PHẦN GIÁO LÝ (P2)
104 câu hỏi
Tội là gì ?
Tội là lời nói, việc làm trái với Luật Chúa dạy.
Tội là lời nói, việc làm xúc phạm đến Chúa, làm hại chính mình và người khác.
Tội là lời nói, việc làm hoặc ước muốn trái với Luật Chúa dạy, là xúc phạm đến Chúa, làm hại chính mình và người khác.
Cả A, B và C
Tội trọng là gì ?
Tội trọng là cố tình phạm Luật Thiên Chúa, trong những điều mà chúng ta đã kịp suy biết.
Tội trọng là cố tình phạm Luật Thiên Chúa, trong những điều quan trọng mà chúng ta đã kịp suy biết.
Tội trọng là phạm những điều quan trọng mà chúng ta đã kịp suy biết.
Tất cả đều sai
Tội trọng làm hại chúng ta thế nào ?
Tội trọng làm chúng ta phải xa lìa Thiên Chúa mãi mãi.
Tội trọng làm mất tình nghĩa giữa chúng ta với Thiên Chúa và nếu không hoán cải, chúng ta phải xa cách Ngài đời đời.
Tội trọng làm chúng ta bị loại ra khỏi gia đình con cái Thiên Chúa, không còn được sống trong tình nghĩa với Ngài.
Cả A, B và C
Khi nào các tín hữu buộc phải xưng các tội trọng?
Khi đến tuổi khôn, mọi tín hữu bắt buộc phải xưng các tội trọng của mình, và trong mọi trường hợp, phải xưng các tội trọng trước khi rước lễ.
Khi đến tuổi khôn, tức là khi con người kịp suy biết, mọi tín hữu bắt buộc phải xưng các tội trọng của mình, và trong mọi trường hợp, phải xưng các tội trọng trước khi rước lễ.
Khi đến tuổi khôn, mọi tín hữu bắt buộc phải xưng các tội trọng của mình, ít nhất một năm một lần và trong mọi trường hợp, phải xưng các tội trọng trước khi rước lễ.
Cả A, B và C
Tội nhẹ là gì ?
Tội nhẹ là phạm một điều luật nhẹ do chưa kịp suy biết.
Tội nhẹ là phạm những tội vặt thường ngày mà mình không cố ý phạm.
Tội nhẹ là phạm một điều luật nhẹ hoặc một điều quan trọng, nhưng chưa kịp suy biết hay chưa hoàn toàn ưng theo.
Cả A, B và C
Tội nhẹ làm hại chúng ta thế nào ?
Tội nhẹ không làm mất tình nghĩa giữa chúng ta với Thiên Chúa, nhưng làm cho chúng ta giảm bớt lòng yêu mến Chúa, dễ hướng chiều về điều xấu và dễ phạm tội trọng hơn.
Tội nhẹ làm cho chúng ta giảm bớt lòng yêu mến Chúa, dễ hướng chiều về điều xấu và dễ phạm tội trọng hơn.
Tội nhẹ không gây ảnh hưởng nhiều đến công phúc chúng ta lập được, mà chỉ làm cho chúng ta giảm bớt lòng yêu mến Chúa.
Cả A, B và C
Các thói xấu có liên hệ với những tội nào ?
Các thói xấu có liên hệ với bảy mối tội đầu gồm: Kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, nóng nảy, mê ăn uống, ghen ghét và lười biếng.
Các thói xấu có liên hệ với bảy mối tội đầu gồm: Kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, giận hờn, nóng nảy, gian dối và lười biếng.
Các thói xấu có liên hệ với bảy mối tội đầu gồm: Kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét và lười biếng.
Cả A, B và C
Bởi sức tự nhiên, ta có thể sống đẹp lòng Chúa được không?
Nếu không có ơn Chúa giúp thì chẳng được, như lời Chúa Giê-su phán rằng: “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”.
Nếu không có ơn Chúa giúp thì chẳng được, như lời Chúa Giê-su phán rằng: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được”.
Nếu ta hết sức cố gắng, thì việc gì cũng có thể làm được.
Cả A, B và C
Ơn công chính hóa là gi ?
Ơn công chính hóa là hồng ân Chúa ban, giúp chúng ta thông phần vào đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa.
Ơn công chính hóa là hồng ân Chúa ban, giúp chúng ta thông phần vào đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa và có khả năng hành động vì yêu mến Ngài.
Ơn công chính hóa là hồng ân Chúa ban, giúp chúng ta không thông phần vào đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa vì có khả năng yêu mến Ngài.
Tất cả đều sai
Ngoài ơn công chính hóa còn có ơn nào khác nữa không ?
Ngoài ơn Công chính hóa còn có ơn hiện sủng, ơn bí tích và các ơn đặc biệt gọi là đặc sủng.
Ngoài ơn Công chính hóa còn có ơn hiện sủng, ơn bí tích và các ơn đặc biệt gọi là đoàn sủng.
Ngoài ơn Công chính hóa còn có ơn đặc sủng, ơn bí tích và các ơn đặc biệt gọi là đoàn sủng.
Tất cả đều đúng
Ơn Chúa hoạt động nơi ta như thế nào ?
Ơn Chúa thúc giục ta tin vào Chúa Ki-tô, ban cho ta được ơn tha tội, được thánh hóa và trở nên con người mới.
Ơn Chúa thúc giục ta tin vào Chúa Ki-tô, ban cho ta được ơn tha tội, được thánh hóa và trở nên con người mới, được làm con cái Chúa và làm anh chị em với nhau.
Ơn Chúa thúc giục ta tin vào Chúa Ki-tô, rồi khi chịu phép Rửa Tội ta được công chính hóa, tức là được ơn tha tội, được thánh hóa và trở nên con người mới.
Cả A, B và C
Ta phải cộng tác với ơn Chúa thế nào ?
Ta phải tỉnh thức để mau mắn lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Ta phải nhiệt tình cộng tác với ơn Chúa bằng hết khả năng Chúa ban.
Ta phải tỉnh thức để mau mắn đón nhận và nỗ lực cộng tác với ơn Thiên Chúa ban.
Cả A, B và C
Điều răn thứ nhất dạy chúng ta sự gì ?
Dạy ta phải thờ phượng một Thiên Chúa và chỉ một mình Ngài mà thôi.
Dạy ta phải thờ phượng một Thiên Chúa và kính mến Ngài trên hết mọi sự.
Dạy ta phải thời phượng một Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Cả A, B và C
Chúng ta phải làm gì để thờ phượng Thiên Chúa ?
Chúng ta phải tin kính, trông cậy và yêu mến Ngài.
Chúng phải hết lòng thờ lạy Ngài ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Chúng ta phải siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ.
Cả A, B và C
Chúng ta phải tin kính Thiên Chúa thế nào?
Chúng ta phải tin kính Thiên Chúa hết lòng, không được nghi ngờ hoặc chối bỏ những gì Ngài đã mạc khải và Hội Thánh truyền dạy.
Chúng ta phải tin kính Thiên Chúa hết lòng, hết sức trên hất mọi sự, không được nghi ngờ hoặc chối bỏ những gì Ngài đã mạc khải và Hội Thánh truyền dạy.
Chúng ta phải tin kính Thiên Chúa hết lòng, hết sức trên hết mọi sự và không bao giờ được nghi ngờ hoặc chối bỏ những gì Hội Thánh truyền dạy.
Tất cả đều đúng
Chúng ta phải trông cậy Thiên Chúa thế nào?
Chúng ta phải luôn trong cậy vững vàng, phó thác mọi sự trong tay Chúa, để được Ngài ban phúc lành đời này và đời sau.
Chúng ta phải luôn trong cậy vững vàng vào mọi điều Thiên Chúa truyền dạy, phó thác mọi sự trong tay Chúa, để được Ngài ban phúc lành đời này và đời sau.
Chúng ta phải luôn trong cậy vững vàng vào mọi điều Thiên Chúa truyền dạy, cùng hết lòng phó thác mọi sự trong tay Chúa, để được Ngài ban phúc lành đời này và đời sau.
Cả A, B và C
Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa thế nào?
Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, cùng vâng theo thánh ý Ngài, để đáp lại tình Ngài thương ta.
Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, cùng vâng theo những gì Ngài truyền dạy, để đáp lại tình Ngài thương ta.
Chúng ta phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự, cùng vâng theo thánh ý Ngài, để đáp lại tình Ngài thương ta.
Cả A, B và C
Điều răn thứ hai dạy chúng ta sự gì ?
Điều răn thứ hai dạy chúng ta phải tôn kính Danh Chúa, vì Danh Ngài là Thánh.
Điều răn thứ hai dạy chúng ta không được nêu Danh Thiên Chúa cách vô cớ, vì Danh Ngài là Thánh.
Điều răn thứ hai dạy chúng ta không khi nào được phép nêu Danh Thiên Chúa, vì Danh Ngài là Thánh.
Cả A, B và C
Chúng ta phải tôn kính Danh Chúa thế nào ?
Chúng ta phải thường xuyên ngợi ca Danh Chúa, trong mọi nơi và mọi lúc.
Chúng ta phải kêu cầu, chúc tụng Danh Chúa, lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện.
Chúng ta phải kêu cầu, chúc tụng, ca ngợi và tôn vinh Danh Chúa.
Cả A, B và C
Có những tội nào nghịch lại điều răn thứ hai?
Có những tội này là: Lấy Danh Chúa làm chứng cho tội ác như thề gian, bội thề; Sử dụng Danh Chúa cách bất xứng như kêu tên Chúa vô cớ, lộng ngôn, nguyền rủa và không tuân giữ những lời hứa nhân danh Chúa.
Có những tội này là: Lấy Danh Chúa làm chứng cho tội ác như thề gian, bội thề
Có những tội này là: Sử dụng Danh Chúa cách bất xứng như kêu tên Chúa vô cớ, lộng ngôn, nguyền rủa và không tuân giữ những lời hứa nhân danh Chúa.
Cả A, B và C
Vì sao chúng ta không được thề gian?
Vì khi thề gian, chúng ta không những không làm chứng cho sự thật mà còn nại đến Thiên Chúa là chân lý để làm chứng cho một lời nói dối.
Vì khi thề gian, chúng ta đã làm điều trái với lương tâm của mình để làm chứng cho một lời nói dối.
Vì khi thề gian, chúng ta nại đến Thiên Chúa là chân lý để làm chứng cho một lời nói dối.
Cả A, B và C
Vì sao chúng ta không được bội thề?
Vì khi bội thề, chúng ta xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng luôn trung thành với những lời Ngài đã hứa.
Vì khi bội thề, chúng ta nại đến Thiên Chúa là chân lý để làm chứng cho một lời nói dối.
Vì khi bội thề, chúng ta nại đến Thiên Chúa là chân lý để làm chứng cho một lời nói dối. Đồng thời xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng luôn trung thành với những lời Ngài đã hứa.
Cả A, B và C
Điều răn thứ ba dạy chúng ta sự gì ?
Điều răn thứ ba dạy chúng ta phải cố gắng tham dự thánh lễ Chúa Nhật dưới bất cứ hình thức nào.
Điều răn thứ ba dạy chúng ta phải thường xuyên tham dự thánh lễ Chúa Nhật.
Điều răn thứ ba dạy chúng ta phải thánh hóa Chúa Nhật và các ngày lễ buộc.
Cả A, B và C
Chúa Nhật nghĩa là gì?
Chúa Nhật nhắc nhở việc sáng tạo mới, được thực hiện nhờ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô;
Chúa Nhật hoàn tất ý nghĩa ngày lễ nghỉ của dân Do-thái và loan báo sự nghỉ ngơi muôn đời nơi Thiên Chúa.
Chúa Nhật nhắc nhở việc sáng tạo mới, được thực hiện nhờ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô; Nhờ đó mời gọi mọi người cùng cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo của Ngài bằng việc tiếp tục xây dựng và bảo vệ vũ trụ tươi đẹp này.
Cả A và B
Chúng ta phải làm gì để thánh hóa Chúa Nhật và các ngày lễ buộc?
Chúng ta phải tham dự thánh lễ, tránh mọi hoạt động làm ngăn trở việc thờ phượng Thiên Chúa hay làm mất đi niềm vui trong ngày của Chúa cũng như sự nghỉ ngơi cần thiết cho tinh thần và thể xác.
Chúng ta phải tham dự thánh lễ trong những ngày này. Ngoài ra, chúng ta còn phải dành thời giờ để thăm viếng anh chị em, nhất là những người nghèo khổ, bệnh tật.
Chúng ta có ý thức đây là ngày của Chúa, nên phải tôn trọng ngày Chúa Nhật cũng như các ngày lễ buộc bằng việc tham dự thánh lễ và làm việc bác ái.
Cả A, B và C
Chúng ta phải tham dự thánh lễ Chúa Nhật thế nào cho đúng luật Hội Thánh ?
Chúng ta phải tham dự thánh lễ Chúa Nhật cách đầy đủ, với thái độ trang nghiêm và sốt sắng.
Chúng ta phải tích cực tham dự thánh lễ từ đầu cho đến cuối. Ai cố tình bỏ lễ Chúa Nhật mà không có lý do chính đáng thì mắc tội trọng.
Chúng ta phải tham dự thánh lễ Chúa Nhật cách đầy đủ, với thái độ trang nghiêm và sốt sắng. Ngoài ra, còn cần phải rước lễ khi đi tham dự thánh lễ.
Cả A, B và C
Điều răn thứ bốn dạy chúng ta sự gì ?
Dạy chúng ta phải phụng dưỡng cha mẹ, khi các ngài còn sống.
Dạy chúng ta thảo kính cha mẹ và những người được Chúa trao quyền, để mưu ích cho chúng ta.
Dạy chúng ta phải phụng dưỡng cha mẹ, khi các ngài còn sống. Đồng thời, cầu nguyện cho các ngài, khi các ngài đã qua đời.
Cả A, B và C
Đạo hiếu của dân tộc Việt Nam dạy chúng ta điều gì?
Dạy chúng ta luôn vâng lời ông bà cha mẹ còn sống cũng như khi đã qua đời.
Dạy chúng ta luôn vâng lời ông bà cha mẹ trong mọi sự.
Dạy chúng ta thảo kính đối với ông bà cha mẹ còn sống cũng như khi đã qua đời.
Cả A, B và C
Con cái có những bổn phận nào đối với cha mẹ?
Con cái phải tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và vâng phục cha mẹ, đồng thời, phải trợ giúp các ngài về vật chất cũng như tinh thần, khi còn sống cũng như khi đã qua đời.
Con cái phải tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và vâng phục cha mẹ, khi còn sống cũng như khi các ngài đã qua đời.
Con cái phải tỏ lòng hiếu thảo, biết ơn và vâng phục cha mẹ, đồng thời, phải trợ giúp các ngài về vật chất cũng như tinh thần.
Cả A, B và C
Anh chị em có bổn phận nào đối với nhau ?
Anh chị em trong gia đình phải biết kính trên nhường dưới, yêu thương đùm bọc lẫn nhau.
Anh chị em trong gia đình phải có bổn phận nhắc nhở nhau, giúp nhau mỗi ngày trở nên hoàn thiện hơn.
Anh chị em trong gia đình cần yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng giúp nhau chu toàn những giới luật của Chúa và Hội Thánh.
Cả A, B và C
Chúng ta có bổn phận nào đối với những người trong gia tộc?
Chúng ta có bổn phận tỏ lòng kính trọng, yêu mến và cầu nguyện cho mọi người trong gia tộc còn sống cũng như đã qua đời.
Chúng ta có bổn phận tỏ lòng biết ơn, kính trọng, yêu mến, giúp đỡ và cầu nguyện cho mọi người trong gia tộc còn sống cũng như đã qua đời.
Chúng ta có bổn phận tỏ lòng kính trọng, yêu mến và cầu nguyện cho mọi người trong gia tộc. Đồng thời trợ giúp họ trong khả năng của mình.
Cả A, B và C
Ngoài quan hệ gia đình, chúng ta còn quan hệ nào khác nữa không?
Chúng ta còn có những mối liên hệ với các phẩm chức trong Hội Thánh. Ta phải kính trọng và vâng lời những người ấy.
Chúng ta còn có những mối liên hệ với các phẩm chức trong Hội Thánh, những người cầm quyền trong xã hội và những người hướng dẫn giáo dục ta.
Chúng ta còn có những mối liên hệ với các phẩm chức trong Hội Thánh, những người cầm quyền trong xã hội và những người hướng dẫn giáo dục ta. Ta phải kính trọng và vâng lời những người ấy.
Cả A, B và C
Điều răn thứ năm dạy chúng ta những gì ?
Điều răn thứ năm dạy chúng ta quý trọng sự sống tự nhiên và siêu nhiên của mình cũng như của người khác.
Điều răn thứ năm cấm mọi hình thức xâm phạm đến sự sống con người.
Điều răn thứ năm dạy chúng ta không được phép tước đoạt sự sống của người khác cách bất công.
Cả A và B
Có những tội nào nghịch lại điều răn thứ năm?
Có những tội này: Cố ý giết người; trực tiếp hay cộng tác vào việc phá thai; Làm cho chết êm dịu;
Tự sát hay cộng tác vào việc ấy; Làm gương xấu khiến người khác phạm tội trọng;
Phá hoại hoặc gây nguy hiểm cho sức khỏe của mình và của người khác.
Cả A, B và C
Thiên Chúa đòi chúng ta phải làm gì để xây dựng hòa bình?
Để xây dựng hòa bình, Thiên Chúa đòi chúng ta không giận dữ, oán thù người khác.
Để xây dựng hòa bình, Thiên Chúa đòi chúng ta tìm mọi cách để ngăn ngừa chiến tranh. Kiên trì thức hiện công lý và tình huynh đệ.
Để xây dựng hòa bình, Thiên Chúa đòi chúng ta có sự bình an trong tâm hồn, không giận dữ, oán thù người khác. Tìm mọi cách để ngăn ngừa chiến tranh. Kiên trì thức hiện công lý và tình huynh đệ.
Cả A, B và C
Điều răn thứ sáu dạy chúng ta sự gì ?
Dạy chúng ta giữ khiết tịnh trong tư tưởng, lời nói và việc làm.
Dạy chúng ta không được làm hay suy tưởng đến những điều trái với đức trong sạch.
Dạy chúng ta không được nhìn xem hay tiếp xúc với những điều xấu xa, không phù hợp với lứa tuổi của mình.
Cả A, B và C
Điều răn thứ chín dạy ta sự gì?
Dạy ta phải chiến thắng đam mê xác thịt, trong tư tưởng, hành động cũng như trong ước muốn.
Dạy ta phải chiến thắng đam mê xác thịt, trong tư tưởng cũng như trong hành động.
Dạy ta phải chiến thắng đam mê xác thịt, trong tư tưởng cũng như ước muốn.
Cả A, B và C
Phải làm gì để đạt tới sự trong sạch của tâm hồn?
Phải chế ngự các giác quan và trí tưởng tượng, không nhìn xem những hình ảnh hoặc đọc các sách báo xấu, đồng thời phải chuyên chăm cầu nguyện và cậy vào ơn Chúa.
Phải chế ngự các giác quan và trí tưởng tượng, đồng thời phải chuyên chăm cầu nguyện và cậy vào ơn Chúa.
Phải chế ngự các giác quan và trí tưởng tượng, không nhìn xem những hình ảnh hoặc đọc các sách báo xấu, đồng thời không được coi thường những lời răn dạy chỉ bảo của người trên.
Cả A, B và C
Muốn giữ tâm hồn trong sạch chúng ta phải làm gì?
Chúng ta phải chuyên chăm cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích và trông cậy vào ơn Chúa.
Phải sáng suốt làm chủ ngũ quan và trí tưởng tượng. Sống đoan trang trong ăn mặc, nói năng, cư xử với người khác và xa lánh dịp tội.
Phải năng đọc Lời Chúa và sách báo lành mạnh.
Cả A, B và C
Chúng ta phải làm gì khi có những hình ảnh, tư tưởng dâm ô trong tâm trí?
Chúng ta phải mau mắn loại bỏ và tránh dịp tội bằng cách đi làm một công việc khác.
Chúng ta phải mau mắn loại bỏ và tránh dịp tội, đồng thời cầu xin Chúa và Đức Mẹ trợ giúp để thắng vượt cám dỗ.
Chúng ta phải mau mắn loại bỏ và tránh dịp tội bằng cách đi làm một công việc khác.
Cả A, B và C
Điều răn thứ bảy dạy chúng ta sự gì ?
Dạy chúng ta sống công bằng, tức là: Tôn trọng của cải của người khác.
Dạy chúng ta sống công bằng, tức là: Tôn trọng của cải của người khác. Sử dụng của cải trong tinh thần liên đới và chia sẻ. Và tôn trọng tính toàn vẹn của công trình tạo dựng.
Sử dụng của cải trong tinh thần liên đới và chia sẻ. Và tôn trọng tính toàn vẹn của công trình tạo dựng.
Tất cả đều sai
Điều răn thứ bảy đòi buộc những gì?
Đòi buộc những điều này: Tôn trọng của cải người khác. Giữ các lời hứa đã cam kết;
Đòi buộc đền bù thiệt hại đã gây ra và trả lại cho người khác những gì đã lấy.
Đòi buộc sử dụng khôn ngoan và chừng mực những tài nguyên thiên nhiên.
Cả A, B và C
Điều răn thứ bảy cấm những điều gì?
Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, trả lương không công bằng, đầu cơ tích trữ, giả mạo chi phiếu hay hóa đơn.
Điều răn thứ bảy cấm gian lận, trốn thuế, cho vay nặng lãi, tham nhũng, lạm dụng hoặc lãng phí của công, cố ý phá hoại tài sản của công và làm không tốt công việc bổn phận.
Cả A và B
Tất cả đều sai
Người đã lỗi đức công bằng thì phải làm thế nào ?
Phải hoàn trả lại những tài sản đã chiếm đoạt, và bồi thường cân xứng những thiệt hại đã gây ra.
Phải hoàn trả lại những tài sản đã chiếm đoạt trong khả năng mình có thể.
Phải hoàn trả lại những tài sản đã chiếm đoạt, và bồi dưỡng cân xứng những thiệt hại đã gây ra. Nếu không thể hoàn trả được thì phải cầu nguyện cho họ.
Cả A, B và C
Điều răn thứ tám dạy chúng ta sự gì ?
Dạy chúng ta sống thành thật, làm chứng cho chân lý và tôn trọng danh dự của mọi người.
Dạy chúng ta sống thành thật và tôn trọng danh dự của mọi người.
Dạy chúng ta không được thề gian hay làm chứng dối, nhưng biết tôn trọng danh dự của mọi người.
Cả A, B và C
Vì sao chúng ta phải sống thành thật?
Chúng ta phải sống chân thật vì Thiên Chúa là Đấng chân thật; Ngài không chấp nhận những kẻ gian dối; và sự thành thật rất cần cho đời sống chung.
Chúng ta phải sống chân thật vì Thiên Chúa là Đấng chân thật; Sự thành thật làm tăng giá trị con người và Sự thành thật rất cần cho đời sống chung.
Chúng ta phải sống chân thật vì Thiên Chúa là Đấng chân thật; Ngài không chấp nhận những kẻ gian dối và sẵn sàng kết án họ.
Cả A, B và C
Có những tội nào nghịch lại điều răn thứ tám ?
Có những tội này là: Làm chứng gian, thề gian, nói dối.
Có những tội này là: Làm chứng gian, thề gian, nói dối; Xét đoán hồ đồ, nói xấu, vu khống và bôi nhọ; nịnh hót, tâng bốc và xu nịnh nhằm thủ lợi bất chính.
Có những tội này là: nói xấu, vu khống và bôi nhọ nhằm hạ danh dự của người khác.
Cả A, B và C
Điều răn thứ tám đòi buộc những gì?
Đòi buộc phải tôn trọng sự thật và danh dự của mọi người, nhất là trong lãnh vực truyền thông,
Đòi buộc luôn bảo vệ các bí mật nghề nghiệp cũng như tôn trọng những chuyện riêng tư mà ta đã hứa giữ kín.
Đòi buộc phải tôn trọng sự thật và bảo vệ danh dự của mọi người, nhất là những người có chức vụ cao trong xã hội cũng như Giáo Hội.
Cả A và B
Điều răn thứ mười dạy chúng ta sự gì ?
Dạy chúng ta phải tôn trọng tài sản của người khác, không ganh tị, tham lam và ham muốn của cải một cách bất chính.
Dạy chúng ta phải tôn trọng tài sản của người khác, không ganh tị, tham lam và ham muốn của cải một cách bất chính. Đồng thời, phải trả lại cho họ tất cả những gì mình đã cầm giữ.
Dạy chúng ta phải tôn trọng tài sản của mình cũng như của người khác.
Cả A, B và C
Sự tham lam làm hại chúng ta thế nào ?
Sự tham lam khiến lòng chúng ta ra mù tối, rối loạn, phán đoán sai lạc, phải lạt tình yêu mến và dễ sa ngã, phạm tội.
Sự tham lam khiến lòng chúng ta ra rối loạn, phán đoán sai lạc và dễ sa ngã, phạm tội.
Sự tham lam khiến lòng chúng ta ra mù quáng, phán đoán sai lạc và dễ sa ngã, phạm tội. Nhất là khi có cơ hội thuận tiện.
Cả A, B và C
Muốn chống lại tính ghen tỵ, ta cần làm những gì?
Ta cần biết cầu xin sự lành cho người khác, không ghen tị khi họ được những điều may lành.
Ta cần biết cầu xin sự lành cho người khác, không ghen tị khi họ được những điều may lành. Đồng thời, xin ơn biết sống khiêm tốn hơn để được đẹp lòng Chúa.
Ta cần biết cầu xin sự lành cho người khác và xin ơn biết vui mừng khi họ được may lành.
Cả A, B và C
Phụng vụ là gì ?
Phụng vụ là việc Hội Thánh chính thức cử hành mầu nhiệm Đức Ki-tô, để thờ phượng Thiên Chúa và thánh hóa con người.
Phụng vụ là việc Hội Thánh chính thức cử hành, để thờ phượng Thiên Chúa và thánh hóa con người.
Phụng vụ là những cử hành, để thờ phượng Thiên Chúa và thánh hóa con người.
Cả A, B và C
Phụng vụ có vị trí nào trong Hội Thánh?
Phụng vụ là chóp đỉnh và là nguồn mạch các hoạt động của Hội Thánh, qua đó, Hội Thánh tiếp tục cộng trình cứu độ của Ngài.
Phụng vụ là chóp đỉnh và là nguồn mạch các hoạt động của Hội Thánh, qua đó, Đức Ki-tô tiếp tục cộng trình cứu độ của Ngài.
Phụng vụ là chóp đỉnh và là nguồn mạch các hoạt động của Hội Thánh, nhờ và qua các sinh hoạt của phụng vụ, Đức Ki-tô tiếp tục cộng trình cứu độ của Ngài trong Hội Thánh.
Cả A, B và C
Ngày Chúa Nhật quan trọng thế nào trong năm Phụng vụ?
Ngày Chúa Nhật rất quan trọng vì là “Ngày của Chúa”, ngày Chúa Phục sinh. Vì thế, người tín hữu cần tham dự thánh lễ cách đầy đủ, ngoài ra còn phải tham dự các lễ nghi phụng vụ trong ngày quan trọng này.
Ngày Chúa Nhật rất quan trọng vì là “Ngày của Chúa”. Vì thế, người tín hữu cần tham dự thánh lễ cách đầy đủ, ngoài ra còn phải tham dự các lễ nghi phụng vụ trong ngày quan trọng này.
Ngày Chúa Nhật rất quan trọng vì là “Ngày của Chúa”, ngày Chúa Phục sinh. Vì thế, ngày Chúa nhật là nền tảng và trung tâm của cả năm Phụng vụ.
Cả A, B và C
Năm Phụng vụ là gì?
Là thời gian Hội Thánh cử hành các mầu nhiệm Đức Ki-tô, để giúp chúng ta sống những mầu nhiệm ấy, hầu chuẩn bị đón Ngài lại đến trong vinh quang.
Là thời gian Hội Thánh cử hành các mầu nhiệm của Đức Ki-tô, từ khi Ngài hạ sinh tới khi Ngài chịu chết và sống lại.
Là thời gian Hội Thánh cử hành các mầu nhiệm chính yếu trong cuộc đời Đức Ki-tô, từ khi Ngài hạ sinh tới khi Ngài chịu chết và sống lại.
Cả A, B và C
Năm Phụng vụ được tổ chức thế nào?
Năm Phụng vụ được tổ chức thành các mùa là mùa Vọng, mùa Giáng sinh, mùa Chay và mùa Phục sinh.
Năm Phụng vụ được tổ chức thành các mùa là mùa Vọng, mùa Giáng sinh, mùa Phục sinh và mùa Thường niên.
Năm Phụng vụ được tổ chức thành các mùa là mùa Vọng, mùa Giáng sinh, mùa Chay, mùa Phục sinh và mùa Thường niên.
Tất cả đều đúng
Bí tích là gì ?
Bí tích là dấu chỉ bên ngoài Chúa Giê-su đã lập và truyền lại cho Hội Thánh cử hành, hầu mang lại sự sống thần linh.
Bí tích là dấu chỉ Chúa Giê-su đã lập và truyền lại cho Hội Thánh cử hành, hầu mang lại sự sống thần linh.
Bí tích là dấu chỉ bên ngoài Chúa Giê-su đã lập và truyền lại cho Hội Thánh cử hành, để diễn tả và thông ban cho chúng ta ân sủng bên trong là sự sống thần linh.
Cả A, B và C
Ấn tín bí tích là gì?
Là dấu ấn thiêng liêng Thiên Chúa in vào lòng những người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Truyền Chức Thánh, như lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Ngài. Vì ấn tín không thể xóa được, nên các bí tích này chỉ được lãnh một lần mà thôi.
Là dấu ấn thiêng liêng Thiên Chúa in vào lòng những người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức, Hôn Phối, như lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Ngài. Vì ấn tín không thể xóa được, nên các bí tích này chỉ được lãnh một lần mà thôi.
Là dấu ấn thiêng liêng Thiên Chúa in vào lòng những người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Xức Dầu, Truyền Chức Thánh, như lời hứa và bảo đảm cho sự che chở của Ngài. Vì ấn tín không thể xóa được, nên các bí tích này chỉ được lãnh một lần mà thôi.
Cả A, B và C
Cần có những điều kiện nào để lãnh nhận các Bí tích?
Cần có những điều kiện này là: Phải đón nhận và học hiểu Lời Chúa trong một thời gian; Thêm vào đó, phải có đức tin chân thật cùng lòng ước muốn lãnh nhận.
Cần có những điều kiện này là: Phải đón nhận và học hiểu Lời Chúa; Thêm vào đó, phải có đức tin và thật lòng ước muốn.
Cần có những điều kiện này là: Phải học hiểu Lời Chúa trong một thời gian; Thêm vào đó, phải có đức tin chân thật cùng lòng ước muốn lãnh nhận.
Cả A, B và C
Vì sao các Bí tích cần thiết cho ơn cứu độ?
Vì các bí tích trao ban ân sủng của Chúa Thánh Thần, nên những người không lãnh bí tích, thì không thể vào Nước Thiên Chúa được.
Vì các bí tích trao ban ân sủng của Chúa Thánh Thần, cùng các ơn riêng tùy theo từng người; nên những người không lãnh bí tích, thì không thể vào Nước Thiên Chúa được.
Vì các bí tích trao ban ân sủng của Chúa Thánh Thần, để Ngài chữa lành và biến đổi chúng ta.
Cả A, B và C
Bí tích Xức Dầu bệnh nhân là gì?
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để ban ơn nâng đỡ bệnh nhân và người già yếu, về phần hồn cũng như phần xác.
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để ban ơn nâng đỡ và chữa lành các bệnh tật cho bệnh nhân và người già yếu, về phần hồn cũng như phần xác.
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để nâng đỡ và chữa lành các bệnh tật cho bệnh nhân, cùng ban ơn phần hồn cũng như phần xác.
Cả A, B và C
Ai có thể lãnh Bí tích Xức Dầu?
Mọi tín hữu khi lâm bệnh nặng, hoặc bị yếu liệt vì tuổi già, đều có thể lãnh Bí tích Xức Dầu.
Mọi tín hữu khi lâm bệnh nặng, khi gặp cảnh nguy tử hoặc bị yếu liệt vì tuổi già, đều có thể lãnh Bí tích Xức Dầu.
Mọi tín hữu khi lâm bệnh nặng, khi gặp cảnh nguy tử đều có thể lãnh Bí tích Xức Dầu.
Tất cả đều đúng
Bí tích Xức Dầu có những hiệu quả nào?
Bí tích Xức Dầu kết hợp bệnh nhân với cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô, để sinh ích cho họ và cho Hội Thánh;
Bí tích Xức Dầu Mang lại cho họ niềm an ủi và lòng can đảm, để chịu đựng những đau đớn của bệnh tật hoặc tuổi già;
Bí tích Xức Dầu thứ tha các tội lỗi đã phạm nếu chưa xưng được; Chữa lành thân xác nếu phù hợp với ý Chúa, đồng thời, chuẩn bị cho “cuộc vượt qua” sang cõi sống đời đời.
Cả A, B và C
Của ăn đàng là gì ?
Của ăn đàng là Bí tích Thánh Thể và Xức Dầu được trao ban cho những người sắp lìa đời, giúp họ vững vàng mạnh tiến về nhà Cha trên trời.
Của ăn đàng là Bí tích Thánh Thể, Hòa Giải và Xức Dầu được trao ban cho những người sắp lìa đời, giúp họ vững vàng mạnh tiến về nhà Cha trên trời.
Của ăn đàng là Bí tích Thánh Thể được trao ban cho những người sắp lìa đời, giúp họ vững vàng mạnh tiến về nhà Cha trên trời.
Tất cả đều đúng
Ơn gọi sống đời thánh hiến là gì?
Ơn gọi đời sống thánh hiến là lời Thiên Chúa ngỏ với một số người, để mời gọi họ dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì.
Ơn gọi đời sống thánh hiến là lời Thiên Chúa ngỏ với một số người, để mời gọi họ sống đời tận hiến trong bậc tu trì hay giáo sĩ.
Ơn gọi đời sống thánh hiến là lời Thiên Chúa ngỏ với một số người, để mời gọi họ dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì để phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em mình.
Cả A, B và C
Những dấu nào cho biết mình có ơn gọi sống đời thánh hiến?
Có ba dấu này: một là có ý ngay lành và ước muốn dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân; hai là có đủ sức khỏe cũng như trình độ mà Hội Thánh quy định và ba là được những người có trách nhiệm tuyển chọn.
Có ba dấu này: một là có lòng ước muốn dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân; hai là có đủ trình độ như Hội Thánh quy định và ba là được những người có trách nhiệm tuyển chọn.
Có ba dấu này: một là có ý ngay lành và ước muốn dấn thân phục vụ Chúa và tha nhân; hai là có đủ điều kiện Hội Thánh quy định và ba là được những người có trách nhiệm tuyển chọn.
Tất cả đều sai
Người muốn sống đời thánh hiến phải làm gì?
Phải cầu nguyện, suy nghĩ, xin người khôn ngoan chỉ dẫn và sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa.
Phải sống một đời sống tốt lành, đồng thời, cần xin ơn Chúa soi sáng để có thể đáp lại lời mời gọi của Ngài.
Phải sống một đời sống tốt lành, siêng năng cầu nguyện, đồng thời, cần xin ơn Chúa soi sáng để có thể đáp lại lời mời gọi của Ngài.
Cả A, B và C
Bí tích Truyền Chức Thánh là gì?
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, để trao ban cho những người Ngài chọn, để họ tiếp tục thực thi trong Hội Thánh cho đến ngày tận thế.
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, để ủy thác sứ vụ của Ngài cho các Tông đồ, nhờ đó, sứ vụ này tiếp tục thực thi trong Hội Thánh cho đến ngày tận thế.
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, để trao ban cho những người Ngài chọn, để họ trở nên những chứng nhân của Chúa và Hội Thánh cho đến ngày tận thế.
Tất cả đều đúng
Chúa Giê-su lập Bí tích Truyền Chức Thánh khi nào?
Chúa Giê-su đã lập Bí tích Truyền Chức trong Bữa Tiệc Ly, trước khi Ngài đi chịu chết.
Chúa Giê-su đã lập Bí tích Truyền Chức trong Bữa Tiệc Ly, trước khi Ngài đi chịu chết. Để qua tác vụ họ lãnh nhận, Thiên Chúa có thể tiếp tục thông ban những ơn lành của Ngài cho con người mọi ngày cho đến tận thế.
Chúa Giê-su đã lập Bí tích Truyền Chức trong Bữa Tiệc Ly, khi Ngài nói với các Tông đồ rằng: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”.
Cả A và B
Những người lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh thi hành tác vụ với thẩm quyền nào?
Những người lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh thi hành tác vụ với thẩm quyền không do cộng đoàn ủy thác, nhưng do Đức Ki-tô trao ban.
Họ thi hành tác vụ trong cương vị Đức Ki-tô là Đầu và nhân danh Hội Thánh. Vì thế, chức tư tế thừa tác khác biệt với chức tư tế cộng đồng mà các tín hữu đã lãnh nhận khi được rửa tội.
Họ thi hành tác vụ với thẩm quyền Chúa Ki-tô qua Hội Thánh trao ban. Nhờ đó, họ có thể cử hành các bí tích trong cương vị Đức Ki-tô là Đầu và nhân danh Hội Thánh.
Cả A và B
Bí tích Truyền Chức Thánh gồm những cấp bậc nào?
Gồm ba cấp bậc là Giám mục, linh mục và phó tế.
Gồm ba cấp bậc là Giám mục, linh mục và tu sĩ.
Gồm ba cấp bậc là Linh mục, tu sĩ và giáo dân.
Cả B và C
Người tín hữu có bổn phận nào đối với các vị chủ chăn của mình?
Người tín hữu có bổn phận cầu nguyện và cộng tác với các vị chủ chăn của mình trong việc xây dựng Hội Thánh, đồng thời giúp đỡ các ngài cả về tinh thần lẫn vật chất.
Người tín hữu có bổn phận cầu nguyện, tôn trọng, vâng lời và cộng tác với các vị chủ chăn của mình trong việc xây dựng Hội Thánh, đồng thời giúp đỡ các ngài cả về tinh thần lẫn vật chất.
Người tín hữu có bổn phận cầu nguyện, tôn trọng, vâng lời và cộng tác với các vị chủ chăn của mình trong việc xây dựng Hội Thánh.
Tất cả đều đúng
Bí tích Hôn Phối là gì?
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để kết hợp hai người tín hữu thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ân sủng để họ có thể yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương Hội Thánh.
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để kết hợp hai người tín hữu thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ân sủng để họ có thể yêu thương nhau trọn đời.
Là bí tích Chúa Giê-su đã lập, để kết hợp hai người tín hữu một nam một nữ thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ân sủng để họ có thể yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương Hội Thánh.
Tất cả đều đúng
Gia đình là gì trong kế hoạch của Thiên Chúa?
Gia đình vừa là cộng đoàn yêu thương mà Thiên Chúa đã thiết lập, mọi người chung sống hạnh phúc.
Gia đình vừa là cộng đoàn yêu thương mà Thiên Chúa đã thiết lập, để cha mẹ và con cái chung sống hạnh phúc, vừa là Hội Thánh tại gia vì là cộng đoàn đức tin, đức cậy và đức mến.
Gia đình vừa là cộng đoàn yêu thương mà Thiên Chúa đã thiết lập, mọi người chung sống hạnh phúc. Nhờ đó, họ trở nên chứng tá cho Chúa trong ơn gọi hôn nhân gia đình.
Cả A, B và C
Gia đình có vai trò nào trong xã hội?
Gia đình là tế bào đầu tiên và là nền móng để xây dựng một xã hội vững bền.
Gia đình là nền móng đầu tiên để xây dựng một xã hội vững bền. Nếu một gia đình hạnh phúc và hiệp thông, xã hội sẽ bình an và thịnh vượng và ngược lại, nếu gia đình bất hòa chia rẽ, xã hội sẽ khó lòng phát triển.
Gia đình là nền móng đầu tiên để xây dựng một xã hội vững bền. Vì là nền móng, nên gia đình có vị trí vô cùng quan trọng trong xã hội.
Tất cả đều đúng
Vì sao gia đình Công giáo được gọi là “Hội Thánh tại gia”?
Gia đình Công giáo được gọi là “Hội Thánh tại gia” vì gia đình Công Giáo biểu lộ bản chất của Hội Thánh là gia đình của Thiên Chúa.
Vì gia đình Công giáo vừa là cộng đoàn ân sủng và cầu nguyện, trường dạy các đức tính nhân bản và Ki-tô giáo, vừa là nơi đầu tiên đức tin được loan truyền cho con cái.
Vì gia đình Công giáo bao gồm những phần tử đã được thánh hiến qua Bí tích Rửa Tội, nhờ đó, họ được trở nên thánh thiện.
Cả A và B
Bí tích Thêm Sức là gì?
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, để ban tràn đầy Chúa Thánh Thần, hầu giúp chúng ta sống ơn Bí tích Rửa Tội cách mạnh mẽ và tốt đẹp hơn.
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, trước khi Ngài về trời, để ban tràn đầy Chúa Thánh Thần, hầu giúp chúng ta sống ơn Bí tích Rửa Tội cách mạnh mẽ và tốt đẹp hơn.
Là Bí tích Chúa Giê-su đã lập, trước khi Ngài về trời, để ban tràn đầy Chúa Thánh Thần và những cần thiết khác, hầu giúp chúng ta sống ơn Bí tích Rửa Tội cách mạnh mẽ và tốt đẹp hơn.
Cả A, B và C
Nghi thức chính yếu của Bí tích Thêm Sức là gì?
Là việc xức dầu dự tòng trên trán người đã lãnh Bí tích Rửa Tội, cùng với việc đặt tay trên đầu người ấy và đọc rằng: “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”.
Là việc xức dầu thánh trên trán người đã lãnh Bí tích Rửa Tội, cùng với lời đọc rằng: “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”.
Là việc xức dầu thánh trên trán người đã lãnh Bí tích Rửa Tội, cùng với việc đặt tay trên đầu người ấy và đọc rằng: “Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần”.
Tất cả đều đúng
Hiệu quả của Bí tích Thêm Sức là gì?
Là việc đổ tràn ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần trên người lãnh Bí tích, nhờ đó họ được ghi ấn tín không thể tẩy xóa và gia tăng ân sủng Bí tích Rửa Tội.
Là việc đổ tràn Chúa Thánh Thần trên người lãnh Bí tích, nhờ đó họ được ghi ấn tín không thể tẩy xóa và gia tăng ân sủng Bí tích Rửa Tội.
Là việc đổ tràn ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần trên người lãnh Bí tích, nhờ đó họ được ghi ấn tín không thể tẩy xóa và gia tăng ân sủng Bí tích Rửa Tội.
Tất cả đều đúng
Việc gia tăng ân sủng Bí tích Rửa Tội nghĩa là gì?
Nghĩa là giúp chúng ta tiến sâu hơn vào ơn làm con cái Thiên Chúa, được kết hợp mật thiết hơn với Đức Ki-tô và Hội Thánh; được thêm các ơn Chúa Thánh Thần; được thêm sức mạnh để làm chứng và bảo vệ đức tin.
Nghĩa là giúp chúng ta được kết hợp mật thiết hơn với Đức Ki-tô và Hội Thánh; được thêm các ơn Chúa Thánh Thần; được thêm sức mạnh để làm chứng và bảo vệ đức tin.
Nghĩa là giúp chúng ta được được thêm các ơn Chúa Thánh Thần; được thêm sức mạnh để làm chứng và bảo vệ đức tin.
Cả A, B và c
Những ai được lãnh Bí tích Thêm Sức?
Những người đã được rửa tội và đến tuổi khôn, sạch tội trọng, học giáo lý đầy đủ và quyết sống đúng bổn phận Ki-tô hữu.
Những người đã được rửa tội và đến tuổi khôn, sạch tội trọng, học giáo lý đầy đủ và quyết sống đúng bổn phận Ki-tô hữu. Ngoài ra cần có người đỡ đầu.
Những người đã được rửa tội và đến tuổi khôn, học giáo lý đầy đủ và quyết sống đúng bổn phận Ki-tô hữu. Ngoài ra cần có người đỡ đầu.
Tất cả đều đúng
Những ai là thừa tác viên của Bí tích Thêm Sức?
Thừa tác viên thông thường là Giám mục và những linh mục được chỉ định; nhưng trong trường hợp khẩn cấp thì bất cứ ai cũng đều có nhiệm vụ ban bí tích này.
Thừa tác viên thông thường là Giám mục và những linh mục được chỉ định; nhưng trong trường hợp khẩn cấp thì bất cứ linh mục nào cũng đều có nhiệm vụ ban bí tích này.
Thừa tác viên thông thường là Giám mục, nhưng trong trường hợp khẩn cấp thì bất cứ linh mục nào cũng đều có nhiệm vụ ban bí tích này.
Tất cả đều đúng
Người lãnh Bí tích Thêm Sức có những bổn phận nào?
Có bổn phận nỗ lực thì hành Lời Chúa trong đời sống thường ngày.
Có bổn phận góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng.
Có bổn phận tích cực giới thiệu Chúa cho mọi người.
Cả A, B và C
Thiên Chúa muốn ta sống trong xã hội như thế nào?
Thiên Chúa muốn ta sống hiệp nhất, yêu thương và hài hòa với mọi người, xây dựng một nền văn minh tình thương theo mẫu mực Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thiên Chúa muốn ta sống bác ái, yêu thương và hài hòa với mọi người, xây dựng một nền văn minh tình thương theo mẫu mực Thiên Chúa Ba Ngôi.
Thiên Chúa muốn ta sống hài hòa với mọi người, xây dựng một nền văn minh tình thương theo mẫu mực Thiên Chúa Ba Ngôi.
Tất cả đều sai
Người Ki-tô hữu có bổn phận nào đối với xã hội?
Người Ki-tô hữu cần tích cực hoán cải nội tâm và cổ võ công bằng bác ái, đồng thời góp phần đổi mới các định chế và điều kiện sống trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng.
Người Ki-tô hữu cần tích cực cổ võ công bằng bác ái, đồng thời góp phần đổi mới các định chế và điều kiện sống trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng.
Người Ki-tô hữu cần tích cực sống chứng tá bằng việc hoán cải nội tâm, cổ võ công bằng bác ái, đồng thời góp phần đổi mới các định chế và điều kiện sống trong xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng.
Cả A, B và C
Chúng ta phải tham gia xây dựng công ích bằng cách nào?
Chúng ta phải tham gia bằng cách: Tôn trọng các luật công bằng; Sống bác ái yêu thương; Chu toàn các trách nhiệm cá nhân trong xã hội và tham gia vào đời sống cộng đồng.
Chúng ta phải tham gia bằng cách: Tôn trọng các luật công bằng; Sống bác ái yêu thương và tham gia vào đời sống cộng đồng.
Chúng ta phải tham gia bằng cách: Tôn trọng các luật công bằng; Chu toàn các trách nhiệm cá nhân trong xã hội và tham gia vào đời sống cộng đồng.
Cả A, B và C
Hoạt động tông đồ nghĩa là gì?
Hoạt động tông đồ là dấn thân vào mọi hoạt động trong đời sống xã hội, với mục đích giúp cho người khác biết và tin theo Chúa Giê-su.
Hoạt động tông đồ là làm việc có mục đích giúp cho người khác biết và tin theo Chúa Giê-su.
Hoạt động tông đồ là dấn thân vào mọi hoạt động trong đời sống Giáo Hội cũng như xã hội, với mục đích giúp cho người khác biết và tin theo Chúa Giê-su.
Cả A, B và C
Ta có nhiệm vụ hoạt động tông đồ không?
Có. Tất cả mọi người Ki-tô hữu đều có nhiệm vụ mở rộng Nước Chúa, tham gia các hoạt động tông đồ, truyền giáo.
Có. Công việc này, trước tiên thuộc về hàng giáo sĩ và tu sĩ. Tuy nhiên, tất cả mọi người Ki-tô hữu đều có nhiệm vụ mở rộng Nước Chúa, tham gia các hoạt động tông đồ, truyền giáo.
Có. Công việc này, trước tiên thuộc về hàng giáo sĩ và tu sĩ. Tuy nhiên, là người giáo dân, chúng ta cũng có nhiệm vụ mở rộng Nước Chúa, tham gia các hoạt động tông đồ, truyền giáo.
Cả A, B và C
Ta hoạt động tông đồ như thế nào?
Ta có thể tham gia vào nhiều lãnh vực hoạt động tông đồ như: thăm viếng, dạy giáo lý và các sinh hoạt tông đồng của Hội Thánh.
Ta có thể hoạt động tông đồ theo hình thức cá nhân hay tập thể như thăm viếng, dạy giáo lý và các sinh hoạt tông đồng của Hội Thánh.
Ta có thể tham gia vào nhiều lãnh vực hoạt động tông đồ như: thăm viếng, tặng quà, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, dạy giáo lý và các sinh hoạt tông đồng của Hội Thánh.
Cả A, B và C
Vì sao Hội Thánh có sứ mạng truyền giáo?
Vì Thiên Chúa muốn cho mọi người được ơn cứu độ.
Vì Hội Thánh có bổn phận đem chân lý được Thiên Chúa trao phó đến cho mọi người.
Vì chính Chúa Ki-tô, trước khi về trời đã sai các Tông đồ đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân.
Cả A, B và C
Á Bí tích là gì?
Á Bí tích là những dấu hiệu thánh thiêng do Hội Thánh thiết lập, để giúp các tín hữu thánh hóa một số hoàn cảnh trong cuộc sống.
Á Bí tích là những dấu hiệu thánh thiêng do Chúa Giê-su thiết lập, để giúp các tín hữu thánh hóa một số hoàn cảnh trong cuộc sống.
Á Bí tích là những dấu hiệu thánh thiêng do Hội Thánh thiết lập, để giúp các tín hữu thánh hóa bản thân mình, cùng một số hoàn cảnh trong cuộc sống.
Cả A, B và C
Có mấy loại Á Bí tích?
Có 4 loại Á Bí tích, gồm: Việc chúc lành; Thánh hiến những con người; Dâng hiến những đồ vật và Việc trừ tà.
Có 4 loại Á Bí tích, gồm: Việc chúc lành; Thánh hiến những con người; Dâng hiến những đồ vật được dùng vào việc thờ phượng và Việc trừ tà.
Có 4 loại Á Bí tích, gồm: Việc chúc lành; Thánh hiến những con người; Thánh hiến những nơi chốn, đồ vật và Việc trừ tà.
Cả A, B và C
Ngoài Phụng vụ, đời sống Ki-tô hữu còn được nuôi sống bằng những hình thức đạo đức bình dân nào?
Ngoài Phụng vụ, đời sống Ki-tô hữu còn được nuôi sống bằng những hình thức đạo đức bình dân như: Việc tôn kính các di tích thánh, hành hương, rước kiệu, chặng đàng Thánh giá, lần chuỗi Mân Côi…
Ngoài Phụng vụ, đời sống Ki-tô hữu còn được nuôi sống bằng những hình thức đạo đức bình dân như: Việc tôn kính các di tích thánh, rước kiệu, chặng đàng Thánh giá, lần chuỗi Mân Côi…
Ngoài Phụng vụ, đời sống Ki-tô hữu còn được nuôi sống bằng những hình thức đạo đức bình dân như: Việc tôn kính các di tích thánh, viếng nhà thờ, hành hương, rước kiệu, chặng đàng Thánh giá, lần chuỗi Mân Côi…
Cả A, B và C
Hội Thánh có thái độ nào đối với những việc đạo đức bình dân?
Hội Thánh cổ võ những việc đạo đức bình dân phù hợp với Tin Mừng và sự khôn ngoan của con người, đồng thời góp phần làm cho đời sống Ki-tô hữu được phong phú.
Hội Thánh cổ võ những việc đạo đức bình dân phù hợp với Tin Mừng và góp phần làm cho đời sống Ki-tô hữu được phong phú.
Hội Thánh chỉ cổ võ những việc đạo đức bình dân phù hợp với Tin Mừng và giáo huấn của Hội Thánh mà thôi.
Cả A, B và C
Vì sao chúng ta có thể tôn kính ảnh tượng?
Vì Con Thiên Chúa đã xuống thế, trở nên con người thật như chúng ta, nên chúng ta có thể dùng ảnh tượng để dễ hướng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà noi gương các Ngài.
Vì Con Thiên Chúa đã làm người, nên chúng ta có thể dùng ảnh tượng để dễ hướng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh mà noi gương các Ngài.
Vì Con Thiên Chúa đã xuống thế, trở nên con người thật như chúng ta, có thân xác như chúng ta, nên chúng ta có thể dùng ảnh tượng để dễ hướng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa.
Cả A, B và C
Cầu nguyện là gì ?
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, là tâm sự với Chúa nỗi lòng của mình, và để gặp gỡ và hiệp thông với Ngài trong tình yêu thương.
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, để gặp gỡ và hiệp thông với Ngài trong tình yêu thương.
Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên cùng Chúa, là tâm sự với Chúa niềm vui cũng như nỗi buồn trong cuộc sống, nhờ đó, chúng ta có thể gặp gỡ và hiệp thông với Ngài trong tình yêu thương.
Cả A, B và C
Vì sao chúng ta phải cầu nguyện ?
Vì tự bản chất, con người luôn khao khát hướng về Thiên Chúa là nguồn sự sống vì con người vốn mỏng giòn, yếu đuối. Chỉ Thiên Chúa mới có thể đáp ứng mọi ước muốn của chúng ta.
Vì tự bản chất, con người luôn khao khát hướng về Thiên Chúa là nguồn sự sống. Chỉ Thiên Chúa mới có thể đáp ứng mọi ước muốn của chúng ta như lời Ngài phán: “Không có Thầy, anh em không làm gì được”
Vì tự bản chất, con người luôn khao khát hướng về Thiên Chúa là nguồn sự sống và vì Ngài vẫn hằng kêu mời chúng ta đến gặp gỡ, thưa chuyện với Ngài.
Cả A, B và C
Trong Tân Ước, ai là mẫu gương cầu nguyện hoàn hảo nhất ?
Trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su là mẫu gương cầu nguyện hoàn hảo nhất.
Trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su là mẫu gương cầu nguyện hoàn hảo nhất. Ngoài ra, Hội Thánh còn giới thiệu cho chúng ta tấm gương của nguyện của Đức Maria và các Tông đồ.
Trong Tân Ước, chính Chúa Giê-su là mẫu gương cầu nguyện hoàn hảo nhất. Trong suốt cuộc đời của mình, Chúa Giê-su không khi nào ngừng cầu nguyện, Ngài luôn tìm thời gian thuận tiện để cầu nguyện với Thiên Chúa Cha.
Cả A, B và C
Chúa Giê-su dạy chúng ta cầu nguyện thế nào ?
Chúa Giê-su dạy chúng ta hướng lòng lên Chúa Cha, cầu nguyện với ý hướng ngay lành, với niềm tin mạnh mẽ, sự kiên trì và tình con thảo.
Chúa Giê-su dạy chúng ta hướng lòng lên Chúa Cha, để như Ngài, chúng ta cũng cầu nguyện với ý hướng ngay lành, với niềm tin mạnh mẽ, sự kiên trì và tình con thảo.
Chúa Giê-su dạy chúng ta cầu nguyện với ý hướng ngay lành, với niềm tin mạnh mẽ, sự kiên trì và tình con thảo.
Cả A, B và C
Chúng ta có thể cầu nguyện trong những hoàn cảnh nào?
Chúng ta có thể cầu nguyện trong bất cứ hoàn cảnh nào như: khi vui, buồn, thành công, thất bại.
Chúng ta có thể cầu nguyện tạ ơn Chúa khi lãnh nhận những ơn lành; ngợi khen Chúa khi chúng ta hân hoan vui sướng.
Chúng ta có thể cầu nguyện xin Ngài ban cho chúng ta, hay cho mọi người khác những ơn cần thiết.
Cả A, B và C
Chúng ta có thể cầu nguyện ở đâu?
Chúng ta có thể cầu nguyện bất cứ nơi đâu, miễn sao chúng ta có thể gặp gỡ được Chúa.
Chúng ta có thể cầu nguyện bất cứ nơi đâu, nhưng nhà thờ vẫn là nơi ưu tiên cho việc cầu nguyện. Ngoài ra, những nơi thanh vắng, cô tịch… cũng thích hợp cho việc cầu nguyện.
Chúng ta chỉ có thể cầu nguyện ở nhà thờ, nhà nguyện, là nơi ưu tiên cho việc cầu nguyện và gặp gỡ Chúa.
Cả A, B và C
Thời điểm nào thích hợp cho việc cầu nguyện?
Mọi thời điểm đều thích hợp cho việc cầu nguyện, nhưng để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện, Hội Thánh đề nghị các Ki-tô hữu những thời điểm sau: Ban sáng và ban tối; trước và sau bữa ăn; phụng vụ Các Giờ Kinh; Thánh lễ; kinh Mân Côi; các lễ mừng trong Năm Phụng vụ.
Mọi thời điểm đều thích hợp cho việc cầu nguyện, nhưng để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện, Hội Thánh đề nghị các Ki-tô hữu những thời điểm sau: Ban sáng và ban tối; trước và sau bữa ăn; Thánh lễ; kinh Mân Côi; các lễ mừng trong Năm Phụng vụ.
Mọi thời điểm đều thích hợp cho việc cầu nguyện, nhưng để nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện, Hội Thánh đề nghị các Ki-tô hữu những thời điểm sau: Ban sáng và ban tối; trước và sau bữa ăn; Thánh lễ và lần chuỗi kinh Mân Côi.
Cả A, B và C
Vì sao Hội Thánh cầu nguyện với Đức Maria và cầu nguyện cùng Đức Maria?
Hội Thánh cầu nguyện với Đức Maria, vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa; Hội Thánh cầu nguyện cùng Đức Maria, vì Mẹ là người cầu nguyện tuyệt hảo nhất.
Hội Thánh cầu nguyện với Đức Maria, vì Mẹ đã cộng tác cách độc đáo với hoạt động của Chúa Thánh Thần; Hội Thánh cầu nguyện cùng Đức Maria, vì Mẹ là người cầu nguyện tuyệt hảo
Hội Thánh cầu nguyện với Đức Maria, vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa; Hội Thánh cầu nguyện cùng Đức Maria, vì Mẹ là mẫu gương cho chúng ta trong việc cầu nguyện.
Cả A, B và C
Các Thánh giúp chúng ta cầu nguyện thế nào?
Trước tiên, các Thánh là những gương mẫu cầu nguyện cho tất cả chúng ta. Thứ đến, các ngài đã để lại nhiều linh đạo dạy chúng ta cách sống và thực hành việc cầu nguyện.
Các Thánh là những người ban ơn soi sáng, giúp chúng ta có thể cầm lòng cầm trí mà chuyên tâm cầu nguyện. Ngoài ra, các ngài còn là những mẫu gương trong việc cầu nguyện để chúng ta noi theo.
Các Thánh là những gương mẫu cầu nguyện. Các ngài hằng chuyển cầu cho chúng ta và để lại nhiều linh đạo dạy chúng ta cách sống và thực hành việc cầu nguyện.
Cả A, B và C

