Bộ 10 đề thi cuối kì 1 Ngữ Văn 7 Cánh diều cấu trúc mới có đáp án - Đề 1
8 câu hỏi
(1) Có thể nói, cả cuộc đời cô Tấm (truyện cổ tích Tấm Cám) là một quá trình đấu tranh gian khổ của cái thiện chống cái ác để giành hạnh phúc. Tấm đã trải qua những gian khổ gì? Cô đã đấu tranh như thế nào? Trước khi náu mình trong quả thị, Tấm đã nhờ cậy ai, nương náu ở đâu? Ở tuổi ấu thơ, cô bé mồ côi hiền lành chất phác ấy thật tội nghiệp. Cô liên tục bị lợi dụng, bị lừa gạt. Vũ khí của cô là những giọt nước mắt, là những tiếng khóc. May sao, Tấm được bụt giúp đỡ. Từ việc bắt cua, nuôi bống, đến việc nhặt thóc, dự hội, ướm giày, cô đều giành thắng lợi. Đó là chiến thắng của những giọt nước mắt đau khổ, của tuổi thơ giàu ước mơ hướng thiện. Có thể nói, chặng đầu của cuộc đời Tấm chủ yếu là đấu tranh dành sản phẩm vật chất, dù sao cũng đơn giản. Tấm chẳng phải nương náu ở đâu, chẳng phải nhờ cậy ai, vì lúc nào Bụt (tình thương và mong ước của nhân dân) cũng ở bên, lắng nghe, dìu dắt, hướng dẫn cô. Bước vào chặng đường thứ hai, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu, thì cuộc đời không đơn giản nữa. Giờ đây không còn nói chuyện mấy con cua, con cá bống, đôi hài, mấy tấm áo mà là chuyện hạnh phúc lứa đôi, là cuộc sống giàu sang vương giả hay nghèo hèn khốn khó. Cái ác không chỉ lừa gạt, lợi dụng. Nó nham hiểm, tàn bạo hơn bội phần. Vậy mà Tấm vẫn hồn nhiên, thật thà, chất phác như ngày nào. Thế là bi kịch ập đến. Tấm bị giết hại, cái thiện bị truy kích, săn đuổi ráo riết, khốc liệt[…]. Vũ khí chiến đấu mà Tấm sử dụng là gì? Là những lời cảnh cáo, răn đe: “…lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra!”. So với tuổi thơ chỉ biết khóc, chỉ biết nương nhờ vào tình thương, vào phép màu của Bụt, thì đây là tiếng nói của lòng căm thù, là sự trỗi dậy của sức sống.
(2) Dường như “rút kinh nghiệm” những lần thất bại trước, lần này Tấm ra khỏi hoàng cung, thu nhỏ mình lại, náu mình trong trái thị treo tít trên cao, xa rời bọn quyền quý ác độc, xa cả những kẻ phàm phu tầm thường. Đây là thành lũy của đất trời, của nắng hồng, gió mát, của cây quả xanh tươi.
(3) Đáng yêu sao, trái thị đã hút hương thơm, mật ngọt từ mảnh đất quê hương Việt Nam, không chỉ là chốn nương thân vững chãi cho cô gái mồ côi chất phác mà thông minh, bền bỉ chiến đấu giành lại hạnh phúc, mà còn là bạn bè thơm thảo của biết bao tâm hồn Việt Nam giàu ước mơ, khát vọng. Trái thị thơm là ánh ngọc lung linh trong viên ngọc cổ tích Tấm Cám - biểu tượng cho lòng nhân hậu, trí sáng tạo kỳ diệu của nhân dân ta. Đó là một hình tượng thẩm mỹ đầy ám ảnh - sẽ mãi hấp dẫn, mời gọi chúng ta ngắm nhìn, suy ngẫm…
(Trích “Trái thị thơm chốn nương thân vững chãi” - Vũ Dương Quỹ, Văn học và Tuổi trẻ, Số tháng 9.2008, trang 12, NXBGD - Bộ Giáo dục và Đào tạo)
Các đoạn trích trên chủ yếu bàn về vấn đề gì?
Hình ảnh ông Bụt thể hiện ước mong lớn nhất của nhân dân ta là gì?
Câu văn: “Trái thị thơm là ánh ngọc lung linh trong viên ngọc cổ tích Tấm Cám - biểu tượng cho lòng nhân hậu, trí sáng tạo kỳ diệu của nhân dân ta” sử dụng phép tu từ nào? Nêu tác dụng?
Nếu được ông Bụt hiện thực hóa một điều ước, em sẽ gửi tới ông điều ước gì? Vì sao em ước như vậy?
Theo em, bài học lớn nhất từ câu chuyện Tấm Cám là gì?
Từ ngữ liệu trên trong phần Đọc - Hiểu. Theo em, chúng ta cần làm gì để bảo vệ mình trước cái xấu, cái ác? Trình bày ý kiến của em bằng đoạn văn (5 - 7 câu).
Viết bài văn phân tích về nhân vật Vịt con trong câu chuyện sau đây.
TÌNH BẠN
Thím Vịt bận đi chơi xa, đem con đến gửi cho bác Gà mái mẹ. Gà mái mẹ gọi con ra chơi với Vịt con. Gà con xin phép mẹ dẫn Vịt con ra vườn chơi tìm giun để ăn.
Gà con nhanh nhẹn đi trước, Vịt con lạch bạch theo sau. Thấy Vịt con tỏ ra chậm chạp, Gà con có vẻ không thích lắm. Ra tới vườn Gà con bới đất tìm giun, ngón chân của Vịt con có màng nên không bới đất được. Vịt con cứ lạch bạch khiến đất bị nén xuống, Gà con không tài nào tìm giun được. Gà con tức quá nói với Vịt con:
- Bạn chẳng biết gì cả, đi chỗ khác chơi để tôi bới một mình vậy. Vịt con thấy là Gà con cáu với mình cũng buồn, liền bỏ ra ao tìm tép ăn. Một con cáo mặt xanh đuôi dài, nấp trong bụi rậm, thấy Gà con đi tìm mồi một mình định nhảy ra vồ.
Gà con sợ quá vội “ba chân bốn cẳng” chạy ra bờ ao, Gà con vừa chạy vừa kêu: “chíp… chíp…chíp...”. Vịt con đang lặn hụp tìm tép, nghe tiếng bạn gọi Vịt con bơi nhanh vào bờ kịp cõng bạn ra xa. Cáo chạy tới bờ đã thấy Gà, Vịt ở giữa ao sâu, chờ mãi không được, Cáo liếm mép bỏ đi. Nhờ Vịt có đôi chân như mái chèo bơi rất nhanh mà Gà con thoát chết. Lúc này, Gà con mới thấy việc mình đuổi Vịt con là không nên và xin lỗi bạn. Vịt con không giận mà còn mò tép cho Gà con ăn. Từ đấy mỗi khi Vịt con đến chơi, Gà con mừng tíu tít đi tìm giun cho Vịt con ăn. Gà con nhanh nhẹn đi trước, Vịt con lạch bạch theo sau. Hai bạn Gà, Vịt rất quý mến nhau.
(101 Truyện kể con nghe, trang 43 - 44, Nhà xuất bản thanh niên, 2008)
