Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
46 câu hỏi
THUẾ MÁU(1)
(Nguyễn Ái Quốc)
1. CHIẾN TRANH VÀ “NGƯỜI BẢN XỨ(2)
Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-na-mít (Annamite)”(3) bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ biết kéo xe tay và ăn đòn của các quan cai trị nhà ta. Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, thì lập tức họ biến thành những đứa “con yêu”, những người “bạn hiển” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé nữa. Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”.
Nhưng họ đã phải trả bằng một cái giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lí và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu. Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi(4), đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng (Balcan)(5), lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, - chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ (Marne), hoặc trong bã lầy miền Săm-pa-nhơ (Champagne)(6), để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế(7).
Cuối cùng, ở hậu phương, những người làm kiệt sức trong các xưởng thuốc súng ghê tởm, tuy không phải hít hơi ngạt của bọn “bô-sơ”(8), nhưng lại nhiễm phải những luồng khí độc đỏ ối của người Pháp; đằng nào cũng thế thôi, vì những kẻ khốn khổ ấy cũng đã khạc ra từng miếng phổi, chẳng khác gì hít phải hơi ngạt vậy. Tổng cộng có 700 000 người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp; và trong số ấy, 80 000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa!
II. CHẾ ĐỘ LÍNH TÌNH NGUYỆN
Một bạn đồng nghiệp nói với chúng tôi: Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khoá, sưu sai, tạp dịch(9), bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ 1915 – 1916 tới nay, lại - còn phải chịu thêm cái vạ mộ lính nữa.
Những biến cố trong mấy năm gần đây là cái cớ để người ta tiến hành những cuộc lùng ráp lớn về nhân lực trên toàn cõi Đông Dương. Những người bị bắt đều bị nhốt vào trại lính với đủ thứ tên: Lính khố đỏ, lính thợ chuyên nghiệp, lính thợ không chuyên nghiệp,...
Theo ý kiến của tất cả các cơ quan có thẩm quyền không thiên vị được giao cho sử dụng ở châu Âu “vật liệu biết nói” châu Á, thì vật liệu này đã không đưa lại kết quả tương xứng với chi phí rất lớn về chuyên chở và bảo quản.
Sau nữa, việc săn bắt thứ “vật liệu biết nói” đó, mà lúc bấy giờ người ta gọi là “chế độ lính tình nguyện” (danh từ mỉa mai một cách ghê tởm) đã gây ra những vụ những lạm(10) hết sức trắng trợn.
Đây! Chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: Vị “chúa tỉnh” mỗi viên công sứ(11) ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh” – ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu mà xoay xở. Mà cái ngón xoay xở kiểu D(12) thì các ông tướng ấy thạo hết chỗ nói, nhất là xoay xở làm tiền.
Thoạt tiên, chúng tóm những người khoẻ mạnh, nghèo khổ, những người này phải chịu chết thôi không còn kêu cứu vào đâu được. Sau đó, chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần, thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “Đi lính tình nguyện, hoặc xì tiền ra”.
Những người bị tóm đi như thế còn hào hứng gì nữa với cái nghề cột vào cổ họ. Cho nên, bước chân vào trại lính là họ liền tìm mọi cơ hội để trốn thoát.
Còn những người nào thấy không thể thoát khỏi số phận hẩm hiu, thì tìm cách tự làm cho mình nhiễm phải những bệnh nặng nhất, mà thông thường hơn cả là bệnh đau mắt toét chảy mủ, gây ra bằng cách xát vào mắt nhiều thứ chất độc, từ vôi sống đến mủ bệnh lậu.
Ấy thế mà trong một bản bố cáo với những người bị bắt lính, Phủ toàn quyền Đông Dương, sau khi hứa hẹn ban phẩm hàm cho những người lính sẽ còn sống sót và truy tặng những người sẽ hi sinh “cho Tổ quốc”, đã trịnh trọng tuyên bố rằng:
“Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến: xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ”.
Nếu quả thật người An Nam phấn khởi đi lính đến thế, tại sao lại có cảnh, tốp thì bị xích tay điệu về tỉnh lị, tốp thì trước khi xuống tàu, bị nhốt trong một trường trung học ở Sài Gòn, có lính Pháp canh gác, lưỡi lê tuốt trần, đạn lên nòng sẵn? Những cuộc biểu tình đổ máu ở Cao Miên, những vụ bạo động ở Sài Gòn, ở Biên Hoà và ở nhiều nơi khác nữa, phải chăng là những biểu hiện của lòng sốt sắng đầu quân “tấp nập” và “không ngần ngại"?
[...]
III. KẾT QUẢ CỦA SỰ HI SINH
Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng(13) rồi, thì những lời tuyên bố tình tứ của các ngài cầm quyền nhà ta bỗng dưng im bặt như có phép lạ, và cả người “Nê-grô” (negroid)(14) lẫn người “An-na-mít” mặc nhiên trở lại “giống người bẩn thỉu”.
Để ghi nhớ công lao người lính An Nam, chẳng phải người ta đã lột hết tất cả của cải của họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua, đến các vật kỉ niệm đủ thứ,... trước khi đưa họ đến Mác-xây (Marseille) xuống tàu về nước, đó sao? Chẳng phải người ta đã giao họ cho bọn súc sinh kiểm soát và đánh đập họ vô cớ đó sao? Chẳng phải người ta đã cho họ ăn như cho lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí đó sao? Về đến xứ sở, chẳng phải họ đã được một quan cai trị biết ơn đón chào nồng nhiệt bằng thế là tốt. Bây giờ, chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi!” đó sao?
Thế là những “cựu binh” – đúng hơn là cái xác còn lại – sau khi đã dũng cảm bảo vệ chính nghĩa và công lí nay tay không trở về với chế độ bản xứ của họ, một chế độ không biết gì đến chính nghĩa và công lí cả.
Theo báo chí Đông Dương thì thương binh người Pháp bị mất một phần thân thể và vợ con của tử sĩ người Pháp đều được cấp môn bài(15) bán lẻ thuốc phiện.
Như thế là trong một việc mà chính quyền thuộc địa đã phạm tới hai tội ác đối với nhân loại. Một mặt, họ vẫn chưa thoả khi tự tay làm cái việc bỉ ổi của người đầu độc, mà còn muốn lôi kéo vào đây cả những nạn nhân đáng thương hại của cuộc huynh đệ tương tàn(16) nữa. Mặt khác, họ coi rẻ tính mạng và xương máu của những kẻ đã bị họ lừa bịp, đến nỗi tưởng rằng chỉ cần quẳng cho những người này khúc xương thối ấy là đủ để đền bù được một cánh tay bị mất hoặc mạng của một người chồng. Chúng tôi chắc rằng thương binh và quả phụ chiến tranh sẽ đá văng món quà nhơ nhớp ấy và nhổ vào mặt kẻ tặng quà. Chúng tôi cũng tin chắc rằng thế giới văn minh và người Pháp lương thiện sẽ đứng về phía chúng tôi lên án bọn cá mập thực dân đang không ngần ngại đầu độc cả một dân tộc để vơ vét cho đầy túi.
[...]
(In trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 25-33)
* Chú thích:
(1) Thuế máu: Phần văn bản trên được trích từ Chương 1 (Thuế máu) trong Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc. Bản án chế độ thực dân Pháp được viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu tại Pa-ri năm 1925, tại Việt Nam năm 1946. Tác phẩm gồm 12 chương và phụ lục Gửi thanh niên Việt Nam, tố cáo những tội ác tày trời của thực dân Pháp trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội,... và tình cảnh khốn cùng của người dân nô lệ ở các xứ thuộc địa Pháp trên thế giới.
(2) Người bản xứ: người dân ở một đất nước được nói đến với hàm ý coi khinh (theo quan điểm của chủ nghĩa thực dân).
(3) An-na-mít: (từ tiếng Pháp) chỉ người Việt Nam, thuộc về Việt Nam.
(4) Ngư lôi: một loại vũ khí thả xuống nước, dùng sức điện để phá huỷ chiến hạm quân địch.
(5) Ban-căng: một bán đảo nằm ở giữa biển A-đờ-ri-a-tích (Adriatic) và biển Đen, ngay góc đông nam của châu Âu.
(6) Săm-pa-nhơ: một vùng đất ở đông bắc nước Pháp.
(7) Thống chế: như Nguyên soái (thường dùng nói về quân hàm trong quân đội các nước tư bản).
(8) Bô-sơ: (từ tiếng Pháp) có nghĩa xấu, chỉ quân đội Đức.
(9) Sưu sai, tạp dịch: sưu (hay thuế thân), còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người, là thứ sưu/ thuế căn cứ vào cư dân địa phương, mỗi dân đinh (đàn ông trong độ tuổi quy định: thường là 18 – 60 tuổi) đều phải nộp cho nhà nước trong chế độ phong kiến cũng như trong chế độ thực dân - phong kiến. Bên cạnh sưu đóng bằng hiện vật hoặc hiện kim, còn có sưu dịch đóng bằng sức lao động, thường là những công việc lao động nặng nhọc mà dân đinh phải làm cho nhà nước; sưu sai, tạp dịch: chỉ việc sưu nói chung.
(10) Những lạm: lạm dụng quyển hành để gây phiền hà và lấy của.
(11) Công sứ: viên chức người Pháp đứng đầu bộ máy cai trị cấp tỉnh ở Việt Nam thời Pháp thuộc, được thiết lập ở Trung Kì và Bắc Kì.
(12) D: chữ đầu của từ “débrouillard” (tiếng Pháp), có nghĩa là “xoay xở, tháo vát”.
(13) Khi đại bác đã ngấy thịt đen, thịt vàng: một cách chơi chữ của tác giả, nói về cái chết của người da đen và da vàng.
(14) Nê-grô: chỉ những người da đen.
(15) Môn bài: giấy cho phép mở cửa hàng buôn bán.
(16) Huynh đệ tương tàn: anh em tàn sát lẫn nhau.
- Giải thích nhan đề Thuế máu: Thuế đóng bằng máu, đóng bằng mạng sống con người.
- Xác định chủ đề và thông điệp của văn bản:
+ Chủ đề: Chiến tranh phi nghĩa đã mang lại bao nhiêu bất hạnh khổ đau cho người dân thuộc địa; và cái gọi là “chế độ lính tình nguyện” hay “sự hi sinh”,... về thực chất chỉ là thứ ngôn từ nhằm che đậy một thứ thuế vô cùng tàn bạo mà thực dân Pháp đánh vào người bản xứ: “thuế máu”.
+ Thông điệp: Chế độ thực dân là độc ác và lừa bịp. Người dân bản xứ không chỉ bị bóc lột tận xương tuỷ vì sưu sai, tạp dịch mà còn bị ép buộc đi lính, buộc phải đóng “thuế máu”. Một chế độ vô nhân đạo lại luôn được che đậy bằng những ngôn từ mĩ miều. Cần lên án, vạch trần, lật đổ chế độ này.
Phân tích cách miêu tả thái độ của các quan cầm quyền thực dân Pháp đối với dân bản xứ, trước, trong và sau chiến tranh. Cách miêu tả đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của tác phẩm?
- Thái độ của các quan cầm quyền thực dân Pháp đối với dân bản xứ trước, trong và sau chiến tranh:
+ Trước chiến tranh: Coi người dân bản xứ chỉ là bọn người “bẩn thỉu”, làm những nghề mạt hạng và chỉ xứng đáng “ăn đòn.
+ Chiến tranh bùng nổ: Ca ngợi dân bản xứ là “con yêu”, “bạn hiển”, “những chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do, nhằm mục đích đẩy họ ra trận, đến những vùng đất xa xôi của nước Pháp làm bia đỡ đạn.
+ Chiến tranh kết thúc: Người dân bản xứ lại trở về là giống người “bẩn thỉu”; tính mạng và xương máu của họ bị coi rẻ, phớt lờ. Những “tuyên bố tình tứ” trước kia của nhà cầm quyền “... bỗng dưng im bặt như có phép lạ!
- Đó là cách miêu tả theo lối đối lập. Cách miêu tả này đã có tác dụng rõ rệt trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm:
+ Làm nổi bật luận điệu xảo trá, hành động lừa bịp, thái độ lật lọng trơ tráo của thực dân Pháp đối với người bản xứ.
+ Tăng cường sức mạnh tố cáo về “chế độ lính tình nguyện” không phải là tự nguyện đi lính mà là cưỡng ép, khiến người dân bản xứ phải chịu đựng biết bao bi kịch.
Cảm hứng chủ đạo: Cảm hứng vạch trần sự thật qua đó phê phán, tố cáo chế độ bắt lính tàn bạo, vô nhân đạo; thái độ lật lọng trơ tráo của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ; đồng thời thể hiện niềm xót xa đối với những bất hạnh thương đau mà người dân các nước thuộc địa phải gánh chịu trong chiến tranh phi nghĩa.
Nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của Nguyễn Ái Quốc (kết cấu, cách sử dụng số liệu, từ ngữ, giọng văn, thủ pháp trào phúng, các biện pháp tu từ,... trong việc thể hiện tư tưởng tác phẩm).
Nhận xét về nghệ thuật viết phóng sự của Nguyễn Ái Quốc:
- Số liệu cụ thể, dẫn chứng tiêu biểu của thiên phóng sự đã mang đến sức mạnh tố cáo về hành động dã man của những kẻ đi khai hoá. Tính xác thực của số liệu đã thức tỉnh và kêu gọi được sự đồng tình của nhân loại tiến bộ đứng về phía những người dân bản xứ đấu tranh cho độc lập, tự do. Trước những số liệu xác thực, thực dân Pháp không thể làm ngơ, không thể chối cãi.
– Bằng những thủ pháp trào phúng (từ ngữ giễu nhại: “con yêu”, “bạn hiển, “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”; giọng điệu mỉa mai, đả kích: “ấy thế mà”, “đùng một cái,...; khai thác những hình ảnh, chi tiết tương phản, đối lập để tạo nên những bất ngờ, gây cười,...), tác giả đã hạ uy thế giả tạo của chính quyền thực dân, cay đắng cho số phận người dân thuộc địa. Lối nói hài hước mà đả kích sâu cay đã bóc trần chính sách lính “tình nguyện” ở xứ Đông Dương là ép buộc, bắt bớ, đẩy người dân vô tội đến cái chết bi thảm. Bản chất của chính quyền thực dân là giả nhân giả nghĩa, lật lọng trắng trợn.
- Các biện pháp tu từ (liệt kê, phép đối, chơi chữ, câu hỏi tu từ,...) được tác giả sử dụng rất hiệu quả.
+ Phép đối: “cuộc chiến tranh vui tươi”, “quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, "quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé,...
+ Liệt kê: “Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kì diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái. Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban-căng; một số khác nữa thì anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mác-nơ, hoặc trong bãi lầy miền Săm-pa-nhơ"....
+ Chơi chữ: “vật liệu biết nói”, “thịt đen, thịt vàng”....
+ Câu hỏi tu từ: xuất hiện ở đoạn 2 và 3, tạo thành các đoạn văn chất vẫn dồn dập, xoáy sâu vào lòng người đọc những vấn đề nhức nhối.
- Nghệ thuật viết phóng sự trong Thuế máu phù hợp với nội dung, góp phần đưa Thuế máu trở thành “bản án” đanh thép đối với chế độ thực dân Pháp.
Anh/ chị có suy nghĩ, cảm xúc gì về “chế độ lính tình nguyện” của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ?
Suy nghĩ, cảm xúc gì về “chế độ lính tình nguyện” của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ: Chế độ lính tình nguyện là các thủ đoạn, mánh khóe tàn độc của thực dân Pháp để bắt ép người dân Đông Dương đi lính và vơ vét của cải của họ. Đó là những hành động chèn ép vô nhân đạo, không từ bất kỳ một thủ đoạn tàn ác, coi mạng người như cỏ rác và thể hiện sự đối lập giữa lời nói và hành động của thực dân Pháp.
(Tóm tắt phần đầu: Từ Thức làm quan Tri huyện Tiên Du, nhân một buổi xem hội hoa mẫu đơn mà cứu giúp một người con gái đẹp. Vì tính ham thơ mến cảnh nên chàng đã từ quan mà chọn sống chốn nước biếc non xanh. Một hôm Từ Thức mải vãn cảnh mà lạc vào động tiên, gặp lại người con gái mà chàng đã cứu hôm đi hội, mới biết hóa ra cô gái đó chính là nàng tiên Giáng Hương, con của bà tiên cai quản vùng núi Phù Lai, động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả. Để báo đáp ơn cứu mạng trước kia, phu nhân đã tác hợp cho Từ Thức và Giáng Hương nên duyên vợ chồng trong sự chúc phúc của quần tiên.)
Nhưng từ khi chàng bỏ nhà đi thấm thoát đã được một năm, ao sen đã đổi thay mầu biếc. Những đêm sương sa gió thổi, bóng trăng sáng nhòm qua cửa sổ, tiếng thủy triều nghe văng đầu giường, đối cảnh chạnh lòng, một mối buồn bâng khuâng, quấy nhiễu khiến không sao ngủ được. Một hôm trông ra bể, thấy một chiếc tàu buôn đi về phương nam, Từ trỏ bảo Giáng Hương rằng:
- Nhà tôi đi về phía kia kìa, song biển cả trời xa, chẳng biết là ở tận đâu.
Rồi nhân lúc rỗi, chàng nói với nàng rằng:
- Tôi bước khách bơ vơ, lòng quê bịn rịn, lệ hoa thánh thót, lòng có héo hon, dám xin thể tình mà cho được tạm về, chẳng hay ý nàng nghĩ thế nào?
Giáng Hương bùi ngùi không nỡ dứt. Từ lang nói:
- Tôi xin hẹn trong một thời kỳ bao nhiêu lâu, để về cho bạn bè gặp mặt và thu xếp việc nhà cho yên, sẽ lại đến đây để với nàng cùng già ở chỗ làng mây bến nước.
Giáng Hương khóc mà nói:
- Thiếp chẳng dám vì tình phu phụ mà ngăn cản mối lòng quê hương của chàng. Song cõi trần nhỏ hẹp, kiếp trần ngắn ngủi, dù nay chàng về, nhưng chỉ e liễu sân hoa vườn, không còn đâu cảnh tượng như ngày trước nữa.
Nàng nhân thưa với phu nhân, phu nhân nói:
- Không ngờ chàng lại thắc mắc vì mối lòng trần như vậy.
Nhân cho một cỗ xe cẩm vân để chàng cưỡi về. Nàng cũng đưa cho chàng một bức thư viết vào lụa mà nói:
- Ngày khác trông thấy vật này, xin đừng quên mối tình cũ kĩ..
Rồi trào nước mắt mà chia biệt.
Chàng đi chỉ thoắt chốc đã về đến nhà, thì thấy vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ. Bèn đem tên họ mình hỏi thăm những người già cả thì thấy có người nói:
Thuở bé tôi nghe nói ông cụ tam đại nhà tôi cũng cùng tên họ như ông, đi vào núi mất đến nay đã hơn 80 năm, nay đã là năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh là đời ông vua thứ ba của triều Lê rồi.
Chàng bấy giờ mới buồn bực bùi ngùi; muốn lại lên xe mây để đi, nhưng xe đã hóa làm một con chim loan mà bay mất. Mở thư ra đọc, thấy có câu: “Kết lứa phượng ở trong mây, duyên xưa đã hết, tìm non tiên ở trên biển, dịp khác còn đâu!” mới biết là Giáng Hương đã nói trước với mình những lời ly biệt. Chàng bèn mặc áo cừu nhẹ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
(Trích Từ Thức lấy vợ tiên, Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 259 - 260)
Chỉ ra đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích trên.
Đặc điểm không gian và thời gian nghệ thuật trong đoạn trích trên:
- Không gian trong đoạn trích: đan xen giữa cõi trần và cõi tiên.
+ Cõi trần: huyện Tiên Du, quê cũ của Phạm Tử Hư.
+ Cõi tiên: vùng núi Phù Lai – động tiên thứ 6 trong 36 động tiên bồng bềnh ngoài biển cả.
- Thời gian: kết hợp thời gian thực và thời gian kì ảo
+ Thời gian thực: năm thứ 5 niên hiệu Diên Ninh, đời ông vua thứ ba triều Lê.
+ Thời gian kì ảo: thời gian ngưng đọng; Từ Thức ở động tiên khoảng một năm nhưng ở cõi trần đã hơn 80 năm.
Theo đoạn trích, khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy những cảnh tượng gì?
Theo đoạn trích, khi trở lại chốn cũ quê xưa, Từ Thức thấy những cảnh tượng: vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều không như trước nữa, duy có những cảnh núi khe là vẫn không thay đổi sắc biếc màu xanh thủa nọ.
Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì ảo trong đoạn trích.
- Yếu tố kì ảo trong đoạn trích:
+ Từ Thức gặp tiên và kết duyên với nàng tiên Giáng Hương trong sự chúc phúc của quần tiên.
+ Cỗ xe cẩm vân đưa Từ Thức về nhà trong thoáng chốc.
+ Xe mây thoáng chốc đã hóa chim loan mà bay mất.
- Tác dụng của các yếu tố kì ảo:
+ Tạo ra sự sinh động, khiến câu chuyện thêm hấp dẫn, thú vị, tạo hứng thú tăng tính hấp dẫn cho người đọc.
+ Kín đáo bộc lộ thái độ của người viết: Cõi tiên là hình ảnh của thế giới mà con người muốn tìm đến khi chán ngán thế giới thực tại. Nhưng thế giới cũng chỉ là hư vô như giấc mộng chiêm bao
Em hãy lí giải sự lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chàng bèn mặc áo cừu nhạ, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi sau không biết đi đâu mất.
- Lựa chọn của Từ Thức ở cuối đoạn trích: Chọn vào núi, xa rời cuộc sống trần gian.
- Lí giải: Từ Thức trở nên lạc lõng bơ vơ khi chàng không còn thuộc về chốn thần tiên cũng không còn hợp với cõi nhân gian. Chính vì vậy ra đi là cách tốt nhất cho chàng.
Rút ra một thông điệp ý nghĩa nhất và lí giải.
HS có thể lựa chọn một trong những thông điệp sau:
- Chúng ta là con người trần thế dù có được sống nơi tiên cảnh cũng không thoát được nỗi nhớ quê hương
- Cuộc đời con người chúng ta không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ là khoảng thời gian hữu hạn, chúng ta cũng không được hưởng đặc ân vô biên từ tạo hóa.
- Chúng ta không thể tham lam, không thể có tất cả, khi ta không chấp nhận bằng lòng ta sẽ mất hết.
- ...
* HS tự lí giải hợp lí thông điệp đã chọn theo ý hiểu của mình.
TRONG SƯƠNG HỒNG HIỆN RA
(Tóm tắt: Nhà Al của khu nhà tập thể Cánh Đồng Xanh bị sụt nghiêng khiến Tân, một chàng trai 17 tuổi, bị điện giật rơi vào cơn hôn mê. Trong cơn hôn mê, Tân đã đi ngược thời gian về 20 năm trước. Ở đó, Tân đã được sống trong hoàn cảnh chiến tranh, chứng kiến những trận ném bom phả hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ, được gặp bà (khi đã bà con trẻ). gặp cha mẹ mình thuở mới yêu nhau và gặp những con người của 20 năm trước. Chuyến du hành xuyên thời gian đã giúp Tân hiểu thêm nhiều điều về cuộc sống và thêm trân quý những khoảnh khắc đầm ấm bên gia đình.).
– Này cháu – Bà mẹ lay nhẹ bên vai trần nóng giẫy của chàng trai – Cháu hãy dậy nào... [...]
– Ôi, bà! – Chàng trai mệt mỏi thốt lên.
– Cháu hãy gọi là bác – Bà mẹ dịu dàng sửa lại.
Gọi là bác? Không đâu, sao có thể lạ lùng như vậy? Cặp môi bà với những rãnh nhỏ màu quết trầu. Nửa đường lông mày bên trái bạc trắng từ hồi nào trong qus khứ. Đúng là bà rồi. Nhưng bà có chiếc áo bông sa tanh đen chần hạt lựu bao giờ đâu? Nhưng vì sao bà bỗng quả trẻ và ăn mặc khác lỗi như vậy? Nhưng vì sao bà nhắc mình hãy gọi bà là bác?
– Cháu tên là gì, cháu từ đâu tới đây? – Bà mẹ hỏi.
– Ôi, sao bà lại hỏi cháu như vậy? – Chàng trai rất muốn ngồi dậy, ôm lấy bà quay một vòng như vẫn đùa mỗi khi ở trường về, nhưng tấm thân sốt nóng vẫn dán chặt trên giường. – Cháu Tân đây mà. Nhà cháu ở đây... [...]
Từ phía đầu giường, Độ nhích lại, đừng sát bên mẹ. Lúc này Tân mới thấy cùng với bà trong nhà còn có một chàng trai nữa. Nhưng tại sao lại là chàng trai? Bố đấy thôi. Cái mùi mồ hôi nồng nàn, mùi da thịt của bố, Tân đã hít thở từ thuở sơ sinh được bế ẵm trong lòng. [...]
– Bố ơi.
Tân gọi như rên. Lúc ốm, cậu bỗng muốn nũng nịu một chút.
-Mình tên là Độ, – Chàng trai lúng túng vì cách xưng hô của Tân, vội vàng giới thiệu. – Thế là chúng ta đã quen nhau. Hãy gọi mình là anh. [...]
Lúc bữa cơm được dọn ra bàn, Độ đánh thức Tân dậy. Bà mẹ đưa cho Tân hai viên thuốc cảm và cốc nước nóng, rồi chép miệng ái ngại:
– Cháu uống thuốc đi, rồi ra ăn cơm. Thời tiết độ này làm nhiều người cảm cúm quá.
Tân lờ đờ bước lại bên bản ăn, trên người là bộ quần áo ẩm Độ vừa đưa cho, có cảm giác gần gũi khi nhận ra những món ăn quen thuộc và ưa thích của gia đình. Có thể theo thời gian, con người sẽ thay đổi nhiều hơn là những món ăn hợp khẩu vị của họ.
– Thế không chở mẹ cháu về cùng ăn hả bà? – Tân cầm đũa và thuận miệng hỏi. – Sao cơ? Cháu đến đây cùng mẹ à? Mẹ cháu đâu rồi? Mẹ cháu là ai? [...] Mặc dù chưa lấy lại được sự hoạt bát bình thưởng. Tân không khỏi mỉm cười thích thú:
– Mẹ cháu là ai? Bà quên thì để cháu nhắc cho bà nhớ: mẹ cháu là ma-đam Yến, giảng viên trường Đại học Sư phạm. Còn bố cháu là Hoàng Độ, cán bộ sở Giao thông.
Nói câu cuối cùng, Tân láu lỉnh đưa mắt nhìn Độ như kéo thêm một đồng minh để cùng đùa bà nội. Nhưng Độ đã buông bát, ngồi thẳng đơ, hết nhìn Tân lại nhìn mẹ, vừa ngạc nhiên, vừa ngượng. Chú chàng này đã đọc vanh vách tên họ nghề nghiệp của Đô cùng với tên cô bạn gái mà Đô mới chia tay cách đây một giờ. Đô chưa hề giới thiệu Yến với mẹ, và anh chỉ muốn ra hiệu cho Tân, như với một người bạn trót để lộ một bí mật chưa công bổ, nhưng không kịp. [...]
Tân lạc về tận năm sáu mươi bảy, hai mươi năm trước thời điểm cậu đang sống. Không thể nhớ được Tân đã đi bằng phương tiện gì để tới đây? Lần cuối cùng ở năm tám bảy thì Tân đã nhớ ra, đó là lúc nhà A1 của khu tập thể Cánh Đồng Xanh bị sụt nghiêng. Tân dịu bỏ chạy ra bãi cỏ, rồi quay trở vào. Cảm giác cuối cùng là bị tuột dép bên chân phải, bàn chân bỏng giẫy, đau nhói lên tận tim óc. Sau đó là chuyến bay trong lòng đất, dọc theo một đường hầm hun hút gió... Một chuyển ra đi như thế, làm sao biết được bao giờ mới đến ngày về, và về bằngphương tiện gì đây?
Đây cũng là nhà của Tân, có bà, có bố, nhưng không phải là bà và bố của những năm Tân sống. Tân bỗng nhớ cồn cào những buổi chiều sau khi tắm giặt và ăn chút chè đỗ đen, rồi đến nhà cô bạn xấu xí, rủ nhau đi học nhảy. Nhớ không khí gia đình những buổi tối ngồi xem ti vi, vừa xem vừa ổn ào bình phẩm và tranh cãi. ...
Chuyện như còn hiển hiện ra đó, những buổi tối đoàn tụ cùng gia đình sau một ngày lao động vất vả vào cái năm tám bảy, thế mà đã thành quákhứ, lại là “quákhứ” của năm 1967? Cũng như đôi khi Tân ao ước được trở lại tuổi thơ, được sắm quần áo mới sặc sỡ, được mua nhiều quàbánh, bây giờ đây Tân mong được trở lại với “quákhứ” biết bao.
(Hồ Anh Thái, Trong sương hằng hiện ra, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2005, tr. 221 – 239)
Đoạn Tóm tắt cung cấp những thông tin gi?
Đoạn Tóm tắt cung cấp thông tin khái quát về cốt truyện, bối cảnh diễn ra câu chuyện và nhân vật chính (Tân).
Đoạn trích trên kể về cuộc gặp gỡ xuyên thời gian giữa Tân với bà và bố vào “năm sáu mươi bảy, hai mươi năm trước thời điểm cậu đang sống.”.
“Quá khứ” mà nhân vật Tân “mong được trở lại" là gì? Vì sao?
“Quá khứ” mà nhân vật Tân “mong được trở lại” là “năm tám bảy” (1987). Vì đó là hiện thực có thật chứ không phải là trong cơn hôn mê; vì ở vào thời điểm ấy, Tân được sống lại những kí ức đẹp đẽ của một thời thanh bình, không có chiến tranh.
Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn sau:
– Này cháu. – Bà mẹ lay nhẹ bên vai trần nóng giẫy của chàng trai.
- Cháu ơidậy nào... [...]
– Ôi, bà! – Chàng trai mệt mỏi thốt lên.
– Cháu hãy gọi là bác. – Bà mẹ dịu dàng sửa lại.
Gọi là bác? Không đâu, sao có thể lạ lùng như vậy? Cặp môi bà với những rãnh nhỏ màu quết trầu. Nửa đường lông mày bên trái bạc trắng từ hồi nào trong quákhứ. Đúng là bà rồi. Nhưng bà có chiếc áo bông sa tanh đen chần hạt lựu bao giờ đâu? Nhưng vì sao bà bỗng quả trẻ và ăn mặc khác lối như vậy? Nhưng vì sao bà nhắc mình hãy gọi bà là bác?
-Cháu tên là gì, cháu từ đâu tới đây? – Bà mẹ hỏi.
Đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn:
- Hình thức đối thoại, có sự đổi vai giữa người nói và người nghe (Tân và bà).
- Ngôn ngữ giản dị, đời thưởng, sử dụng các từ biểu cảm, từ hô gọi để thể hiện thái độ, cảm xúc của những người tham gia giao tiếp (Cháu ơi dậy nào, Ôi, bà!, Không đâu, sao có thể, bà bông quá trẻ,...).
Anh/ Chị tiếp nhận được thông điệp nào từ văn bản trên? Thông điệp đó có ý nghĩa gì với cuộc sống hiện nay?
HS có thể nêu những thông điệp khác nhau nhưng cần phù hợp với nội dung đoạn trích và chỉ ra ý nghĩa của thông điệp đó với cuộc sống hiện nay.
Gợi ý: Đoạn trích đề cao tình cảm yêu thương giữa con người với con người hoặc đề cao tình cảm gia đình. Đây là những vấn đề có ý nghĩa xã hội và nhân văn, nhất là trong bối cảnh hiện nay, con người bị tác động bởi mặt trái của đời sống thị trường và công nghệ.
ÔNG TÂY AN NAM
(Trích)
(Giới thiệu về vở kịch “Ông Tây An Nam”: Gia đình Cưu Ông, Cựu Bà cho con trai là Lân sang Pháp du học đỗ bằng cử nhân. Nhưng Lân khinh bỉ giống nòi, quyết nhập làng Tây. Khi về nước, tàu vừa cập bến, y không nhận mẹ, còn vu cho bà là kẻ cắp để cảnh sát bắt vào bóp vì bà là “người bản xứ” đã dám nhận y là con. Y không về nhà ở mà thuê khách sạn vì ghê sợ sinh hoạt của người An Nam. Về thăm nhà, Cử Lân mang theo phiên dịch, y chỉ nói tiếng Pháp, sỉ mắng mọi người, kể cả bố mẹ của mình. Y oán cha mẹ vì đã sinh ra y là người bản xứ. Y chê cơm cha mẹ vì có “mùi An Nam”. Đồ ăn của y mọi thứ đều được đóng hộp mang từ Pháp sang, kể cả nước uống. Chỉ có không khí là y phải thở trên đất An Nam. Y tuyên bố: “Tổ quốc tôi là Đại Pháp, tôi người Đại Pháp”. Nhưng đến khi gặp Kim Ninh, con gái cụ Huấn, y đã đem lòng mê mẩn. Kim Ninh nhất định không chịu nói tiếng Pháp. Cử Lân buộc phải nói tiếng Việt, dọn về nhà ở, lấy lòng cha mẹ và cụ Huấn để cưới được Kim Ninh. Nhưng Kim Ninh đã có người yêu, lại khinh thường thói vong bản của Cử Lân nên từ chối thẳng thừng trước mặt mọi người. Bị bẽ mặt, Cử Lân tức giận, tự thấy mình điên rồ vì đã chốc lát tự ý trở lại làm “giống An Nam”. Hắn quát quân hầu : “Theo tao sang Pháp mà làm người Âu châu”.
Vở kịch gồm ba hồi, được hoàn thành vào năm 1930, in lần đầu năm 1931)
Sen IX
CỬ LÂN, KIM NINH (hai người cùng ngồi).
CỬ LÂN: (Ta đặc) Em ạ, anh xưa nay rất là hiểu rõ cái văn minh Âu Tây, hiểu đến nỗi như chui vào gan ruột người Âu Tây vậy. Bởi thế, anh biết rằng làm người An Nam xấu lắm. Không có cái gì khả bỉ bằng hai tiếng An Nam, An Nam, An Nam! Nghe nó tủn mủn, nhỏ mọn, hèn hạ, không sao mà nói được! Ở những nơi văn minh mà gọi nhau là An Nam tức là làm bia cho thiên hạ chửi. Vậy muốn cho người ta quý mình, trọng đãi mình trước hết ta không nên làm người Việt Nam nữa. Tây có câu: “Có đồng đẳng mới bình đẳng được”. Nghĩa là có không phải là người Việt Nam hay An Nam thì người ta đối đãi với mình coi như người quý quốc!
KIM NINH: Cho nên anh biết tiếng của Tổ quốc mà phải giả vờ làm không biết, có phải thế không?
CỬ LÂN: Thưa, không phải giả vờ cốt lấy oai mà thôi đâu. Anh là người Tây thì cái giả vờ ấy, tha thứ đi cho anh cũng được! Nhưng điều anh chủ tâm là làm cho tiệt cái hơi tiếng An Nam ở trong mồm anh đi. Nên không những anh không muốn nói tiếng Nam, nghe tiếng Nam, mà đến cái tư tưởng bằng cái óc Việt Nam anh cũng không muốn nữa! Ví dụ anh nhìn thấy cái này (trỏ bó hoa) tất phải nghĩ ngay nó là em xinh đẹp, yêu em, anh bật ngay ra : Je t’ aime chứ không muốn nhớ chi đến câu
“Tôi yêu mình” như trước nữa! Nói tóm lại là anh tư tưởng bằng chữ Tây nó quen đi rồi, cái óc anh biến hắn thành óc Tây rồi...
KIM NINH: Hừ! Nếu ai cũng như anh thì tiếng Việt Nam chẳng bao lâu mà mất!
CỬ LÂN: Quái! Từ hôm quen đến nay, anh gặp ai cũng là bênh vực cái tiếng An Nam này chầm chập? Người An Nam hủ lậu thật mà còn chậm tiến hoá không biết đến đâu? Anh hãy hỏi em có phải tiếng An Nam còn ngày nào thì người trên cái bán đảo Ấn Độ chi na này còn là An Nam ngần ấy, mà các người ấy đã An Nam thì mong sao văn minh người ta quý trọng mình? Hay anh hỏi em thế này cho ngắn: “Tiếng An Nam có hay ho gì không?”.
KIM NINH: Ý em thì hay, vì rằng nó là của riêng của giống nòi mình, mà đã là của riêng để phân biệt mình với người thì dầu có kém của người, mình cũng cho là hay.
CỬ LÂN: Câu em nói đó thuộc về nhu cảm. Cứ bình tĩnh mà nói, em tưởng tượng em là người giời, đứng tận trên tít đỉnh giời mà xét, tiếng Việt Nam có hay hay không?
KIM NINH: Hay!
CỬ LÂN: Hay làm sao?
KIM NINH: Nó dịu dàng êm ái, lên bổng xuống trầm như tiếng đàn và có ngũ âm lục thanh như năm cung sáu bực cây đàn, mà cung bực tức là năm dấu.
CỬ LÂN: Trời ơi! Thế mà hay! Hoạ chăng nó êm ái dịu dàng là bởi vì cái giọng dịu dàng êm ái của em nó tô điểm hộ. Yêu, yêu thế là cái gì? Gọi là aimer có tình tứ bao nhiêu không? Kim Ninh, Kim Ninh còn ra nghĩa lí gì? Nếu không có cái mồm hoa kia, đôi mắt đẹp chết người này thì nó có gợi cho anh được một mảnh tình nào không? Rành không nhé!
KIM NINH: Ấy thế mà em thì lại khác. Nghe mấy tiếng “Chàng Lân ơi” nó thanh thú hơn là “Mon cher Alphonse”!
CỬ LÂN: Bởi vậy, anh mới phải chiều em, phải dùng cái tiếng khổ này mà thưa với em xinh đẹp của anh rằng anh yêu, anh quý, anh thờ em vô hạn. Nhưng cũng xin em sớm tỉnh ngộ cho anh nhờ. Bỏ quách cái giống nòi An Nam đi, húi tóc ngắn, ăn mặc đầm, nói tiếng Tây, sang Tây mà ở bên ấy với anh mãi mãi, anh sẽ suốt đời ôm ẵm trên tay, em ạ, em với anh sẽ thêu dệt nên một cuộc đời như hoa như gấm, em nghĩ làm sao?
KIM NINH: Em chịu thôi anh ạ.
CỬ LÂN: Sao thế?
KIM NINH: Vì tấm lòng em nó rắn lắm, chưa thấy anh lay chuyển được tí nào?
CỬ LÂN: Thật không em?
KIM NINH: Thật.
CỬ LÂN: Thế em cho phép anh mời đi xơi cơm hôm nay vậy!
KIM NINH: Em cũng chịu thôi.
CỬ LÂN: Nhất định thế ư?
KIM NINH: Vâng.
CỬ LÂN: Anh chịu em là người khó tính!
KIM NINH: Không khó tính đâu anh. Thôi anh đi xơi cơm kẻo đói.
CỬ LÂN: Hay nói thế nào mà em bằng lòng thì xin dạy anh, để anh nói với em.
KIM NINH: Anh nói thế nào em cũng không bằng lòng đâu. Thôi anh xơi cơm đi.
CỬ LÂN: Sur?
KIM NINH: Chả thật thì bỡn hay sao?
CÚ LÂN: Bon! Adieu, mademoiselle.
KIM NINH: Người đâu mà dở ốm dở đau, dở cay dở nồng, thế mà thầy ta cứ dỗ ta lấy thì ta lấy làm sao?
(Ông Tây An Nam, Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000)
Tình huống của đoạn trích là gì?
Tình huống của đoạn trích: Cử Lân sử dụng tiếng “ta đặc” để giải thích lí do muốn “tiệt cái hơi giống An Nam” và thuyết phục Kim Ninh “bỏ quách cái giống nòi An Nam”
Kể tên 3 hình thức ngôn ngữ đã xuất hiện trong đoạn trích.
3 hình thức ngôn ngữ đã xuất hiện trong đoạn trích: đối thoại, chỉ dẫn sân khấu, chêm xen các từ tiếng Pháp.
Xung đột trong đoạn trích ở đây là gì?
Xung đột trong đoạn trích: Xung đột giữa nhân vật Cử Lân và Kim Ninh
Để làm cho bản thân “tiện cái hơi tiếng An Nam”, nhân vật Cử Lân đã làm gì?
Để làm cho bản thân “tiện cái hơi tiếng An Nam”, nhân vật Cử Lân đã:
- Không muốn nói tiếng An Nam, nghe tiếng An Nam.
- Không muốn tư duy bằng tiếng An Nam để “óc biến hẳn thành óc Tây
Anh/ chị hãy nhận xét về nhân vật Cử Lân trong đoạn trích.
Nhận xét về nhân vật Cử Lân: Cử Lân là một kẻ Tây hoá, vong bản, khinh bỉ giống nòi.
Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn
Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui
Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại
Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa
Chẳng sao
Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp
Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.
Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ
Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay
May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may
Hãy nói thật ít. Làm thật nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.
…
Hãy hân hoan với điều nhân nghĩa
Đừng lạnh lùng trước chuyện bất nhân
Và hãy tin vào điều có thật:
Con người - sống để yêu thương.
(Bùi Nguyễn Trường Kiên – Gửi con)
Xác định các phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản?
Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm
Xác định thể thơ của văn bản.
Thể thơ: Tự do.
Nêu nội dung của văn bản.
Nội dung của văn bản: là lời khuyên của cha về cách sống, lẽ sống.
Trong đoạn 2, tác giả đã khuyên người con mình cách ứng xử với thời gian:
+ Đừng quên quá khứ
+ Nghĩ và hi vọng vào tương lai
+ Không buông xuôi mà xây đắp cho hiện tại.
Theo anh/chị, vì sao tác giả nói rằng:
Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại
Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa
Chẳng sao
Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp
Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.
Tác giả nói như vậy vì: Cuộc sống của mỗi người luôn cần có ước mơ, khát vọng, nỗ lực vươn lên và phải biết khẳng định mình.Tuy nhiên, “tiến” và “ngước lên” không phải để ganh đua, bon chen, hãnh tiến, không vì vật chất, danh lợi bản thân mà bán rẻ lương tâm, phẩm giá. Điều cần thiết là “tiến” và “ngước lên” để biết “lùi”, biết “nhìn xuống”, biết nhìn nhận, suy ngẫm, đánh giá về chính mình để giữ gìn nhân cách. Đó là cuộc sống thanh thản, hạnh phúc.
Trong 2 dòng thơ “Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn/ Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.
- Trong hai dòng thơ, tác giả sử dụng biện pháp tu từ: điệp từ và đối.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh trong cuộc sống con người luôn tồn tại những trạng thái cảm xúc khác nhau, thậm chí đối lập như vui, buồn... Nhưng quan trọng là chúng ta phải biết điều chỉnh, dung hoà những trạng thái cảm xúc đó, tránh thái quá sẽ dẫn đến thiếu tỉnh táo, cực đoan.
+ Giúp cho lời thơ biểu cảm sâu sắc.
Anh/chị hiểu như thế nào về thông điệp mà tác giả gửi gắm trong câu thơ: “Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp/Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao”
Câu thơ gửi gắm một thông điệp về sự khiêm tốn, tự nhận thức về bản thân (nhìn lên cao, nhìn xuống thấp, thấy mình còn thấp, thấy mình chưa cao)
- Con người cần biết khiên tốn, biết mình, biết người.
+ Khiêm tốn để thấy được điểm mạnh, điểm yếu, hạn chế của bản thân
+ Khiêm tốn để không ngừng học hỏi
+ Khiêm tốn là tôn trọng mọi người và bồi đắp bản thân
Chỉ ra những thông điệp mà anh/chị rút ra được từ văn bản trên.
Thông điệp rút ra từ văn bản:
- Chúng ta cần biết giúp đỡ người khác, nhiệt tình, đúng mực để sự giúp đỡ ấy phát huy giá trị tốt đẹp.
- Không nên tự cao, tự đại mà phải biết tự đánh giá và nhận ra tài năng, vị trí xã hội của mình.
- Bình tâm trước những vấn đề được- mất, thăng tiến bằng chính tài năng của mình và luôn giữ gìn đức độ, nhân cách.
- Cuộc sống luôn cần có tình yêu thương. Tình yêu thương đem đến hạnh phúc cho nhân loại.
TÔI TỰ HỌC
(Nguyễn Duy Cần)
Mục đích của sự học là gì? Học để mưu cầu hạnh phúc, nghĩa là làm cho mình ngày càng mới, càng cao, càng rộng,... Học là để gia tăng sự hiểu biết của mình, mở rộng tâm hồn của mình bằng cách thu nhận sự hiểu biết cùng những kinh nghiệm của người khác. Cũng giống như một đứa trẻ mới sinh nặng chưa đầy ba kí, thế mà ngày càng lớn đến năm, sáu chục kí trong khoảng vài mươi năm sau, phải chăng nhờ rút lấy không khí, đồ ăn, đồ uống,... mà tiến từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, nghĩa là càng ngày càng mới, càng cao, càng lớn. Bởi vậy tôi cho rằng học cũng như ăn.
Ăn mà không tiêu thì có hại cho sức khỏe. Học mà không hóa thì có hại cho tinh thần. Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó. Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó. Người có học thức là người đã thần hóa những cái học của mình. Bởi vậy dường như họ không biết gì cả mà không có cái gì là không biết.
Học mà đến mức quên hết cả sách vở của mình đã học thì cái học ấy mới là “nhập diệu”. Một điều gì học mà mình còn cố nhớ là nó chưa được nhập vào tâm. Chỉ khi nào mình không cần nhớ mà nó vẫn tự nhiên hiển hiện trong tâm trí thì cái học ấy mới gọi là đã được tiêu hóa. Người học đánh máy chữ mà còn để ý tìm từng con chữ, cố nhớ vị trí của từng con chữ là người đánh máy chưa tinh. Người học đi xe đạp mà còn cố để ý đến bàn đạp, cách đạp là người đi xe đạp chưa thạo. Tôi nhớ lúc còn nhỏ, gần đến ngày thi, tôi băn khoăn nói với cha: “Sao con học nhiều thế mà nay dường như không còn nhớ gì cả. Lòng con như quên hết, không biết lúc thi có nhớ được gì không? Con sợ quá!”. Cha tôi cười bảo: “Đấy là con học đã chín muồi rồi. Quên tức là nhớ nhiều rồi đó. Con hãy yên tâm...”. Thật đúng như lời cha, đến ngày thi, giám khảo hỏi đâu, tôi trả lời liền đó một cách rõ ràng hết sức.
Và Herriot cũng từng nói: “Học thức là cái còn lại khi mình đã quên tất cả”. Đó chính là cái diệu pháp của phép học.
(Trích, Tôi tự học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2022, tr.29-30)
Văn bản bàn về vấn đề gì?
Văn bản bàn về việc học/ mục đích, yêu cầu của việc học.
Từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản có nghĩa là gì?
Nghĩa của từ “diệu pháp” trong câu cuối của văn bản: Phương pháp/ cách thức kì diệu của việc học.
Các câu sau có mối liên hệ như thế nào với luận điểm của văn bản?
“Cỏ con cừu ăn mà được tiêu, sẽ không còn là cỏ nữa mà là bộ lông mướt đẹp của nó.
Dâu con tằm ăn mà được tiêu, sẽ không còn là dâu nữa mà là sợi tơ mịn màng tươi tốt của nó.”
Hai câu văn là những bằng chứng minh họa gần gũi, tiêu biểu, góp phần làm sáng tỏ khía cạnh luận điểm của văn bản: học phải thật nhuần nhuyễn, phải biến tri thức học được thành “tài sản” có giá trị của mình.
Một số yếu tố miêu tả (một đứa trẻ mới sinh, bộ lông của cừu, sợi tơ của tằm,...) và tự sự (cuộc trò chuyện với người cha) được sử dụng trong văn bản có tác dụng như thế nào đối với việc thể hiện nội dung nghị luận của văn bản?
Tác dụng của một số yếu tố miêu tả (một đứa trẻ mới sinh, bộ lông của cừu, sợi tơ của tằm,...) và tự sự (cuộc trò chuyện với người cha): góp phần làm rõ luận điểm, giúp cho nội dung nghị luận trở nên sinh động, rõ ràng, làm tăng tính thuyết phục của văn bản.
Học sinh có thể đưa ra câu trả lời khác nhau (để phát triển bản thân/ mở rộng hiểu biết/ bồi dưỡng tâm hồn...) và có lí giải phù hợp.
Gợi ý:
Một trong những mục đích quan trọng nhất của việc học là để bồi dưỡng tâm hồn, khơi dậy trong ta những khát vọng cao đẹp, làm cho bản thân “ngày càng mới, càng cao, càng rộng”; và khi khát vọng được thắp lên, con người sẽ cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn, nỗ lực nhiều hơn để vươn đến thành công...
VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH
(Văn chiêu hồn)
-Nguyễn Du-
[...]
(1) Cũng có kẻ vào sông ra bể, Cánh buồm mây chạy xế gió đông Gặp cơn giông tố giữa dòng, Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.
(2) Cũng có kẻ đi về buôn bán, Đòn gánh tre chín dạn hai vai, Gặp cơn mưa nắng giữa trời, Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?
(3) Cũng có kẻ mắc vào khoá lính, Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan, Nước khe cơm ống gian nan, Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.
(4) Buổi chiến trận mạng người như rác, Phận đã đành đạn lạc tên rơi. Lập loè ngọn lửa ma trơi, Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.
(5) Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp, Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già, Đâu chồng con tá biết là cậy ai?
(6) Sống đã chịu một đời phiền não Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? | (7) Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!
(8) Cũng có kẻ mắc oan tù rạc Gửi mình vào chiếu rách một manh. Nắm xương chôn rấp góc thành, Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?
(9) Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé, Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha. Lấy ai bồng bế vào ra, U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.
(10) Kìa những kẻ chìm sông lạc suối, Cũng có người sẩy cối sa cây, Có người leo giếng đứt dây, Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
(11) Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái Người thì sa nanh sói ngà voi, Có người hay đẻ không nuôi, Có người sa sẩy, có người khốn thương… (Trích “Văn tế thập loại chúng sinh”- Thơ văn Nguyễn Du) |
Văn bản được viết theo thể thơ: Song thất lục bát.
Nội dung chính của văn bản Văn tế thập loại chúng sinh là gì?
Nội dung chính của văn bản là: Nêu rõ tên và nguyên nhân dẫn đến cái chết của nhiều loại người trong xã hội.
Đối tượng được nhắc đến trong văn bản Văn tế thập loại chúng sinh là những ai?
Đối tượng được nhắc đến trong văn bản:
- Người đi đó đi đây (vào sông ra bể)
- Người sống bằng nghề buôn bán ( đi buôn về bán)
- Người bị bắt đi lính (mắc vào khoá lính)
- Người đàn bà lỡ làng
- Những đứa trẻ chết yểu,
- Người gặp nạn ở rừng, sông, hỏa hoạn…
Họ (những người được nhắc đến ở câu hỏi số 3) là những người có số phận thế nào trong văn bản Văn tế thập loại chúng sinh?
Họ (những người được nhắc đến ở câu hỏi số 3) là những người Bất hạnh, đáng thương, là phận nhỏ bé, bị vùi dập, sống trong khổ đau, chết trong oan ức.
Cuộc sống và thân phận của loài người được nhắc đến ở khổ thơ 2,3,4 được tái hiện qua những từ ngữ, hình ảnh nào trong văn bản Văn tế thập loại chúng sinh?
Cuộc sống và thân phận của loài người được nhắc đến ở khổ thơ 2,3,4 được tái hiện qua những từ ngữ, hình ảnh:
– Từ ngữ: Buôn bán; hồn đường, phách xá, lạc loài; mắc, khóa lính, gian nan, dãi dầu nghìn dặm, lầm than, lỡ làng, ngẩn ngơ, già.
– Hình ảnh: chín dạn hai vai; gồng gánh việc quan; mạng người như rác; đạn lạc tên rơi; buôn nguyệt bán hoa.
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu thơ sau: Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,... / Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành
- Biện pháp tu từ sử dụng trong câu thơ là: Liệt kê: chìm sông lạc lối; sẩy cối sa cây; leo giếng đứt dây; trôi nước lũ; lây lửa thành.
- Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm, tạo ra nhịp điệu cho câu thơ.
+ Khiến người đọc hình dung cụ thể hơn về những tai nạn bất ngờ mà họ (những loại người khác nhau) gặp phải trong cuộc sống.
+ Gợi nỗi niềm thương cảm, xót xa của nhân vật trữ tình với số phận bất hạnh, nhỏ bé bị vùi dập.
Nhận xét về ngôn ngữ và giọng điệu của văn bản Văn tế thập loại chúng sinh?
Nhận xét về ngôn ngữ và giọng điệu trong văn bản.
- Ngôn ngữ: giản dị, dễ hiểu và giàu cảm xúc
- Giọng điệu: buồn thương, da diết, khắc khoải,...
Qua văn bản Văn tế thập loại chúng sinh, em có suy nghĩ gì về tình cảm mà thi hào Nguyễn Du dành cho những kiếp người, hạng người, loại người trong xã hội lúc bấy giờ?
Cảm nhận về tình cảm của Nguyễn Du đối với những kiếp người/ loại người được nhắc đến:
- Nhà thơ đồng cảm, xót thương đối với những kiếp người nhỏ bé, vất vả, cô đơn trên dòng đời muôn nẻo.
- Tình yêu thương mà Nguyễn Du dành cho những kiếp người bất hạnh là biểu hiện của tấm lòng nhân đạo bao la.
=> Nhà thơ vừa tố cáo xã hội bất công vừa lên tiếng đòi quyền sống cho họ.
Để thu hút được người đọc mỗi tác phẩm sẽ có những yếu tố riêng. Một trong số những yếu tố làm nên sự thành công đó là yếu tố kì ảo. Đặc biệt là yếu tố kì ảo trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” và trong truyện cổ tích “Thạch Sanh”. Thông qua việc so sánh về yếu tố kì ảo sẽ giúp chúng ta thấy rõ dấu ấn sáng tạo của Nguyễn Dữ khi tiếp nhận những ảnh hưởng của văn học dân gian.
Trong câu chuyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” yếu tố kỳ ảo đầu tiên phải kể đến đó là sự xuất hiện của các nhân vật từ cõi âm ti, khác hẳn với các thể loại truyện thông thường mà nhân vật là thần thánh, thanh cao không nhiễm bụi trần, điều đó đã đem đến cho người đọc những trải nghiệm mới, kích thích trí tò mò cũng như gây ấn tượng sâu sắc với độc giả về cốt truyện. Nhân vật ở cõi âm đầu tiên, là khởi nguồn nên mọi diễn biến sau đó chính là tên tướng giặc họ Thôi bại trận, chết trên đất Việt, sau đó trở thành yêu quái chiếm miếu của Thổ công, quấy nhiễu dân chúng. Có thể thấy rằng đây là nhân vật phản diện điển hình nhất của truyện, lúc còn sống thì tên này làm giặc, chính vì thế khi chết đi cũng chỉ có thể làm yêu quái nhiễu loạn nhân gian, đời đời bị người ta khinh ghét sợ hãi. Không chỉ vậy tên giặc này còn phản ánh một hiện thực của đời sống ấy là nạn tham quan hoành hành, làm cho nhân dân lầm than, điều đó thể hiện qua việc hắn đút lót tham quan, bưng bít cả thượng đế để làm trò bạo ngược. Đến khi nhân vật Ngô Tử Văn đại diện cho chính nghĩa, thay trời hành đạo tự tay đốt đi ngôi đền, khiến hắn không còn chỗ trú, thì tên này lại ngang nhiên giả dạng tiến vào giấc mộng của Tử Văn, cảnh cáo bắt chàng dựng lại đền bằng những lời lẽ rất mực oai nghiêm, văn vở. Nhưng thấy Tử Văn vẫn điềm nhiên thấy chết không sờn thì quay ra tức giận, trở mặt làm trò dọa dẫm "Phong đô không xa xôi gì, tuy ta hèn nhưng há lại không đem nổi nhà ngươi đến đấy. Không nghe lời ta rồi sẽ biết". Và y như rằng ngay tối ấy tên giặc này đã không tha cho Tử Văn mà khiến chàng phải xuống hầu cõi âm ti. Trước điện Diêm Vương, tên này lại lần nữa đóng vai Thổ công bị đốt đền, lời lẽ điêu ngoa, lươn lẹo, nhằm buộc tội khiến Tử Văn phải bị trừng phạt. Tuy nhiên đến lúc thấy Tử Văn có bằng cớ chứng minh tội trạng của hắn, thì tên này lập tức lật mặt giở giọng nhân từ, cầu xin Diêm Vương tha cho Tử Văn nhằm thoát tội, với lời lẽ thể hiện sử giả nhân giả nghĩa vô cùng: "...xin đại vương tha cho hắn để có cái đức rộng rãi. Chẳng cần đòi hỏi dây dưa, nếu chẳng may trị tội nó sợ sẽ làm hại đến đức hiếu sinh", câu nào câu ấy cũng lấy nhân đức đặt lên trên đầu lưỡi, nhưng thực tế rằng tên này đang sợ chuyện của mình bại lộ, nên mới vội bưng bít như thế. Quả là giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, chết đến nơi vẫn không quên lươn lẹo, và kết cục của tên này cũng chẳng thể nào tốt đẹp bằng việc bị nhét gỗ vào miệng rồi đày xuống ngục Cửu U.
Nhân vật thứ hai chính là Thổ công, trong truyện miêu tả đây là một vị quan dưới thời Lý Nam Đế, vì có công giúp vua giữ nước mà chết thế nên được ban cho chức Thổ công và một ngôi đền, hưởng hương khói của nhân dân. Khi đến gặp Tử Văn thì hiện lên với phong thái nhàn nhã, khoan thai, áo vải mũ đen, là người hiền lành, trung thực, nên phải chịu nhún nhường cho tên giặc họ Thôi làm loạn. Có thể thấy rằng thổ công là nhân vật đại diện cho phe chính nghĩa, là người bị hại, phải chịu khốn đốn trước vấn nạn tham quan và gian thần nịnh nọt. Trong truyện nhân vật này chính là người đã chỉ điểm cho Ngô Tử Văn khi phải hầu Diêm Vương dưới âm ti, và giúp chàng thắng kiện còn tên giặc họ Thôi kia phải chịu trừng phạt. Sự kết hợp của Thổ công và Ngô Tử Văn trong truyện nhiều lần khiến ta liên tưởng đến sự giúp đỡ của thần, phật với nhân vật chính trong các câu chuyện dân gian, cổ tích. Chỉ khác một chút rằng, ở đây Ngô Tử Văn không hoàn toàn dựa vào những lời dạy của Thổ công mà quan trọng nhất vẫn là dựa vào khí khái, tinh thần dũng cảm của bản thân và tấm lòng trung thực, không sợ kẻ ác của nhân vật này. Sự kết hợp của Thổ công và Ngô Tử Văn có thể liên tưởng đến sự đoàn kết của nhân dân ta trong quá trình chống giặc ngoại xâm, thì ở đây là sự đoàn kết của phe chính nghĩa khi đối diện với cái ác, cái xấu hoành hành.
Nhân vật Diêm Vương là người đứng đầu cõi minh ti, trong truyện đóng vai trò là người phán xử. Lúc đầu khi đứng trước lời tố cáo đầy gian dối và lươn lẹo của tên tướng giặc họ Thôi, thì Diêm Vương đã bị lừa gạt và đâm ra trách phạt Tử Văn vì cớ sao lại phá đền, chốn thần phật nương náu. Tuy nhiên sao một hồi tranh cãi phân xử, lại thấy Ngô Tử Văn đưa ra được chứng cứ xác thực thì Diêm Vương đã lập tức nhận ra sự thật, trả lại công bằng cho Tử Văn đồng thời xử phạt tên giặc họ Thôi kia để trừng trị cái tính gian tà, chuyên làm điều ác quấy nhiễu nhân dân, lại còn thích mồm loa mép dải. Những nhân vật khác như quỷ Dạ xoa, quỷ sứ góp phần làm cho chốn âm ti thêm sinh động, nhiều màu sắc, thể hiện được sự uy nghiêm, cẩn trọng nơi địa phủ từ đó khơi gợi cảm giác hứng thú cho người đọc.
Cuối cùng là nhân vật Ngô Tử Văn, nhân vật chính của câu chuyện, ngoài việc nằm mộng thấy tên tướng giặc họ Thôi, rồi bị đưa xuống âm phủ chịu tội, thì yếu tố kỳ ảo và gây ấn tượng nhất của nhân vật này đó là việc chết đi rồi sống lại sau khi diện kiến Diêm Vương. Điều đó bộc lộ một chân lý đúng đắn, ở hiền gặp lành, người tốt sẽ được đền đáp xứng đáng, chứ không phải chịu chết một cách oan khuất, chứng minh sự hiện diện của lẽ phải không chỉ ở chốn trần gian mà ở bát cứ nơi đâu, kể cả ở chốn âm ti, người vốn đang ở đâu sẽ được trả về chỗ ấy để hưởng cho hết cái phúc phần dương gian của mình. Rồi sau đó nhận lời của Thổ công không bệnh mà mất, để đến ở cõi tiên hưởng cái phúc phần của tiên gia, âu cũng xem là một cái kết hậu trong hậu.
Còn với truyện cổ tích “Thạch Sanh”, Thạch Sanh là thái tử do Ngọc Hoàng phái xuống đầu thai làm con vợ chồng nhà nọ. Bà mẹ mang thai mấy năm mà không sinh. Khẳng định nguồn gốc cao quý, tài năng phi thường của Thạch Sanh. Sau đó, được thiên thần dạy đủ các môn võ nghệ, mọi phép thần thông. Khẳng định nguồn gốc cao quý, tài năng phi thường của Thạch Sanh. Tiếp theo là cậu giết chằn tinh và đại bàng nhằm khẳng định nguồn gốc cao quý, tài năng phi thường của Thạch Sanh. Cứu con trai vua Thủy Tề và được mời xuống chơi Thủy Cung, khẳng định chân lí người hiền sẽ gặp lành. Hồn chằn tinh và đại bàng tìm cách vu oan cho Thạch Sanh. Thể hiện sức sống dai dẳng của cái ác. Niêu cơm thần ăn mãi không hết, thể hiện ước mơ về cuộc ống no đủ của nhân dân lao động. Còn cây đàn thần làm cho Thạch Sanh giải oan nó còn làm cho đất nước hòa bình. Điều này tượng trưng cho công lí, cho sức mạnh của chính nghĩa. Những chi tiết này nhằm tăng sức hấp dẫn cho truyện thể hiện quan niệm của người dân lao động về công lí và mơ ước ở đời.
Như vậy có thể thấy rằng, các yếu tố kì ảo, hoang đường trong tác phẩm không chỉ góp phần làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, kịch tính, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Mà quan trọng hơn nó còn góp phần làm nổi bật chủ đề, nội dung và tính cách của từng nhân vật theo tuyến thiện - ác, từ đó phản ánh mơ ước của nhân dân ta về một thế giới công bằng bình đẳng, chân lý "ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác" được thực thi ở muôn nơi không kể chốn nhân gian hay cõi âm ti địa ngục.
BÁO CÁO KẾT QUẢ BÀI TẬP DỰ ÁN:
SỨC MẠNH CỦA TIẾNG CƯỜI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM HÀI KỊCH
1. Mục tiêu của dự án: nghiên cứu và phân tích sức mạnh của tiếng cười qua một số tác phẩm hài kịch nổi tiếng.
2. Nội dung của dự án:
- Tìm và đọc một tác phẩm hài kịch nổi tiếng
- Nêu ý nghĩa của tiếng cười hài kịch
- Sưu tập các văn bản hài kịch.
3. Kết quả thực hiện
* Sản phẩm 1: bài phân tích, đánh giá sức mạnh của tiếng cười trong văn bản hài kịch
Tiếng cười là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tiếng cười trong hài kịch có ý nghĩa lớn đối với đời sống của con người bởi tiếng cười trong hài kịch là lấy từ những câu chuyện cuộc sống. Đó có thể là tiếng cười châm biếm, đả kích, giễu cợt, cái cười vui đối với xã hội. Quan trọng hơn cả, tiếng cười trong hài kịch là một phương tiện để truyền tải, phê phán mặt xấu của xã hội, đó là hình thức phê phán đặc biệt để khẳng định cái mới, cái tốt đẹp. Từ đó, giúp thay đổi nhận thức, tư tưởng của con người giúp chúng ta hướng tới những thứ tốt đẹp.
Trong vở kịch Quan Thanh Tra của Gogol, tiếng cười không chỉ phản ánh, phê phán hiện thực với các thói hư tật xấu của con người trong xã hội mà nhà văn muốn khán giả nhìn nhận vào chính bản thân mình, nhìn vào con người bên trong sự thật của chính mình, đưa ra lời cảnh báo cho khán giả về lối sống trỗng rỗng, không có ý nghĩa hiện tại. Tiếng cười là phản ứng cảm xúc của con ngươi trong ý thức thẩm mĩ của nó khi nhận thức các hiện tượng thực tại mang các xung đột hài kịch. Như vậy, cái cười trong cái hài là cái cười đặc biệt nhằm vào đối tượng cụ thể, là cái cười có mục đích và ý nghĩa xã hội sâu sắc.
* Sản phẩm 2: 1 bộ sưu tập các văn bản hài kịch
- Tác phẩm Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ
- Tác phẩm Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ của Sếch-xpia
- Tác phẩm Quan Thanh Tra của Gogol
* Sản phẩm 3: bộ tranh minh họa về một số nhân vật trong tác phẩm hài kịch
4. Đánh giá, nhận xét
Tiếng cười trong hài kịch có sức mạnh to lớn tỏng việc tạo ra niềm vui và hạnh phúc. Nó là một công cụ quan trọng để tạo ra sự kết nối và hiểu biết lẫn nhau.
Trong thể loại nhật kí, đã có không ít tác giả khám phá và tạo ra những tuyệt tác mang nỗi tâm tư sâu lắng và ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Đặng Thùy Trâm cũng vậy, mặc dù đã ra đi nhưng cô đã để lại một áng văn đẹp đẽ mang nhiều cảm xúc và hơi thở một thời đã qua, ấy chính là “Nhật kí Đặng Thùy Trâm”. Đối sánh với tác phẩm này, có thể kể đến đoạn trích “Một lít nước mắt” của cô bé Ki-tô A-ya. Cả hai đoạn trích đều là những hơi thở cuối cùng còn sót lại của tác giả đối với cuộc đời. Xuyên suốt tác phẩm, không chỉ là dòng cảm xúc sâu lắng và ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà nổi bật lên đó chính là nghệ thuật trần thuật đặc sắc.
Nghệ thuật trần thuật được thể hiện đầu tiên qua người kể chuyện đều là chính tác giả, nhân vật trung tâm là tác giả, nhật ký gắn với ngôi kể thứ nhất. Mọi việc được ghi chép ra đều được soi ngắm qua tác giả. Với ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện chứng kiến sự việc bằng tất cả giác quan của mình. Nói đến thể loại nhật ký chủ yếu sử dụng hình thức ngôi kể thứ nhất xưng “tôi”, “mình”. Bởi vậy mà yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan trọng nhất trong nhật ký. Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự, trò chuyện của người viết với chính bản thân họ.
Từ điểm nhìn và người kể chuyện là chính tác giả mà nội dung câu chuyện được trần thuật cũng là những sự việc và trải nghiệm cá nhân. Ở “nhật kí Đặng Thùy Trâm” đó là những công việc hằng ngày của tác giả và câu chuyện về những thanh niên hiếu học, mạnh mẽ, kiên cường – những người anh hùng vô danh. Đó là sự hi sinh, đánh mất những ước mơ, hoài bão cá nhân và tuổi thanh xuân cống hiến cho chiến trận. Cuối cùng là nỗi nhớ nhà da diết sâu thẳm trong trái tim tác giả và sự kiên cường vượt qua những cảm xúc cá nhân và bao gian khó trên chiến trận. Trong “Một lít nước mắt” xoay quanh sự việc A-ya phải chống chọi với căn bệnh nan y nhưng vẫn lạc quan, hi vọng. Cô bé phải một mình xoay sở với cú ngã cũng như các hoạt động thường ngày. Một kí ức nhiều cảm xúc nhất có lẽ là lúc cô bé thông báo cho mẹ rằng mình không thể đi được nữa. Cuối đoạn trích là mặc cảm cá nhân, những cảm xúc tiêu cực về bệnh tật nhưng nhanh chóng được xóa bỏ bởi ánh sáng lạc quan trong cô bé.
Thêm nữa, ta có thể nhận thấy ở cả hai tác giả đều có dòng cảm xúc tự sự giống nhau, ở họ đều mang một khát vọng giống nhau, đó là được tự do. Đặng Thùy Trâm mong muốn giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Còn A-ya khát khao giành lại tự do cho chính bản thân mình, để có thể đi, đứng, chạy nhảy, làm bất cứ điều gì cô thích. Đặc biệt ở họ đều có một sự mạnh mẽ, lạc quan phi thường.
Đều là những con người có nhiều cảm xúc, cũng có những phút yếu lòng, nhưng sau tất cả, họ nhanh chóng vượt thoát ra khỏi những cảm xúc tiêu cực, nhìn về phía trước, tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh của mình.
Giống nhau về tâm trạng, cảm xúc và lẽ sống là vậy, hai tác giả lại có sự khác nhau về công việc và quan hệ xã hội. Một bên là cô bé A-ya chỉ vỏn vẹn trong vòng tay mẹ, một bên là nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm một ngày phải tiếp xúc rất nhiều người. Cũng chính điều này đã tạo ra sự khác biệt về tình cảm. Nếu A-ya chủ yếu bộc lộ tình cảm với người mẹ thì ở tác giả Đặng Thùy Trâm, cô không chỉ có tình cảm gia đình, nỗi nhớ thương quê hương, mà còn rất nhiều tình cảm yêu thương lẫn ngưỡng mộ những bạn trẻ, nào Liên, nào Thuận - những người anh hùng vô danh.
Ngoài ra, một điểm đặc biệt trong nghệ thuật trần thuật của hai tác giả đó là trong nhật kí đều có sự kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả, nghị luận, trữ tình. Ở nhật kí Đặng Thùy Trâm, sự kết hợp đó được thể hiện qua một số đoạn văn như “Thuận vừa mới khóc cha chết, hai chiếc tang còn nặng trên ngực nhưng nụ cười đã trở lại trên đôi môi nhợt nhạt...cũng là một hình ảnh mà mình cần học tập”; “Từ hàng lim xào xạc trên đường Đại La, từ tiếng sóng sông Hồng dào dạt vỗ đến cả âm thanh hỗn tạp của cuộc sống hủ đô vẫn vang vọng trong con không một phút nào nguôi cả.”; “con trở về giữa vòng tay êm ấm của ba má, trong tiếng cười trong trẻo của các em và trong ánh sáng chan hoà của Hà Nội.”. Ở một lít nước mắt, sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật được thể hiện qua các đoạn văn như “Mùa xuân rồi cũng qua đi, những cánh hoa bay lả tả lọt qua cửa xe hơi, mình đưa tay đón lấy, chợt một cảm giác ấm áp như tình yêu thương của mẹ dâng tràn, cảm giác thật an lành.” Hay trong đoạn “mình cứ liên tục trồi lên ngụp xuống tron bồn tắm. Nhưng kì lạ thật, mình không hề có cảm giác là mình sẽ chết. Thay vào đó, mình được nhìn thấy một thế giới trong suốt, có lẽ thiên đường cũng như vậy chăng?.”; “Mình bò đến bên nhà vệ sinh cách đó ba mét, hành lang lạnh cóng. Thoạt tiên, lòng bàn chân mình còn mềm mềm. Nhưng dần dần, đầu gối và lòng bàn tay lẫn bàn chân đều trở nên cứng đờ”. Có thể thấy, sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật ở cả hai tác phẩm đều đưa đến hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin sự kiện, đặc điểm tính cách và gia tăng tính biểu cảm cho câu chuyện.
Thông qua hai đoạn trích, bên cạnh dòng cảm xúc sâu lắng trong những dòng tự thuật của tác giả, ta còn nhận ra nghệ thuật trần thuật đặc sắc thể hiện qua lời tự thuật, ngôi kể,….Đặc biệt là thủ pháp nghệ thuật kết hợp trần thuật với miêu tả, nghị luận, trữ tình. Giữa hai tác giả tuy có những điểm giống và khác nhau tuy nhiên, ở họ đều mang đến những áng văn tự sự độc đáo và đầy diễn cảm, những áng văn ấy như một thứ ánh sáng diệu kì, xuyên thấu vào tâm hồn độc giả, đưa đến những dòng cảm xúc tuy đượm buồn nhưng vô cùng đẹp đẽ.
Viết bài nghị luận về một vấn đề có liên quan đến tuổi trẻ.
Từ lâu, thưởng thức âm nhạc đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của giới trẻ. Âm nhạc giúp các bạn giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi và muộn phiền trong đời sống thường nhật. Tuy nhiên, do trào lưu âm nhạc đã và đang chạy theo sự hối hả của cuộc sống, của kinh tế thị trường, dẫn đến tình trạng rối ren, xô bồ… Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến “gu” thưởng thức âm nhạc của giới trẻ.
Âm nhạc là sự kết hợp tinh tế của các giai điệu, nhịp điệu, và độ cao thấp để tạo nên một tác phẩm âm nhạc đa dạng, có thể mang theo cảm xúc sâu sắc. Nó không chỉ là âm thanh mà còn là ngôn ngữ của tâm hồn. Âm nhạc có thể tồn tại mà không cần từ ngôn ngữ, và còn có thể được bổ sung bằng lời bài hát để truyền đạt thông điệp. Có nhiều thể loại âm nhạc như giao hưởng, cổ điển, trữ tình, hiện đại,... Mọi thể loại âm nhạc đều sử dụng những nhạc cụ đặc trưng như piano, guitar, sáo, trống,... Mỗi thể loại và giai đoạn lịch sử mang đến một phong cách riêng. Tên gọi của âm nhạc đặt ra để phản ánh sự đa dạng này. Âm nhạc đã xuất hiện từ thời tiền sử, được ghi chép qua những bảo tàng khảo cổ từ thời đồ đá. Tại Ai Cập cổ đại, âm nhạc đã được khắc lên tường của Kim Tự Tháp, cùng với bằng chứng về các nhạc cụ gõ và đàn dây,... Ôm trọn trong âm nhạc là câu chuyện đời sống, chân thật và chính xác. Trong âm nhạc, chúng ta có thể tìm thấy những tình cảm và trải nghiệm hàng ngày, từ tình yêu đến niềm tự hào về quê hương, từ niềm vui với mùa màng tốt đẹp đến những nỗi đau thương về quê hương,... Mọi khía cạnh của cuộc sống đều được ánh sáng qua âm nhạc, với từng lời ca phản ánh đúng tâm trạng và nhu cầu của đa số người dân.
Âm nhạc là một diễn đàn khách quan thể hiện mong muốn, tâm lý và cảm xúc của con người. Các bản nhạc nổi tiếng và được yêu thích của mỗi nền văn hóa hay quốc gia chủ yếu đồng thuận với ước muốn chung của cộng đồng. Giai điệu dễ nhớ, là ngôn ngữ của nguyện vọng thông qua những bản ca anh hùng, và là biểu tượng của tình yêu thông qua những bản tình ca lãng mạn. Với nhu cầu âm nhạc ngày càng lớn, phục vụ mọi độ tuổi và tầng lớp, âm nhạc là kênh giao tiếp mạnh mẽ giữa con người và con người. Ở Việt Nam, thiếu nhi thích những bản nhạc vui nhộn, tươi sáng, những bài hát dễ thuộc và dễ nghe. Qua đó, trẻ em có thể học những giáo lý nhân cách và lời ca tốt. Thanh thiếu niên thì thích những bản nhạc phản ánh rõ nét tính cách cá nhân. Dựa trên thể loại âm nhạc yêu thích, có thể phần nào đánh giá con người, người yêu thích nhạc nhẹ thường thể hiện sự bình tĩnh, trong khi những người hâm mộ nhạc sôi động thường thể hiện tính cách hoạt bát, năng động. Người lớn thì thích nghe những bài hát trữ tình, những giai điệu làm cho họ nhớ về những thời kỳ quá khứ...
Với khả năng tác động mạnh mẽ lên tâm lý và tư tưởng, âm nhạc không chỉ là một phương tiện giải trí mà còn là công cụ có khả năng chữa trị và tăng cường sự phát triển tinh thần. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, việc phát nhạc giao hưởng cho em bé giúp nâng cao trí thông minh. Việc học đàn, đặc biệt là đàn piano, không chỉ phát triển cả hai nửa não một cách đồng đều mà còn rèn luyện tính kiên trì và nhẫn nại. Từ những năm 1940, âm nhạc đã được tích hợp vào lĩnh vực y học, trở thành phương pháp trị liệu nhằm cải thiện kỹ năng giao tiếp của bệnh nhân tại Mỹ. Thông tin thống kê chỉ ra rằng 35% bệnh nhân tại Mỹ đang được điều trị bằng phương pháp âm nhạc. Với khả năng cải thiện tuần hoàn máu, làm dịu tâm trạng và giảm căng thẳng, âm nhạc ngày càng trở thành một phương tiện quan trọng trong y học, giúp con người giảm áp lực, mở rộng tầm nhìn và phục hồi tâm hồn một cách hiệu quả.
Âm nhạc là một loại hình nghệ thuật phi ngôn ngữ, nơi giai điệu gửi gắm cảm xúc và vượt qua rào cản ngôn ngữ. Dù bài hát có ngôn ngữ nào, nhưng sức mạnh của giai điệu tạo ra sợi dây cảm xúc vô hình, kết nối những tâm hồn khác nhau. 'Khi ngôn ngữ trở nên bất lực, âm nhạc lên tiếng', âm nhạc là ngôn ngữ toàn cầu mà ai cũng có thể cảm nhận.
Âm nhạc, giống như mĩ thuật, là bức tranh phản ánh văn hóa và lịch sử của mỗi quốc gia. Phương Tây sử dụng nhạc cụ công phu như kèn đồng và piano, phản ánh sự phát triển công nghiệp. Ngược lại, phương Đông ưa thích âm nhạc đơn giản với những nhạc cụ tự nhiên như ống tre, trúc. Âm nhạc là một phần quan trọng trong lễ hội, mang lại bản sắc cho mỗi vùng miền.
Âm nhạc, mặc dù gắn liền với cuộc sống, nhưng cũng có sức ảnh hưởng đáng kể đối với tâm lý và tư tưởng. Việc lựa chọn âm nhạc phù hợp là quan trọng, vì những bài hát không phù hợp có thể ảnh hưởng xấu đến nhận thức và hành vi của giới trẻ. Bậc phụ huynh cần chú ý để hỗ trợ con phát triển toàn diện và tận hưởng âm nhạc có ý nghĩa.
Âm nhạc và cuộc sống là hai khía cạnh tương đồng và đồng bộ. Mỗi người có một gu âm nhạc riêng, hãy chọn lọc những bản nhạc ý nghĩa để làm phong phú tâm hồn. Cuộc sống với âm nhạc trở nên đa dạng và phong phú hơn.
Viết bài nghị luận về vai trò của văn học đối với tuổi trẻ.
Chimamada Ngozi Adiche từng nói rằng: “Văn học có khả năng thay đổi tư tưởng và cảm xúc của chúng ta”. Trong suốt quá trình đọc sách của bản thân, tác phẩm văn học đã để lại ấn tượng sâu sắc nhất và cho tôi nhiều bài học giá trị là Nhật kí Đặng Thùy Trâm.
Nhật kí Đặng Thùy Trâm là tập nhật kí của nữ bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm được viết tay từ năm 1968 đến 1970. Đây là những dòng ghi chép chân thực về cuộc sống hằng ngày nơi tuyến đầu chống đế quốc Mỹ, về nỗi đau của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh và cả ước mơ, khát khao cháy bỏng ngày đất nước hòa bình để tác giả được trở về với gia đình, với Hà Nội thân yêu. Mỗi dòng nhật kí đều chất chứa những tâm tư, tình cảm của đứa con xa nhà, luôn mong muốn khát khao được về bên gia đình.
Nhật ký Đặng Thùy Trâm là một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật vô cùng đặc sắc. Trước hết, tác phẩm đã sử dụng từ ngữ mộc mạc, gần gũi tạo cảm giác như đang trò chuyện với độc giả. Nghệ thuật kể chuyện chân thật được thể hiện qua các mốc thời gian cụ thể (đặc trưng thể loại nhật kí). Đồng thời, thủ pháp nghệ thuật miêu tả kết hợp với trần thuật được sử dụng xuyên suốt trong tác phẩm:
“ Những ngày bận rộn trong công tác dồn dập, thương nặng, người ít, mọi người trong bệnh xá đều hết sức vất vả. Riêng mình, trách nhiệm càng nặng nề hơn bao giờ hết, mỗi ngày làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm khuya. Khối lượng công việc quá lớn mà người không có nên một mình mình vừa phải phụ trách bệnh xá, vừa lo điều trị, vừa giảng dạy. Vô cùng vất vả và cũng còn nhiều khó khăn trong công việc, nhưng hơn bao giờ hết mình cảm thấy rằng mình đã đem hết tài năng, sức lực của mình….trong công tác bên giường bệnh.”.
Qua đó, việc miêu tả sự kiện và nhân vật trong nhật kí hiện lên sinh động, đã khắc họa khung cảnh chiến đấu ác liệt nơi chiến trường với biết bao nhiêu chiến sĩ đã bị thương nặng. Đồng thời, góp phần thể hiện tính cách nhân vật Thùy Trâm: là một bác sĩ luôn hết mình vì công việc cứu chữa bệnh nhân và luôn cống hiến hết tài năng, sức lực của bản thân cho cách mạng; là một cô gái có lý tưởng cao đẹp, luôn muốn cống hiến cho đất nước. Tác phẩm đã phản ánh sự tàn phá khốc liệt, hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh cùng khát vọng hòa bình, độc lập của nhân dân ta.
Nguyễn Quang Thiều đã từng nói rằng “Không có gì mang tính chính xác về cuộc chiến tranh hơn những trang nhật kí của những người lính”. Trong nhật kí Đặng Thùy Trâm, mỗi câu chuyện qua từng trang nhật kí đã đưa người đọc trở lại về thời kì lịch sử đầy vẻ vang nhưng cũng vô cùng ác liệt tàn khốc của chiến tranh. Sau mỗi lần quân địch tấn công thì số người bị thương tăng lên rất nhiều, nữ bác sĩ trẻ đã dành toàn bộ tâm huyết, sức lực của mình để chữa trị cho bệnh nhân. Điều đó khiến cho bản thân tôi, một đứa trẻ may mắn được sinh ra trong thời kì đất nước hòa bình, cảm thấy vô cùng xúc động, biết ơn và trân trọng cuộc sống ngày hôm nay.
“ Ôi! Có ai hiểu lòng con ao ước được về sống giữa gia đình, dù chỉ một giây lát đến mức nào không? Con vẫn hiểu điều đó từ lúc bước chân lên chiếc ô tô đưa con vào đường bom đạn. Nhưng con vẫn ra đi vì lý tưởng”
Đối với bất kỳ ai, rời xa gia đình là việc thực sự khó khăn huống chi là cô gái mới ở độ tuổi đôi mới. Chính vì thế, khi nhận được bức thư của mẹ, Thùy Trâm mong muốn được về nhà, dù chỉ trong giây lát cũng được. Đây là một ước mơ thật giản dị nhưng cũng xúc động biết bao. Nhưng sau tất cả, cô gái ấy vẫn ra đi vì lý tưởng phía trước, lý tưởng để đất nước giành được độc lập. Bởi cô tin rằng ngày mai đất nước hòa bình thì bản thân sẽ được sống những ngày tháng tươi đẹp trước đây. Và giờ đây, nỗi nhớ gia đình đã trở thành động lực để tiếp thêm sức mạnh cho cô tiếp tục thực hiện lý tưởng của mình.
Khi đọc từng trang nhật kí đầy cảm xúc, trong bản thân tôi có rất nhiều suy nghĩ trước hình ảnh người con gái đã không ngần ngại bỏ lại sau lưng mình tuổi trẻ, tình yêu, gia đình... để lên đường chiến đấu vì sự độc lập toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là lòng cảm phục, ngưỡng mộ trước sự hy sinh, kiên cường đầy bản lĩnh của rất nhiều người lính chiến đấu trên chiến trường. Là sự tự hào, biết ơn sâu sắc với những thế hệ đi trước đã có công lao giữ vững nền độc lập dân tộc.
Câu chuyện của Đặng Thùy Trâm đã giúp bản thân tôi có được những bài học sâu sắc về lẽ sống đẹp: sống cống hiến, không sợ gian nan, phải có nghị lực vươn lên trước những thử thách chông gai. Sau đó, tôi cần xác định một mục tiêu rõ ràng để phấn đấu trong cuộc sống. Để thực hiện điều này, tôi cũng phải trau dồi kiến thức, các kĩ năng cần thiết từ đó hoàn thiện bản thân. Trước khó khăn không nên né tránh, nao núng mà phải quyết tâm vượt lên hoàn cảnh của chính mình, dựa vào khả năng của chính mình chứ không phải dựa dẫm, ỷ lại người khác
Thùy Trâm đã ra đi khi mới 27 tuổi nhưng ngọn lửa cống hiến trong trái tim cô thì vẫn còn sống mãi và ngọn lửa ấy sẽ luôn là nguồn cảm hứng cho thế hệ trẻ mai sau.

