch nhũ đẹp nhất và những dòng sông tối ngầm dài nhất thế giới. […]

Hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng thuộc loại cổ nhất Đông Nam Á, được hình thành do các đứt gãy kiến tạo trong kỷ Đệ Tam (35 triệu năm), đồng thời với pha tách giãn hình thành Biển Đông. Hệ thống hang động ở đây được phát triển trên một khối đá vôi lớn nhất Đông Nam Á, từ kỷ Devon muộn (377 triệu năm) đến kỷ Permi (250 triệu năm). Bao quanh khối đá vôi là các tầng địa hình phi carbonat, là điều kiện thu nước tốt cho khối đá vôi hình thành hang động, đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trong khu vực. Có 2 hệ thống hang chính: hang Phong Nha, với tổng chiều dài 5.076m; hang Vòm, với tổng chiều dài 36.063m, hầu hết còn mang tính nguyên sơ.

[...] Phong Nha-Kẻ Bàng chứa đựng tính đa dạng của các hệ sinh thái tự nhiên, bao gồm rừng trên núi đá vôi, rừng trên núi đất và vùng chuyển tiếp, sông suối, hang động và các hệ sinh thái thứ sinh.

Phong Nha-Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên Trái đất, đó là rừng nhiệt đới thường xanh, chủ yếu là cây lá kim, dưới tán là các loài “lan hài vệ nữ”, phân bố trên núi đá vôi, ở độ cao hơn 700m - 1000m và có 15 kiểu rừng, đặc biệt là kiểu rừng thường xanh trên núi đá vôi, có tầm quan trọng quốc tế. Những giá trị nổi bật trong quá trình phát triển về địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học và giúp Phong Nha - Kẻ Bàng trở thành một trong 200 trung tâm có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học trên thế giới. Phong Nha và Kẻ Bàng được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế đánh giá là 2 trong số 60 vùng chim quan trọng của Việt Nam.

Đến nay, đã xác định sự có mặt của 2.651 loài thực vật bậc cao có mạch, 735 loài động vật có xương sống, 369 loài côn trùng trong khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Trong đó, 116 loài thực vật và 129 loài động vật được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Có tới 28 loài động, thực vật có giá trị kinh tế và khoa học cao đang bị đe dọa nguy cấp ở mức toàn cầu, như voọc Hà Tĩnh, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, hổ, sao la, sóc bay đen trắng, chó sói, gà lôi, rùa...

Sự đa dạng sinh cảnh ở đây là điều kiện lý tưởng cho 9/21 loài linh trưởng (chiếm 43% của Việt Nam) sinh sống. Có 3 loài linh trưởng đặc hữu của dãy Trường Sơn là voọc Hà Tĩnh, voọc vá chân nâu, vượn bạc má. Khu hệ dơi với 46 loài (chiếm 43% tổng số loài của Việt Nam) ở đây, được xem là đa dạng nhất cả nước, đồng thời là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi.

[…] Tháng 7 năm 2003, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. […]

Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một di tích và danh thắng hội tụ được nhiều giá trị nổi bật. Chính những giá trị này đã mang lại cho Phong Nha - Kẻ Bàng một sự hấp dẫn đặc biệt riêng. […]

(Theo Hoàng Phúc, Hồ sơ xếp hạng di tích, tư liệu Cục Di sản văn hóa)

25. Tự luận
• 1 điểm

Xác định mục đích và quan điểm của người viết.

Xem đáp án

- Mục đích: Giới thiệu, cung cấp thông tin về những đặc điểm quan trọng, nổi bật của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, một di sản thiên nhiên thế giới hội tụ nhiều giá trị nổi bật, từ đó tác động đến nhận thức của người đọc về đối tượng được đề cập đến.

- Quan điểm: Phản ánh khách quan, chuẩn xác về những đặc điểm quan trọng, nổi bật của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng , đồng thời thể hiện niềm tự hào, trân trọng, gìn giữ di sản thiên nhiên động Phong Nha.

26. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra từ được viết tắt cho một tổ chức quốc tế quan trọng trong văn bản, và cho biết người viết đã dùng tên viết tắt của tổ chức quốc tế nào?

Xem đáp án

- Từ được viết tắt cho một tổ chức quốc tế quan trọng là: UNESCO

- UNESCO là tên viết tắt của tổ chức quốc tế: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc 

27. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về vai trò của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản?

Xem đáp án

+ Phương tiện phi ngôn ngữ: Hình ảnh

 Tác dụng: góp phần thể hiện rõ nội dung chính, giúp người đọc có cái nhìn cụ thể và trực quan, sinh động hơn về vẻ đẹp hoang sơ của động Phong Nha.

28. Tự luận
• 1 điểm

Phân tích tác dụng của cách trình bày thông tin văn bản trong phần văn bản sau: “Phong Nha-Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên trái đất... là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi”?

Xem đáp án

- Phần văn bản sau: “Phong Nha - Kẻ Bàng có kiểu rừng độc nhất trên trái đất... là tiềm năng lớn nhất Việt Nam và thế giới về bảo tồn các loài dơi”, người viết đã dùng trình bày thông tin theo cách phân loại đối tượng.

-  Văn bản trình bày đặc kiểu rừng độc nhất trên Trái đất điểm của Phong Nha - Kẻ Bàng đã tạo môi trường lý tưởng cho đa dạng sinh học trên hai khía cạnh chính là:

+ Về hệ thực vật, về động vật nói chung (tổng số loài, loài có giá trị) của rừng

+ Về những loài linh trưởng, linh trưởng đặc hữu của rừng

-> Tác dụng:

+ Giúp người đọc hình dung về tổng thể, vừa cung cấp những thông tin chi tiết cụ thể về sự đa dạng sinh học của đặc kiểu rừng độc nhất trên Trái đất ở Phong Nha - Kẻ Bàng

+ Điều đó làm cho thông tin cơ bản của phần VB (giá trị và đặc điểm độc đáo của Vườn quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng ) được trình bày đầy đủ, thuyết phục.

29. Tự luận
• 1 điểm

Qua văn bản, em rút ra cho mình những thông điệp gì? 

Xem đáp án

+ Em ý thức sâu sắc được những thái độ ứng xử cần có của con người với thiên nhiên: biết tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ, sống hòa hợp với thiên nhiên.

+ Chúng ta cần nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ sự đa dạng sinh học của các khu rừng vì đó là tài sản quốc gia.

+ Nhìn ra thiên nhiên, ta nhận ra sự kỳ diệu của cuộc sống và sức sống mãnh liệt của mọi hình thức tồn tại.

+ Con người là một phần của thiên nhiên, và sự chăm sóc và bảo vệ môi trường là cách chúng ta bảo vệ chính bản thân mình.

Đoạn văn

NHỮNG NGÔI SAO HÌNH QUANG GÁNH

Họ gánh về cho tôi mùa ổi mùa xoài mùa mận

Mùa sen mùa cốm trên vai

Cả nắng ban mai cả hoàng hôn tím

Ngày đi rưng rưng đôi dép lê

 

[...] Họ gánh về cổng tôi bao mùa trinh nguyên, những mùa

tôi sẽ quên nếu thiếu họ

Hương nhãn Hưng Yên vừa vào mùa, sen Tây Hồ vừa nở,

cốm làng Vòng vừa trăn trở những hạt xanh

Họ gánh tặng tôi ngọn gió mát lành đồng quê

Nơi mẹ và con và chồng họ đứng chờ

Nơi những cơn mơ

Vùng vằng khát

 

Tôi văng vẳng nghe họ hát

“Khó thời đòn gánh đè vai

Lần hồi nuôi mẹ mặc ai chê cười [1]”

 

Những ngôi sao của tôi

Gánh trên vai mình hẩm hiu số phận

Vô danh giữa đời thường

Dẫu đôi lúc đặt vào mắt tôi bao tia nhìn mang hình dấu hỏi.

(Trích Những ngôi sao hình quang gánh, Nguyễn Phan Quế Mai, NXB Hội nhà văn, 2011, tr.18)

Chú thích: Nguyễn Phan Quế Mai (1973), quê Ninh Bình. Các sáng tác của Nguyễn Phan Quế Mai đóng vai trò là cầu nối văn chương Việt Nam và thế giới, tiếng nói cho hòa bình, bình đẳng.

- Bài thơ Những ngôi sao hình quang gánh đạt giải nhất cuộc thi viết về Hà Nội.

30. Tự luận
• 1 điểm

Xác định chủ thể trữ tình của văn bản.

Xem đáp án

- Chủ thể trữ tình trực tiếp qua đại từ nhân xưng “Tôi”

31. Tự luận
• 1 điểm

Hình ảnh “những ngôi sao” ở khổ thơ cuối để chỉ ai? Nêu cảm hứng chủ đạo của văn bản trên.

Xem đáp án

 - Hình ảnh “những ngôi sao” ở khổ thơ cuối: chỉ những người bán hàng rong.

- Cảm hứng chủ đạo: Sự đồng cảm, biết ơn của tác giả đối với thân phận của những người gánh hàng rong.

32. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong khổ thơ sau:

Họ gánh về cổng tôi bao mùa trinh nguyên, những mùa

tôi sẽ quên nếu thiếu họ

Hương nhãn Hưng Yên vừa vào mùa, sen Tây Hồ vừa nở,

cốm làng Vòng vừa trăn trở những hạt xanh

Xem đáp án

- Biện pháp tu từ liệt kê: Hương nhãn Hưng Yên, sen Tây Hồ, cốm làng Vòng. Tác dụng: Diễn tả đầy đủ/ tạo nên sự phong phú, đa dạng về những thức quà mang hương vị quê hương trên đôi quang gánh. Tạo ấn tượng mạnh về hình ảnh và cảm xúc cho người đọc.

- Điệp từ “họ”: Nhấn mạnh sự trân trọng, biết ơn của tác giả dành cho những người gánh hàng rong. Tạo sự liên kết hài hòa, nhịp nhàng.

33. Tự luận
• 1 điểm

Nhận xét về cấu tứ của bài thơ (thể hiện qua cách triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong bài thơ).

Xem đáp án

- Cách triển khai mạch cảm xúc: Từ sự biết ơn, trân trọng những thức quà trên đôi quang gánh đến sự đồng cảm, thấu hiểu, suy tư, trăn trở về cuộc sống mưu sinh vất vả của những người gánh hàng rong.

- Cách tổ chức hình tượng trong bài thơ: Đi từ hình tượng đôi quang gánh với những thức quà bình dị, mang hương vị quê hương “ổi, xoài, mận, cốm, nắng ban mai, hoàng hôn tím, nhãn Hưng Yên, sen Tây Hồ, đồng quê...” đến hình tượng “những ngôi sao” - biểu tưởng cho cái đẹp của những số phận vô danh.

34. Tự luận
• 1 điểm

Từ nội dung văn bản, em có suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự cảm thông, thấu hiểu trong cuộc sống? (Trả lời khoảng 5 - 7 dòng)

Xem đáp án

- Gợi ý: Sự đồng cảm, thấu hiểu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống.

+ Khi biết đồng cảm, thấu hiểu ta sẽ biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của người khác từ đó giúp con người biết yêu thương và sống trách nhiệm với cộng đồng.

+ Giúp những người có hoàn cảnh khó khăn có thêm sức mạnh, niềm tin trong cuộc sống.

+ Tạo nên sự gắn kết giữa người và người, giúp xã hội ngày càng tốt đẹp, nhân văn hơn.

Đoạn văn

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói:

“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

(Trích Tuyên ngôn Độc lập – Hồ Chí Minh)

35. Tự luận
• 1 điểm
Nêu nội dung chính của đoạn văn?
Xem đáp án

Nội dung đoạn văn: Tác giả nêu cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản tuyên ngôn.

36. Tự luận
• 1 điểm
Trong đoạn văn tác giả đã sử dụng những thao tác lập luận nào?
Xem đáp án

Tác giả đã sử dụng trong đoạn văn các thao tác lập luận: bình luận, chứng minh

37. Tự luận
• 1 điểm
Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (1776) của Mĩ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1791) có ý nghĩa gì?
Xem đáp án

Ý nghĩa của việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn:

– Làm cơ sở tuyên bố độc lập dân tộc

– Dùng lí lẽ của chính đối thủ để bác bỏ luận điệu và hành động của chúng

– Thể hiện niềm tự hào dân tộc khi đặt Cách mạng tháng Tám ngang hàng với các cuộc Cách mạng của Pháp và Mĩ

38. Tự luận
• 1 điểm

Hãy chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật viết văn chính luận của Hồ Chí Minh được thể hiện trong đoạn văn.

Xem đáp án

Chỉ ra những đặc sắc của nghệ thuật viết văn chính luận được thể hiện trong đoạn văn:

– Lập luận chặt chẽ

– Lí lẽ sắc bén

– Ngôn ngữ xác đáng

– Giọng điệu hùng hồn

Đoạn văn

Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng ; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cám ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu và giúp đỡ cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

(Hồ Chí Minh, Di chúc, In trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia)

39. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra nội dung chính của đoạn trích trên.

Xem đáp án

Nội dung chính của đoạn trích là lời khẳng định chắc chắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thắng lợi hoàn toàn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và mong muốn, dự định của Người vào ngày trọng đại khi dân tộc ta giành chiến thắng.

40. Tự luận
• 1 điểm

Tác giả của đoạn trích hướng bài viết đến những đối tượng nào ? Tại sao anh (chị) nhận ra điều đó?

Xem đáp án

- Đoạn trích hướng tới đối tượng là toàn thể nhân dân Việt Nam, các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và bầu bạn khắp năm châu, những nước luôn ủng hộ và sát cánh với nước Việt Nam ta. Người đọc nhận ra điều đó vì Người đã nhắc đến các đối tượng này trong bài viết của mình, bài viết không hề gửi đến riêng một đối tượng nào. Cụ thể các từ trong đoạn trích thể hiện điều đó là: để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cám ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước bầu bạn khắp năm châu và giúp đỡ cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta.

- Đối với ý hỏi thứ hai, học sinh có thể trả lời như sau: Vì nội dung của bài viết nhằm tuyên bố những dự định của Hồ Chí Minh tới tất cả những đối tượng trên nên người đọc nhận ra những đối tượng mà Người hướng tới trong bài viết.

41. Tự luận
• 1 điểm

Chỉ ra và phân tích tác dụng của các phép liên kết trong đoạn trích trên?

Xem đáp án

Các phép liên kết:

- Phép liên tưởng: nhà văn sử dụng trường từ vựng về nhân dân: đồng bào, cán bộ, chiến sĩ anh hùng, cụ phụ lão,…

- Phép thế: “đó” dùng để thay thế cho “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.”

- Phép nối: “kế theo đó”

=> Giá trị của phép liên kết: Hướng nội dung của đoạn trích đến chủ đề là lời dự đoán của Bác về chiến thắng của dân tộc ta.

42. Tự luận
• 1 điểm

Tương lai mà Hồ Chí Minh dự đoán trong di chúc thể hiện vẻ đẹp nào của Người? Trong khoảng 5 – 7 dòng, thể hiện suy nghĩ của anh (chị) về vẻ đẹp đó.

Xem đáp án

Học sinh triển khai thành đoạn trong khoảng 5 – 7 dòng viết về vẻ đẹp của Bác, đó có thể là vẻ đẹp của lòng lạc quan, vẻ đẹp của lòng yêu nước sâu sắc, tùy học sinh cảm nhận.

43. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.

Xem đáp án

Đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, các bạn trẻ ai cũng mong muốn có một nghề nghiệp ổn định, trước hết là để kiếm sống, rồi để thể hiện năng lực, khẳng định vị trí của bản thân. Song, trước mắt kì thi Đại học, Cao đẳng, kì thi vào các trường dạy nghề đang đến gần, nhiều người vẫn đang băn khoăn lo nghĩ không biết nên chọn nghề như thế nào: Chọn nghề phù hợp với năng lực thực tế của bản thân, chọn nghề đang được ưa chuộng trong đời sống xã hội hay nhất quyết theo đuổi nghề bản thân thiết tha yêu thích?

Vấn đề này thật khó khăn đối với thế hệ chúng ta bởi tuổi trẻ còn thiếu kinh nghiệm, bồng bột, nông nổi để đưa ra quyết định thiếu chín chắn, làm phí đi nhiều thời gian, sức lực. Nghề nghiệp là vấn đề gắn bó lâu dài với đời sống mỗi cá nhân, chi cần chọn sai nghề ta sẽ phải trả giá.

Vậy phải lựa chọn nghề nghiệp như thế nào? Nghề nghiệp trước hết đòi hỏi con người phải có khả năng làm công việc đó. Tức là phải có hệ thống tri thức, kỹ năng kĩ xảo về công việc bạn lựa chọn. Có như vậy bạn mới làm việc có sản phẩm (vật chất hay phi vật chất). Hơn nữa, nghề nghiệp đòi hỏi sự ổn định. Bạn khó có thể nay làm nghề này mai làm nghề khác. Đặc biệt ngày nay, khi vấn đề chuyên môn hóa đang được chú trọng thì việc ổn định việc làm đi sâu tìm tòi, sáng tạo trong lao động càng được khuyến khích. Thay đổi việc làm, bạn sẽ bắt đầu lại những kiến thức mới, kĩ năng kĩ xảo mới, những quan hệ mới… Chừng ấy việc tiêu hao quá nhiều thời gian sức lực của bạn. Chưa kể những khả năng ấy sẽ giảm dần theo tuổi tác, bạn cũng sẽ lo có nhiều thời gian để lao động, hoặc lao động không có hiệu quả. Bên cạnh đó, tình cảm nghề nghiệp cũng là yếu tố quan trọng. Nó trở thành động lực để bạn say mê với việc làm của mình.

Như vậy, nếu chọn nghề dựa vào tiêu chí nghề nghiệp đang được ưa chuộng trong đời sống thì ta tưởng tượng xem? Ta biết rằng xã hội ngày nay đang vận động biến đổi không ngừng. Yêu cầu xã hội mỗi ngày mỗi khác. Mới cách đây khoảng hai chục năm, công nghiệp nặng còn thu hút sự tập trung khai thác của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì ngày nay xã hội đem thành quả và tiềm năng công nghệ thông tin, dịch vụ xã hội, khoa học công nghệ… làm tiêu chí đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia, khu vực. Nói như vậy để thấy được sự lựa chọn này quá mạo hiểm! Bạn có chắc rằng mình sẵn sàng thay đổi nghề nghiệp theo chu kì 20 năm, 15 năm, 10 năm,… hay thậm chí là 5 năm, 4 năm… không? Đó là chưa kể đến việc liệu bạn có khả năng hoàn thành tốt công việc đó? Bạn có thực sự say mê với lựa chọn của mình? Thực tế, không ít người chạy theo nhu cầu của xã hội, thay đổi công việc cho hợp với thời thế. Hậu quả là việc cũ chưa đem về lãi đã mất rất nhiều thời gian, sức lực, tiền bạc cho công việc mới. Mong bạn nhớ rằng: Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh!

Còn nếu bạn nhất quyết theo đuổi nghề mà mình thiết tha yêu thích thì phải tính đến năng lực của bản thân mình. Tình cảm nghề nghiệp là yếu tố không thể thiếu song năng lực lại là yếu tố cần cho mọi công việc. Bạn yêu thích thơ văn, bạn mong muốn trở thành nhà văn nhưng những gì bạn viết ra người đọc không thể hiểu; hay nó nhạt nhẽo vô vị. Khi ấy, bạn bị lạc lõng, bất lực bên bờ cát dài của con chữ. Bạn bế tắc hoàn toàn. Lựa chọn con đường này, bạn sa vào tình cảm “Lực bất tòng tâm” đau khổ vô cùng. Chẳng những đời sống kinh tế bị khốn cùng, mà tâm hồn bạn cùng bị chất vấn day dứt không yên. Lúc đó, tình yêu nghề nghiệp trở thành gánh nặng ghìm bước chân bạn trên đường đời.

Chốt lại mọi con đường, hướng lựa chọn nghề phù hợp với năng lực thực tế, hợp lí và khả thi hơn cả. Có năng lực, điều đó hứa hẹn thành công trong công việc của bạn. Cũng có nghĩa nó mở ra khả năng đạt mức cao trong đời sống vật chất. Hội tụ lại mọi điều, bạn được xã hội tôn vinh và trở thành người thành đạt. Một chút nhạy bén với thị trường, một chút khả năng tính toán, ngoại giao, quan hệ,… bấy nhiêu điều đủ tạo nên năng lực một nhà kinh doanh có tài. Năng động, sắc sảo, tinh tế, thẳng thắn cộng với khả năng “viết lách” và vốn sống phong phú – đó là những gì cần có ở một nhà báo tài ba,… Nhắc đến nghề nghiệp là nhắc đến công việc; nhắc đến công việc là nhắc đến khả năng làm việc. Vậy là gì nếu không phải là yếu tố năng lực khi lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai.

Cũng có thể nghề nghiệp bạn có khả năng không “thịnh hành” lắm trong xã hội. Giới sinh viên từng “lưu truyền” câu nói: Nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa, bỏ qua Sư phạm. Như vậy không có nghĩa xã hội không cần đến nghề của bạn cũng như cuộc sống không thể thiếu những người thầy. Quan trọng là bạn biết nỗ lực giành lấy những thành công trong lĩnh vực của mình. Xã hội có thể “bỏ qua” nhưng là bỏ những kẻ bất tài, kém chí. Thực tế, mỗi ngành nghề đóng một vai trò khác nhau trong đời sống, thiếu đi một trong số đó xã hội sẽ khủng hoảng rối loạn. Vậy bạn cần khẳng định mình là ai trong giới của mình.

Tình cảm là thứ không thể gò ép, bắt buộc. Song cũng cần nhìn nhận rằng bất cứ nghề nào cũng có cái hay, cái đẹp, cái cao quý riêng của mình. Chẳng có nghề nghiệp chân chính nào hèn kém cả. Bất cứ nghề nào ta bỏ ra mồ hôi, công sức, thì đều đáng trân trọng. Bỏ ra một chút thời gian để tìm hiểu về nghề ta sẽ thấy được vẻ đẹp và tầm quan trọng của nó. Từ đó sẽ nảy sinh tình cảm mến yêu quý trọng. Có ai không tự hào khi mình là giáo viên – là những kĩ sư tâm hồn đi gieo những mầm sống cho đời? Có ai không tự hào khi mình là người công nhân xây cầu, bắc những nhịp yêu thương, đi nối những bờ ánh sáng?… Và ai ai cũng tự hào khi mình lao động, kiếm sống bằng đôi bàn tay chân chính, bằng khối óc trong sạch của bản thân mình.

Cũng cần nói rằng, trong thực tế có rất nhiều bạn khi lựa chọn nghề nghiệp phải chịu những sức ép từ phía gia đình. Lại có bạn lựa chọn mà không hề suy nghĩ hay suy nghĩ viển vông, vượt quá tầm khả năng… Những điều ấy cũng chẳng khác gì lựa chọn theo yêu cầu của xã hội hay chạy theo ham muốn cá nhân. Chúng chỉ khiến ta thỏa mãn tâm lí trong một thời gian ngắn để rồi phải trả giá cả cuộc đời lao động của mình.

Công việc, nghề nghiệp cần được định hướng sớm để mỗi cá nhân có hướng chuẩn bị hành trang về tri thức, kỹ năng kĩ xảo. Đó là những yếu tố sẽ tạo nên những thành công bứt phá trong sự nghiệp mỗi con người. Lựa chọn nghề nghiệp cần dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa năng lực và sở thích trong đó năng lực đóng vai trò quyết định.

44. Tự luận
• 1 điểm

Viết báo cáo kết quả của bài tập dự án về một vấn đề xã hội.

Xem đáp án

Báo cáo tác động của việc sử dụng mạng xã hội đến tình hình học tập của học sinh trường em

Tóm tắt:

Hiện nay, mạng xã hội trở thành một phương tiện phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Sư phát triển của mạng xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của toàn xã hội, trong đó bao gồm cả học sinh. Qua mạng xã hội, các em tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, xong chưa có tính chọn lọc. Điều này dẫn đến một bộ phận học sinh hiểu sai, không đúng về một vấn đề nào đó. Việc nghiên cứu đề tài này, giúp chúng em có cái nhìn khách quan, toàn diện về nhiều khía cạnh để từ đó tìm kiếm những giải pháp phù hợp giúp học sinh tránh xa được các tác động xấu của mạng xã hội....

1. Đặt vấn đề

1.1. Mục đích

- Tìm hiểu về lượng thời gian sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

- Tìm hiểu về mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

- Tìm hiểu về những tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

- Tìm hiểu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

1.2. Nhiệm vụ

- Mô tả thực trạng sử dụng Facebook của học sinh (mục đích sử dụng, thời gian sử dụng, thời điểm sử dụng, tần suất sử dụng, phương tiện truy cập,…)

- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập của học sinh.

- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến đời sống của học sinh (các quan hệ xã hội).

1.3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tác động của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

Phạm vi nghiên cứu: 560 học sinh.

Thời gian: Tháng 11 – Tháng 12 năm 2012.

1.4. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Phương pháp đối chiếu so sánh

Phương pháp tổng hợp, hệ thống

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Vai trò, vị trí của mạng Facebook trong đời sống con người.

Facebook thật sự đã mang lại cho chúng tôi nhiều trải nghiệm thú vị và hứng thú. Facebook là nơi chúng tôi có thể chia sẻ, cập nhật thông tin, hình ảnh, tán gẫu cùng bạn bè và tham gia vào các ứng dụng giải trí. Vì thế, chúng tôi dành khá nhiều thời gian truy cập Facebook mỗi khi mở chiếc máy tính của mình. Nhiều lúc, chúng tôi cảm giác khó chịu khi đường truyền internet chặn Facebook vì một lý do nào đó. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng, bản thân chúng tôi ít nhiều bị sự thu hút từ mạng xã hội Facebook làm tác động và một số bạn khác cũng như vậy.

Vì thế, với tư cách là những cá nhân trực tiếp tham gia và đồng thời cũng là học sinh, chúng tôi xin nghiên cứu vấn đề này để hiểu rõ hơn về mạng xã hội Facebook mà chúng tôi đang sử dụng, tìm hiểu những tác động tích cực, tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh để từ đó điều chỉnh cách sử dụng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao các tác động tích cực đối với học sinh.

2.2. Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh

Kết quả khảo sát cũng đã phản ánh tỉ lệ cao học sinh tham gia sử dụng mạng xã hội Facebook và hầu như bất kì một bạn nào cũng có riêng ít nhất 1 tài khoản Facebook để tham gia chia sẻ, cập nhật thông tin, hình ảnh và giao lưu kết bạn. Về mức độ thời gian tham gia sử dụng Facebook thì đa số các bạn đã sử dụng Facebook trên 1 năm (481/541 bạn, chiếm 88,9%). Qua đó, phản ánh sự gắn bó lâu dài của các bạn học sinh đối với Facebook. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, mạng xã hội Facebook có nhiều tác động tiêu cực dễ gây ảnh hưởng đến người tham gia sử dụng.

2.3. Mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

2.3.1. Chia sẻ, cập nhật thông tin và hình ảnh:

Đây có thể coi là mục đích chính học sinh khi sử dụng Facebook vì chiếm đến 74,6% kết quả khảo sát. Phần lớn học sinh sử dụng Facebook thay thế cho nhật ký truyền thống, với tính năng lưu trữ trực tuyến.

2.2 Giao lưu, kết nối bạn bè:

Facebook là một không gian giao tiếp công cộng trực tuyến tạo liên kết dễ dàng, thuận tiện, nhanh nhất giữa con người với nhau thông qua nhiều hình thức liên kết rộng rãi chứ không bị giới hạn không gian.

2.3. Giải trí:

Với hơn 500 nghìn ứng dụng giải trí hay, đa dạng và được đánh giá cao dành cho người sử dụng như: Games, Poke, Calendar, Youtube, Free Messenger... Facebook được các bạn học sinh lựa chọn như một nơi để giải tỏa căng thẳng sau những giờ học mệt mỏi. Họ có thể chơi game, trò chuyện với gia đình, người thân, bạn bè.

2.4 Những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh

2.4.1 Những tác động tích cực

Thông qua Facebook, các bạn đã có nơi để thể hiện mình và chia sẻ những điều khó nói cùng bạn bè. Facebook tạo cho phần đông nhóm đối tượng khảo sát sự thoải mái về tinh thần khi được chia sẻ những suy nghĩ về cuộc sống cá nhân hay các vấn đề xã hội. Facebook còn là một công cụ hữu hiệu để thể hiện cá tính bản thân.

2.4.2 Những tác động tiêu cực

Sử dụng Facebook một cách thường xuyên (bất kì thời gian nào trong ngày, chiếm 34,9%). Tác động tiêu cực lớn nhất mà nhóm đối tượng khảo sát cho thấy đó là việc tốn thời gian (chiếm 52,4%). Khoảng thời gian sử dụng Facebook mỗi ngày từ 1 - 3 giờ đồng hồ và trên 3 tiếng đồng hồ chiếm đa số câu trả lời trong cuộc khảo sát (41,3% và 30,2%). Bên cạnh đó, sinh viên khoa PR nhận thức được những tác động tiêu cực đến tâm lý, sinh lý của bản thân do việc lạm dụng Facebook như: nghiện Facebook dễ gây béo phì, ảnh hưởng đến thời gian, sức khỏe, công việc học tập và dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu... Ngoài ra, cũng có một bộ phận nhỏ các sinh viên không biết mục đích sử dụng Facebook là gì?. Tuy nhiên, vì sự rủ rê của bạn bè nên họ cũng tạo tài khoản để bắt kịp xu hướng. Ngoài ra, 15,9% cho là Facebook không có bất kì ảnh hưởng tiêu cực nào đến bản thân đối tượng được khảo sát

2.5 Các biện pháp nâng cao ảnh hưởng tích cực của mạng Facebook đối với học sinh

2.5.1. Biện pháp từ cá nhân.

- Mỗi cá nhân hãy tự hỏi xem bạn sử dụng Facebook để làm gì hay lí do đầu tiên để bạn quyết định đăng kí một tài khoản Facebook là gì?

Tự hoạch định cho bản thân khung thời gian hợp lí, cân bằng được giữa công việc, học tập và giải trí. Chỉ dành thời gian cho Facebook khi bạn thật sự rãnh rỗi hay muốn giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi.

Mọi tác động của Facebook nảy sinh ra đều do ý thức của người sử dụng, nếu ý thức không tốt sẽ dẫn đến những hành vi xấu. Vì thế, trước khi chia sẻ bất cứ nội dung gì lên Facebook, mỗi cá nhân phải xem xét nó có hại gì cho ai hay không, đừng chỉ nghĩ đến lợi ích bản thân mà làm ảnh hưởng đến người khác. Và đặc biệt, các bạn sinh viên phải có thái độ nghiêm túc trước mọi vấn đề.

2.5.2. Biện pháp từ cộng đồng.

Nhà trường, gia đình cần có sự hướng dẫn, tư vấn, định hướng cho học sinh về việc sử dụng mạng xã hội Facebook một cách có ít, mang lại hiệu quả tốt và ý thức được những nguy cơ tiềm ẩn của việc chia sẻ thông tin cá nhân lên Facebook.

Các nhà quản lý các cấp, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương nên tạo sân chơi giải trí lành mạnh; giáo dục, tuyên truyền về những tác hại từ việc sự dụng mạng xã hội Facebook không đúng cách. Từ đó, hướng các bạn không nên quá lệ thuộc vào mạng xã hội Facebook, giúp cho học sinh xây dựng nhiều mối quan hệ trong xã hội để trau dồi những kĩ năng giao tiếp, ứng xử.

Ngoài ra, xã hội cũng cần có những định hướng và giúp đỡ giới trẻ, đặc biệt là các bạn học sinh tham gia vào các hoạt động thực tế, có ích cho bản thân và cộng đồng. Việc đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, nâng cao tầm nhận thức của học sinh về các vấn đề chính trị, xã hội sẽ từng bước giúp học sinh có được bản lĩnh vững vàng xử lý được những thông tin tiếp cận từ nhiều chiều khác nhau

3. Kết luận

Mạng xã hội Facebook căn bản là một phần của xã hội ngày nay. Nó đã, đang và sẽ mang đến cho cuộc sống của con người ngày càng nhiều những tiện ích thú vị, tương tác cao cũng như sự tối đa hóa các chức năng. Tuy nhiên, mạng xã hội Facebook cũng là nơi dấy lên những tiêu cực khiến nhiều người lo lắng. Và chúng ta không thể đổ lỗi hoàn toàn cho mạng xã hội Facebook. Bởi lẽ, nó đơn giản chỉ là một công cụ, một phương tiện được tạo ra để gắn kết mọi người trên toàn Thế giới. Nhưng chính những người tham gia, sử dụng lại không hiểu đúng mục đích đó nên đã sà đà và lạm dụng quá mức dẫn đến gây ra những sự việc không mong muốn. Tất cả là do hành vi và sự nhận thức ở cá nhân người tham gia sử dụng mạng xã hội Facebook.

Vì thế, mỗi học sinh nên hiểu rõ những biện pháp từ bản thân và cộng đồng để tham gia vào mạng xã hội Facebook một cách tích cực nhất. Điều này sẽ giúp cho mỗi cá nhân nhận thấy Facebook hữu ích hơn và có thể kiểm soát tốt những hoạt động “không tên” trên mạng xã hội Facebook. Ngoài ra, mỗi cá nhân nên thể hiện trách nhiệm trong việc nâng cao tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với cộng đồng mạng.

Tài liệu tham khảo

1. Bài viết: “Nghiện” Facebook: Thực trạng đáng báo động ở giới trẻ! – Tác giả: TC

2. Bài viết: Ảnh hưởng của mạng xã hội đến thanh thiếu niên trong thời đại đa truyền thông. – Tác giả: Lê Thị Dung – Mai Thanh Thảo.

3. Bài viết: 10 tác động của Facebook đến cuộc sống mọi người – Tác giả: Bảo Bình/ Theo PCW

4. Bài viết: Báo động “văn hóa mạng xã hội” trong giới trẻ. Tác giả: Nguyễn Hoàng

5. Bài viết: Nhận diện những tác động tiêu cực của internet đối với giới trẻ.

45. Tự luận
• 1 điểm

Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc một hoạt động xã hội.

Xem đáp án

Bài phát biểu trong lễ phát động phong trào bảo vệ môi trường:

Kính thưa quý vị đại biểu, quý thầy cô giáo và các bạn học sinh thân mến,

Hôm nay, chúng ta tụ họp tại đây để phát động một phong trào hết sức ý nghĩa và cấp bách: Phong trào bảo vệ môi trường. Trước hết, cho phép tôi được gửi lời chào trân trọng và cảm ơn chân thành đến tất cả quý vị đã dành thời gian quý báu tham gia sự kiện này.

Như chúng ta đều biết, môi trường đang phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng: biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất đai bị suy thoái. Những thảm họa môi trường này không chỉ ảnh hưởng đến hệ sinh thái, mà còn trực tiếp đe dọa sức khỏe và cuộc sống của chúng ta. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người trong chúng ta cần hành động ngay hôm nay, không phải vì ai khác, mà vì chính tương lai của chúng ta và các thế hệ mai sau.

Phong trào bảo vệ môi trường không chỉ là một hoạt động ngắn hạn, mà là một cuộc hành trình dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực của tất cả mọi người. Mỗi hành động nhỏ của chúng ta, từ việc tiết kiệm nước, hạn chế sử dụng nhựa, trồng cây xanh, đến việc phân loại rác thải đúng cách, đều góp phần làm sạch môi trường sống của chúng ta.

Chúng tôi kêu gọi tất cả mọi người, từ các em học sinh, thầy cô giáo, đến các bậc phụ huynh và toàn thể cộng đồng, hãy cùng nhau tham gia phong trào này. Hãy bắt đầu từ những việc làm nhỏ nhất, nhưng có ý nghĩa to lớn. Hãy lan tỏa thông điệp bảo vệ môi trường đến tất cả mọi người xung quanh, để mỗi người đều ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường.

Chúng ta cùng nhau cam kết sẽ thực hiện và duy trì các hoạt động bảo vệ môi trường, không chỉ trong khuôn khổ của phong trào này, mà còn trong cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta. Hãy cùng nhau xây dựng một tương lai xanh, sạch và bền vững.

Một lần nữa, xin cảm ơn sự hiện diện và ủng hộ nhiệt tình của tất cả quý vị. Chúc phong trào bảo vệ môi trường của chúng ta sẽ đạt được nhiều thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn!

46. Tự luận
• 1 điểm

Viết báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội.

Xem đáp án

1. Đặt vấn đề

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, lịch sử vương quốc Champa đã thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, công bố thành sách, tạp chí. Sau năm 1975, xuất hiện các tác giả Việt Nam, không dừng lại ở việc tìm tòi, bổ sung thêm tư liệu mà còn khám phá ra cái mới như lắp vào khoảng thiếu sót của các nhà nghiên cứu tiên phong chưa làm được. Những công trình về sau đã đi vào từng mảng, lĩnh vực thuộc đời sống, văn hóa, xã hội, lễ hội đến sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Giải quyết vấn đề

Trước hết, là những ghi chép về Champa trong lịch sử Trung Quốc được tìm thấy trong bộ sử Hán thư, Lương sử, Cựu Đường thư, Tân Đường thư, Tống sử… Các nhà nghiên cứu đều dựa vào những nguồn sử liệu này để dựng lại lịch sử Lâm Ấp-Hoàn Vương-Chiêm Thành. Những tư liệu của Trung Quốc viết về phong tục tập quán của người Chăm xưa không có tính hệ thống, rời rạc và sơ sài, nhiều khi thiếu chính xác. Kế đến là những nghiên cứu, khảo sát thực địa của người Pháp. Tư liệu cổ nhất của người Châu Âu viết về người Chăm có lẽ là của một người gốc Italia tên là Marco Polo. Ông làm quan dưới triều đại Mông-Nguyên của Hốt Tất Liệt. Năm 1298, sau một lần được cử đi làm sứ giả ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Champa, ông đã ghi chép khá tỉ mỉ về người Chăm và đời sống của họ trong cuốn Lelivre de Marco Polo (cuốn sách của Marco Polo) (Phan Quốc Anh, 2006, tr.18). Vào thế kỉ XIV, một số linh mục đi truyền giáo đã đến Champa. Linh mục Odoric de Pordennone có ghi chép về phong tục, tập quán của người Chăm trong cuốn sách Những cuộc viễn du sang châu Á xuất bản tại Paris.

Những tư liệu lịch sử của Việt Nam liên quan đến Chiêm Thành có thể tìm thấy trong Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và một số sử liệu của các triều đại Việt Nam từ Lý-Trần đến triều Nguyễn. Nhưng những sử liệu nói trên chủ yếu nói về việc triều cống, giao tranh, hòa hiếu (Phan Quốc Anh, 2006, tr.18). Mặc dù vậy, đó là những ghi chép thành văn chính thống rất quan trọng để đối chiếu với ghi chép trên văn bia của Champa. Trần Quốc Vượng chủ biên cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam (2008) đã dành một phần nói về không gian vùng văn hóa Trung Bộ, chủ yếu đề cập về không gian văn hóa Chăm ở khu vực này. Cuối cùng, là Trương Sỹ Hùng với tác phẩm Tôn giáo trong đời sống văn hóa Đông Nam Á (2010), phân tích yếu tố Ấn Độ giáo và Hồi giáo trong sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo Chăm. Từ đó, làm nổi bật lên đặc điểm, vai trò trong sáng tác văn chương của người Chăm trong tác phẩm Deva Mưnô, Inra Patra, Ariya Cam – Bini,… Trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam (2004) tác giả Huỳnh Công Bá đã dành hai chương để trình bày về quá trình giành độc lập của Champa, phân tích những đặc điểm cơ bản về thể chế chính trị, đời sống văn hóa, xã hội. Đặc biệt nhấn mạnh vào quá trình hội nhập của người Chăm vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, Phan Thành Long chủ biên công trình Lí luận giáo dục (2010), nội dung chính của cuốn sách trình bày về quá trình giáo dục, nguyên tắc giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Đây là vấn đề có tính chất lí luận mà khi nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục không thể bỏ qua.

3. Kết luận

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về lịch sử và nền văn minh Champa được xuất bản thành sách, báo và tạp chí rất đa dạng và phong phú, được các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau. Nhưng chưa có công trình khảo cứu nào đề cập đến vấn đề giáo dục của người Chăm trong lịch sử mang tính chất hệ thống và đầy đủ. Ngay cả, hình thức học tập và sinh hoạt nội trú của học sinh người Chăm nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung hiện nay cũng chưa có sự quan tâm, chú ý nhiều từ các nhà khoa học và các nhà quản lý giáo dục. Việc tổng luận các công trình nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam chưa phải là bảng thống kê đầy đủ các tác giả cũng như tác phẩm, mà chỉ phản ánh một phần giúp độc giả có cái nhìn tổng quát những hiểu biết về văn hóa Chăm.

Tài liệu tham khảo

1. Abd. Karim, Báo Thị Hoa (giới thiệu và trình bày). 2007. “Trường Pô Klong & Đặc san Ước vọng”. Do International Office of Champa (IOC-Champa) xuất bản ở Paris – San Jose.

2. Đỗ Văn Tú. 1973. Vấn đề giáo dục sinh viên học sinh các sắc tộc. Sài Gòn: Bộ Phát triển Sắc tộc ấn hành.

3. Phan Văn Viện. 2007. Truyện kể dân gian các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam. NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

4. Phan Xuân Biên (chủ biên). 1989. Người Chăm ở Thuận Hải. Sở Văn hóa Thông tin Thuận Hải xuất bản.