Đề ôn thi ĐGNL Đại học Sư phạm Hà Nội môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 3
Đề thi

Đề ôn thi ĐGNL Đại học Sư phạm Hà Nội môn Ngữ văn có đáp án - Đề số 3

A
Admin
ĐHSP Hà NộiĐánh giá năng lực49 lượt thi
12 câu hỏi
Đoạn văn

I.1. Đọc văn bản 1 và trả lời các câu hỏi từ 1 đến 5.

VĂN BẢN 1

[ ... ] Tâm ngữ học cần đi sâu vào cảm xúc ngôn ngữ (ngữ cảm). Nó có vai trò quan trọng trong đọc hiểu văn bản nói chung và tác phẩm văn chương. Đọc hiểu là một hành động nhận thức tích cực và là một quá trình kiến tạo ý nghĩa. Để hiểu văn bản nghệ thuật không thể không nắm vững cảm xúc ngôn ngữ. Ngôn ngữ có một lịch sử hình thành chung và sinh thành với người nói, người viết, người đọc. Nó là thứ ngôn ngữ tràn đầy tình cảm và linh hồn riêng. Nó phản chiếu tâm hồn trong bản năng sống, tuy quen thuộc, ngôn ngữ vẫn có thể thức tỉnh những cảm xúc sâu lắng ở người đọc một cách độc đáo dân tộc. Cái đó chỉ có thể gọi là tình yêu tiếng mẹ đẻ.

Ngữ cảm là cái hồn của ý nghĩa phái sinh và đem lại sự chính xác trong đọc hiểu. Nhà thơ Tố Hữu là một bằng chứng thuyết phục về ngữ cảm thi nhân. Không thể thay từ “xôn xao” trong “Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa” (Mẹ Tơm) bằng gió lộng lao xao. Người đọc cũng không thể hoài nghi chữ “xao xác” trong “Tiếng chổi tre xao xác hàng me” là chữ thần vì chúng sống và trải nghĩa và ý ra trong tiếng lòng của tác giả.

Nếu tâm ngữ học chỉ dừng lại với nghĩa và ý để “hiểu ngay” như một sự phản ứng ngôn ngữ không tính toán đến biểu tượng nghệ thuật và ngữ cảm với chức năng kiến tạo ý nghĩa thì sẽ gặp khó khăn đáng kể trong đọc hiểu văn chương.

Hiểu trong đọc hiểu phải đạt tới mức thấm thía hương vị và cách diễn đạt mới mẻ độc đáo của ngôn từ qua cảm giác, tri giác, cảm xúc kết hợp với tưởng tượng, biểu tượng, ngữ cảm trực giác và những linh cảm của người đọc. Vưgôtxki từng viết: “Chúng ta đưa mình từ trong lòng vào tác phẩm nghệ thuật ...” (L. Vưgôtxki - Tâm lí học nghệ thuật, Nxb Khoa học xã hội, H.1981, trang 244) [ ... ]

Tâm lí học là khoa học nhân văn, là khoa học về cuộc sống sinh động đang diễn ra và biến chuyển không thể lường trước. Cuộc đời có gì trong quá khứ, hiện tại và tương lai thì tâm lí học cần phải bao quát tới để kiến giải với tư cách tồn tại người thậm chí phải đương đầu với những tương quan bí ẩn.

Tác phẩm văn chương chứa trong nó những tương quan như thế nên tâm lí học nghệ thuật, tâm lí học ngôn ngữ, tâm lí học miền sâu ... sẽ đóng vai trò khởi điểm và làm tĩnh lặng, sạch trong và tha ngã bản thân với tư cách cái tôi tự cho là sáng suốt bằng cái tôi ngu muội để trải nghiệm cái tôi chưa hề có trong đọc hiểu văn chương.

(Trích Nghiên cứu và giảng dạy Ngữ Văn, Nxb Đại học sư phạm, 2011, tr. 501)

1. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phần I (3 điểm). Thí sinh trả lời từ câu 1 đến câu 10. Đối với mỗi câu, thí sinh chỉ chọn một phương án.

Theo tác giả, vì sao có thể khẳng định: Cảm xúc ngôn ngữ (ngữ cảm) có vai trò quan trọng trong đọc hiểu văn bản?

Cảm xúc ngôn ngữ là một phần của tác phẩm văn chương.

Đọc hiểu là quá trình kiến tạo ý nghĩa ngôn ngữ văn chương.

Đọc hiểu là hành động nhận thức tích cực văn chương.

Cảm xúc ngôn ngữ là cái hồn của ý nghĩa phái sinh trong văn bản.

Xem đáp án

- Ở đoạn thứ hai, tác giả khẳng định: “Ngữ cảm là cái hồn của ý nghĩa phái sinh và đem lại sự chính xác trong đọc hiểu.

Điều này cho thấy ngữ cảm không chỉ giúp hiểu nghĩa trực tiếp của ngôn từ mà còn giúp người đọc khám phá những tầng nghĩa sâu xa, tinh tế của tác phẩm. Chính vì vậy, ngữ cảm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đọc hiểu văn chương.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Cảm xúc ngôn ngữ là một phần của tác phẩm văn chương. → Văn bản không khẳng định ngữ cảm chỉ là “một phần” của tác phẩm mà nhấn mạnh vai trò của nó đối với việc kiến tạo ý nghĩa.

B. Đọc hiểu là quá trình kiến tạo ý nghĩa ngôn ngữ văn chương. → Đây là đặc điểm của hoạt động đọc hiểu, chưa giải thích trực tiếp vì sao ngữ cảm quan trọng.

C. Đọc hiểu là hành động nhận thức tích cực văn chương. → Đây cũng chỉ là đặc điểm của hoạt động đọc hiểu, không phải nguyên nhân làm nổi bật vai trò của ngữ cảm.

=> Chọn D.

2. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Để làm sáng tỏ vai trò của ngữ cảm trong tác phẩm văn chương, tác giả dùng bằng chứng nào sau đây?

Hai câu thơ thần của Tố Hữu.

Ý kiến của L. Vưgôtxki.

Lí thuyết về đặc điểm tâm lí học.

Lí thuyết về đặc điểm tâm lí học nghệ thuật.

Xem đáp án

- Để chứng minh ngữ cảm quyết định giá trị của ngôn từ, tác giả dẫn hai câu thơ:

“Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa.”

“Tiếng chổi tre xao xác hàng me.”

Tác giả phân tích rằng không thể thay thế các từ "xôn xao", "xao xác" bằng từ khác vì mỗi từ đều mang sắc thái biểu cảm rất riêng. Đây là minh chứng cụ thể cho vai trò của ngữ cảm trong sáng tạo và tiếp nhận văn chương.

- Vì sao các đáp án khác sai?

B. Ý kiến của Lev Vygotsky. → Ý kiến của Vygotsky được dùng để làm rõ yêu cầu của đọc hiểu văn chương, không trực tiếp chứng minh vai trò của ngữ cảm.

C. Lí thuyết về đặc điểm tâm lí học. → Chỉ là cơ sở lí luận chung.

D. Lí thuyết về đặc điểm tâm lí học nghệ thuật. → Được nêu ở phần cuối nhằm mở rộng vấn đề, không phải dẫn chứng trực tiếp.

=> Chọn A.

3. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Phương án nào nêu đúng về giọng điệu nghị luận trong văn bản?

Hào hứng, say mê.

Suy tư, chiêm nghiệm.

Sắc sảo, chặt chẽ.

Lo lắng, hoài nghi.

Xem đáp án

- Đây là văn bản nghị luận khoa học nên lập luận được triển khai theo trình tự logic: nêu luận điểm; giải thích; đưa dẫn chứng; khái quát kết luận.

Ngôn ngữ khách quan, lí lẽ rõ ràng, lập luận mạch lạc nên giọng điệu nổi bật là sắc sảo, chặt chẽ.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Hào hứng, say mê. → Không phải giọng điệu chủ đạo.

B. Suy tư, chiêm nghiệm. → Có yếu tố suy ngẫm nhưng không nổi bật.

D. Lo lắng, hoài nghi. → Hoàn toàn không phù hợp.

=> Chọn C.
4. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Sử dụng trích dẫn trực tiếp trong đoạn trích nhằm mục đích gì?

Tăng tính xác thực của thông tin, quan điểm.

Tạo sự hấp dẫn, mới lạ cho văn bàn.

Thể hiện sự hiểu biết của người viết.

Tăng tính thuyết phục cho luận điểm.

Xem đáp án

- Tác giả trích dẫn ý kiến của Lev Vygotsky: “Chúng ta đưa mình từ trong lòng vào tác phẩm nghệ thuật...”. Việc trích dẫn trực tiếp ý kiến của một nhà nghiên cứu uy tín giúp: làm rõ cơ sở khoa học của vấn đề; tăng độ tin cậy cho thông tin và quan điểm được trình bày. Đây là tác dụng đặc trưng của trích dẫn trực tiếp trong văn bản nghị luận.

- Vì sao các đáp án khác sai?

B. Tạo sự hấp dẫn, mới lạ cho văn bản. → Chỉ là tác dụng phụ.

C. Thể hiện sự hiểu biết của người viết. → Không phải mục đích chính.

D. Tăng tính thuyết phục cho luận điểm. → Đây cũng là tác dụng đúng của trích dẫn. Tuy nhiên, câu hỏi hỏi riêng về trích dẫn trực tiếp, nên tác dụng đặc trưng và trực tiếp hơn là tăng tính xác thực của thông tin, quan điểm. Chính vì vậy đáp án A phù hợp hơn.

=> Chọn A.

5. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Nhận định nào phù hợp với quan điểm của tác giả về yêu cầu của đọc hiểu văn chương:

Hiểu thông qua tri giác ngôn ngữ các giác quan.

Hiểu được hương vị riêng, độc đáo của ngôn ngữ.

Hiểu qua tưởng tượng từ ngôn ngữ.

Hiểu qua linh cảm của người đọc.

Xem đáp án

- Tác giả khẳng định: “Hiểu trong đọc hiểu phải đạt tới mức thấm thía hương vị và cách diễn đạt mới mẻ độc đáo của ngôn từ...”

Đây là yêu cầu cao nhất của đọc hiểu văn chương: không chỉ hiểu nội dung mà còn cảm nhận được vẻ đẹp nghệ thuật của ngôn ngữ.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Hiểu thông qua tri giác ngôn ngữ các giác quan. → Tri giác chỉ là một yếu tố trong quá trình đọc hiểu.

C. Hiểu qua tưởng tượng từ ngôn ngữ. → Tưởng tượng chỉ là một thành tố.

D. Hiểu qua linh cảm của người đọc. → Linh cảm cũng chỉ là một yếu tố hỗ trợ.

=> Chọn B.

Đoạn văn

I.2. Đọc văn bản 2 và trả lời các câu hỏi từ 6 đến 10.

VĂN BẢN 2

... “Đọc” bất kì dưới hình thức nào cũng là một hoạt động. Vì thế, cho dù bạn đọc cái gì, ít nhiều cũng cần có tính tích cực. Người ta không thể đọc hoàn toàn thụ động, nghĩa là đọc mà mắt không di chuyển, và đầu óc thì mơ màng. Chúng tôi chỉ ra sự tương phản giữa đọc tích cực và đọc thụ động nhằm hướng mọi người chú ý đến một thực tế là việc đọc ít nhiều đều phải tích cực và càng đọc tích cực, càng có hiệu quả.

Một độc giả sẽ đọc tốt hơn một độc giả khác nếu người đó thực hiện nhiều hoạt động hơn, và cố gắng nhiều hơn. Người đó sẽ đọc tốt hơn nếu họ đòi hỏi nhiều hơn ở bản thân, và nội dung họ đang đọc.

Nhiều người cho rằng đọc và nghe hoàn toàn bị động so với viết và nói. Người viết hoặc nói đều phải cố gắng, không ít thì nhiều, nhưng người đọc hay nghe thì chẳng phải làm gì. Người ta cũng cho rằng đọc và nghe là hoạt động thu nhận thông tin từ một ai đó đang tích cực truyền gửi thông tin. Sẽ là sai lầm khi coi việc tiếp nhận thông tin giống như bị một cái tát, hoặc nhận một gia sản hay một lời phán quyết của toà án. Ngược lại, độc giả hay thính giả giống người bắt bóng trong môn bóng chày nhiều hơn.

Bắt bóng là một hoạt động giống như ném bóng, hay đánh bóng. Người ném bóng hay đánh bóng chính là người gửi thông tin theo nghĩa là hành động của họ khiến quả bóng chuyển động. Người bắt bóng là người tiếp nhận thông tin theo nghĩa là hành động của họ làm quả bóng dừng lại. Dù hành động khác nhau nhưng cả người ném và người bắt đều rất chủ động.

Vật thụ động chỉ có thể là quả bóng vô tri bị điều khiển để chuyển động và dừng lại. So sánh với việc viết và đọc, ta sẽ thấy nội dung viết và đọc cũng như quả bóng - là thứ bị động chung cho cả hai hoạt động bắt đầu và kết thúc một quá trình nào đó.

So sánh sâu hơn, bạn sẽ thấy nghệ thuật bắt bóng là kĩ năng bắt được bóng ném đi theo nhiều cách (ném nhanh theo đường vòng cung, ném xoáy theo đường zic-zắc). Nghệ thuật đọc cũng tương tự - là kĩ năng tiếp nhận các loại thông tin càng hiệu quả càng tốt. Điều đáng chú ý là thành công của người ném bóng và bắt bóng tuỳ thuộc mức độ phối hợp giữa hai bên. Mối quan hệ giữa người viết và người đọc cũng như vậy. Giao tiếp giữa người viết và người đọc chỉ thành công khi những gì người viết muốn chuyển tải có thể đi vào lòng độc giả. Một số người viết có khả năng kiểm soát rất tốt - họ biết rõ điều mình muốn viết, và chuyển tải chúng rất chính xác. Ngược lại, cũng có những người viết lộn xộn, không kiểm soát được.

Đọc một bài viết, người đọc có thể tiếp nhận một lượng thông tin ít hay nhiều, toàn bộ hay chỉ một phần, phụ thuộc vào mức độ hoạt động mà họ bỏ ra trong quá trình đọc và kĩ năng điều khiển các hoạt động trí óc liên quan.

…. Đến đây, bạn chỉ cần hiểu rằng nếu cùng đọc một tài liệu, người này sẽ đọc hiệu quả hơn người kia nhờ đọc tích cực hơn và thực hiện các hoạt động có liên quan tài tình hơn. Tóm lại, đọc là một hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động tách biệt. Ai thực hiện nhiều hoạt động hơn sẽ đọc tốt hơn.

(Theo Mortimer J.Ader, trích Phương pháp đọc sách hiệu quả,

Nxb Lao động xã hội, 2012, Tr.14-16)

6. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Theo tác giả, vì sao đọc là quá trình phức tạp?

Đọc bao gồm nhiều hoạt động cùng được thực hiện.

Đọc là quá trình lí giải sự phức tạp của ngôn ngữ.

Đọc phụ thuộc vào khả năng nhận thức người đọc.

Đọc phụ thuộc vào đặc điểm của thể loại.

Xem đáp án

- Ở cuối văn bản, tác giả kết luận: “Đọc là một hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động tách biệt.” Điều đó cho thấy trong quá trình đọc, người đọc phải đồng thời thực hiện nhiều hoạt động trí tuệ như quan sát, suy luận, phân tích, liên hệ, đánh giá,...

- Vì sao các đáp án khác sai?

B. Đọc là quá trình lí giải sự phức tạp của ngôn ngữ. → Không phải nội dung văn bản.

C. Đọc phụ thuộc vào khả năng nhận thức. → Chỉ phản ánh một yếu tố.

D. Đọc phụ thuộc vào đặc điểm thể loại. → Văn bản không đề cập.

=> Chọn A.

7. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Câu nói: “Đọc” bất kì dưới hình thức nào cũng là một hoạt động khẳng định điều gì?

Con người cần linh hoạt trong Đọc.

Đọc tồn tại dưới nhiều hình thức.

Đọc là hoạt động chủ động của con người.

Có thể đọc hoàn toàn thụ động

Xem đáp án

- Ngay sau câu mở đầu, tác giả nhấn mạnh: không thể đọc hoàn toàn thụ động; càng tích cực thì càng đọc hiệu quả. Như vậy, đọc luôn là hoạt động chủ động, đòi hỏi sự tham gia tích cực của người đọc.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Con người cần linh hoạt trong đọc. → Không phải ý chính.

B. Đọc tồn tại dưới nhiều hình thức. → Chỉ là thông tin mở đầu.

D. Có thể đọc hoàn toàn thụ động. → Trái hoàn toàn với nội dung văn bản.

=> Chọn C.

8. Trắc nghiệm
• 1 điểm
So sánh độc giả hay thính giả giống người bắt bóng có vai trò gì trong văn bản?

Tạo sự hấp dẫn bằng số liệu cho văn bản.

Thể hiện đó là quá trình trải nghiệm của con người.

Chứng minh ý nghĩa của hoạt động Đọc.

Gợi hình dung nghệ thuật đọc hiệu quả.

Xem đáp án

- Tác giả so sánh: người viết như người ném bóng; người đọc như người bắt bóng. Hình ảnh này giúp người đọc dễ hình dung rằng đọc cũng là một kĩ năng chủ động, cần biết tiếp nhận thông tin giống như người bắt bóng phải biết bắt những đường bóng khác nhau.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Tạo sự hấp dẫn bằng số liệu. → Không sử dụng số liệu.

B. Thể hiện đó là quá trình trải nghiệm. → Không phải mục đích chính.

C. Chứng minh ý nghĩa của hoạt động đọc. → Phép so sánh chủ yếu giúp hình dung cách đọc hiệu quả, nên D chính xác hơn.

=> Chọn D.

9. Trắc nghiệm
• 1 điểm
Nhan đề nào dưới đây phù hợp với nội dung văn bản trên?

Đọc chủ động.

Nghệ thuật Đọc.

Đọc thu nhận.

Đọc đa dạng.

Xem đáp án

- Toàn văn không chỉ nhấn mạnh việc đọc phải chủ động mà còn phân tích: đọc là một kĩ năng; đọc cần nhiều hoạt động trí tuệ; đọc hiệu quả giống như nghệ thuật bắt bóng. Vì vậy, nhan đề “Nghệ thuật đọc” bao quát đầy đủ nội dung hơn.

- Vì sao các đáp án khác sai?

A. Đọc chủ động. → Chỉ phản ánh một khía cạnh.

C. Đọc thu nhận. → Quá hẹp.

D. Đọc đa dạng. → Không đúng trọng tâm.

=> Chọn B.

10. Trắc nghiệm
• 1 điểm

Phương án nào phù hợp với đánh giá của tác giả về ý nghĩa của đọc tích cực?

Đọc tích cực là chuỗi các hoạt động khác nhau.

Đọc tích cực là sử dụng tưởng tượng để hiểu.

Đọc tích cực là thực hiện theo chỉ dẫn.

Đọc tích cực có thể bỏ qua các hoạt động

Xem đáp án

- Theo tác giả: đọc tích cực giúp nâng cao hiệu quả đọc; người đọc càng thực hiện nhiều hoạt động trí tuệ thì càng đọc tốt; đọc là một hoạt động phức tạp gồm nhiều hoạt động tách biệt. Vì vậy, đọc tích cực là quá trình huy động đồng thời nhiều hoạt động như quan sát, suy luận, phân tích, liên hệ, đánh giá,... để kiến tạo ý nghĩa của văn bản.

- Vì sao các đáp án khác sai?

B. Đọc tích cực là sử dụng tưởng tượng để hiểu. → Tưởng tượng chỉ là một trong nhiều hoạt động.

C. Đọc tích cực là thực hiện theo chỉ dẫn. → Văn bản không đề cập.

D. Đọc tích cực có thể bỏ qua các hoạt động. → Trái hoàn toàn với nội dung văn bản, vì chính việc thực hiện nhiều hoạt động tạo nên hiệu quả đọc.

=> Chọn A.

11. Tự luận
• 1 điểm

B. VIẾT TRÊN TỜ GIẤY THI

Phần II (2 điểm). Viết đoạn văn nghị luận xã hội.

“Bạn cũng biết rồi đó, cái tên đôi khi được cha mẹ đặt cho một cách ngẫu nhiên, nhưng chính cách sống của bạn đã không ngừng chưng cất cái tên của mình qua năm tháng, giúp nó tỏa hương”.

(Nguyễn Nhật Ánh, “Tôi là Bê tô”, NXB Trẻ, 2007).

Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về cách sống có thể “chưng cất cái tên của mình qua năm tháng” và “giúp nó tỏa hương”.

Xem đáp án

Tiêu chí đánh giá

Thang điểm

Nội dung

Tổ chức đoạn văn nghị luận

Từ vựng, ngữ pháp

Thể hiện được đầy đủ các tiêu chí, nội dung đánh giá:

(1) Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của cách sống giúp mỗi người “chưng cất cái tên của mình qua năm tháng” và “giúp nó tỏa hương”. Khẳng định vai trò của cách sống trong việc tạo dựng giá trị, uy tín và dấu ấn của mỗi con người. (0,25 điểm)

(2) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

- Giải thích: Cách sống của mỗi người sẽ khẳng định giá trị và sự ảnh hưởng tích cực của họ đến cộng đồng. (0,25 điểm)

- Đưa ra các ý triển khai và các dẫn chứng để lập luận (1,25 điểm):

+ Bằng cách đối xử và hành động tích cực (cách sống), tên tuổi của chúng ta dần dần được khẳng định, tỏa sáng và lưu danh.

+ Biểu hiện: sống tận hiến, sống nhân ái, sống tử tế, sống dấn thân, sống là chính mình, sống giàu ước mơ và khát vọng ...

+ Phê phán những đối tượng có những cách sống không đẹp, không đúng đắn, không khẳng định được giá trị của bản thân, khiến cái tên của mình trở nên mờ nhạt, vô nghĩa trong xã hội.

+ Nhìn cách sống mình lựa chọn ở nhiều góc độ, chỉ ra những cách hiểu chưa đúng, chưa toàn diện về cách sống ấy.

+ Xác định rõ ràng cách sống và thực hiện, theo đuổi cách sống đó một cách tích cực, nghiêm túc.

(3). Khẳng định: Sống tích cực, khẳng định giá trị là cách ứng xử đúng đắn và phải cố gắng thực hiện. (0,25 điểm)

(Lưu ý: Thí sinh có thể có trình bày và triển khai các ý khác với các tiêu chí đánh giá như trên nhưng phải thể hiện được những lập luận sâu sắc, thuyết phục: thái độ, thông điệp tích cực, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật).

- Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn có dung lượng khoảng 200 chữ, có thể trình bày theo cấu trúc diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hay song hành.

- Đảm bảo mạch lạc, liên kết giữa các câu trong đoạn:

+ Các câu trong đoạn tập trung vào thể hiện rõ vấn đề nghị luận.

+ Các ý triển khai (phát triển chi tiết) hài hòa (không bị mắc lỗi loãng ý hay thiếu hụt ý).

+ Các câu trong đoạn liên kết chặt chẽ.

- Từ ngữ, kiểu câu trong đoạn văn sinh động, phù hợp, sắc bén.  

2,0

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, triển khai cơ bản hợp lí, đưa ra được những dẫn chứng nhưng chưa cập nhật, xác đáng.

Cơ bản đảm bảo được mạch lạc và liên kết trong đoạn.

Có một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

1,5

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, triển khai chung chung, dẫn chứng không thật xác đáng.

Có lỗi mạch lạc hoặc lỗi liên kết câu trong đoạn.

Có một số lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

1,0

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận nhưng các ý triển khai sơ sài, không có dẫn chứng.

Không đảm bảo mạch lạc và liên kết trong đoạn.

Có nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.

0,5

Không viết đoạn hoặc nội dung của đoạn văn không liên quan đến yêu cầu của đề bài.

0

12. Tự luận
• 1 điểm

Phần III (5 điểm). Viết bài nghị luận văn học.

Hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn thơ sau:

Sân ga chiều em đi

Mênh mang màu nắng nhạt

Bụi bay đầy ba lô

Bụi cay xè con mắt

Sân ga chiều em đi

Gạch dưới chân im lặng

Bóng anh in thành tàu

Tóc anh xoà ngang trán

Sân ga chiều em đi

Bàn tay da diết nắm

Vừa thoáng tiếng còi tàu

Lòng đã Nam đã Bắc

... Con tàu và dòng sông

Ra đi rồi trở lại

Hà Nội ơi Hà Nội

Sân ga chiều em đi

(Xuân Quỳnh, Trích Sân ga chiều em đi, Xuân Quỳnh -

Không bao giờ là cuối, Nxb Hội nhà văn, 2021, Tr.48)

Xem đáp án

Tiêu chí đánh giá

Thang điểm

Nội dung

Tổ chức bài văn nghị luận

Từ vựng, ngữ pháp

Thể hiện đầy đủ các nội dung:

(1) Giới thiệu khái quát: tác giả, đoạn thơ; nội dung đoạn thơ: Bài thơ ghi lại cảm xúc của nhân vật trữ tình trong một buổi chiều chia tay ở sân ga. (0,5 điểm)

(2) Phân tích, đánh giá tình cảm, cảm xúc, ... của nhân vật trữ tình trong đoạn trích. (2,0 điểm)

- Các yếu tố: không gian “sân ga thoáng đãng, nhiều bụi bặm”, cảnh vật cũng như hiểu được tâm trạng của con người; thời gian “buổi chiều”.

- Tình cảm, tâm trạng:

+ Tình cảm, cảm xúc người ra đi (em): Bịn rịn, lưu luyến, nhớ mong, lo lắng ... Qua đó thể hiện sự yêu thương dịu dàng, trìu mến, trách nhiệm của em đối với anh.

+ Tình cảm cảm xúc của người đưa tiễn (anh): Lo lắng, yêu thương, bịn rịn, bồi hồi. Qua đó thể hiện sự yêu thương của anh dành cho em.

(3) Phân tích, đánh giá nghệ thuật thể hiện trong đoạn thơ (2,0 điểm)

- Thể thơ: 5 chữ.

- Cấu tứ: Từ cuộc chia tay tại sân ga của người đi và kẻ ở với những âu lo, yêu thương bịn rịn, nhà thơ đã tạo nên bài thơ nhẹ nhàng sâu lắng.

- Hình ảnh: Hình ảnh mang nghĩa, mang tâm trạng như: gạch dưới chân im lặng, bàn tay nắm bàn tay, sân ga ...

- Ngôn ngữ thơ: Giản dị, ngọt ngào, chân thành thể hiện cảm xúc tự nhiên, nồng nàn của con người.

(4) Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích. (0,5 điểm)

Lưu ý: Thí sinh có thể có trình bày và triển khai các ý theo cách thức khác, nhưng cần đảm bảo đúng với giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

Viết thành bài văn hoàn chỉnh, có đầy đủ mở bài – thân bài – kết bài.

- Có thể triển khai mạch ý theo cách thức linh hoạt, miễn là phân tích được nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

- Luận điểm rõ ràng, được làm rõ bằng lập luận và bằng chứng từ bài thơ, sử dụng phối hợp các thao tác lập luận phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh,…

Dùng từ, viết câu chuẩn xác, diễn cảm,…

5,0

- Thể hiện được 2/3 nội dung (1), (2), (3)

Tổ chức thành bài văn hoàn chỉnh, triển khai thiếu ý hoặc còn sơ sài.

Dùng từ, viết câu đạt yêu cầu cơ bản.

3,5

- Viết thành bài văn nhưng chưa hoàn chỉnh, chưa rõ nội dung của bài, mắc lỗi dùng từ, đặt câu.

1,5

- Không làm bài/ Nội dung viết không liên quan đến yêu cầu đề bài.

0