Bộ 10 đề thi Giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 5 Kết nối tri thức cấu trúc mới có đáp án - Đề 6
12 câu hỏi
A. PHẦN KIỂM TRA ĐỌC: (10 điểm)
I. Đọc thành tiếng: (2 điểm)
- GV cho học sinh đọc đoạn văn bản “Đoàn thuyền đánh cá” (Trang 34 – SGK Tiếng Việt 5 tập 2 - Kết nối tri thức với cuộc sống). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 – 5 phút/ HS.
- Dựa vào nội dung bài đọc, HS trả lời câu hỏi: Những hình ảnh ở khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?
Hình ảnh ở khổ thơ cuối có ý nghĩa: cổ vũ và khích lệ tinh thần của đoàn thuyền đánh cá thành công, kịp trở về khi trời sáng với mẻ cá lớn. Tiếng hát hoà trong niềm vui, gió căng buồm để về với đất liền. Trong đó, những ánh nắng soi vào những con cá, mắt lấp lánh như niềm vui rạo rực của người thợ thuyền cá.
II. Đọc thầm và làm bài tập: (8 điểm)
VIỆT NAM
(Trích)
Việt Nam đẹp khắp trăm miền,
Bốn mùa một sắc trời riêng đất này.
Xóm làng, đồng ruộng, rừng cây,
Non cao gió dựng, sông đầy nắng chang.
Sum sê xoài biếc, cam vàng,
Dừa nghiêng, cau thẳng, hàng hàng nắng soi.
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam!
Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang,
Cà Mau mũi đất mỡ màng phù sa.
Trường Sơn: chí lớn ông cha,
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào.
Mặt người sáng ánh tự hào,
Dáng đi cũng lấp lánh màu tự do.
Bốn ngàn năm dựng cơ đồ,
Vạn năm từ thuở ấu thơ loài người.
Ơi Việt Nam! Việt Nam ơi!
Việt Nam! Ta gọi tên Người thiết tha.
Lê Anh Xuân
(0,5 điểm). Khổ thơ thứ hai cho biết địa danh nào “mỡ màng phù sa”?
Hà Giang.
Cà Mau.
Trường Sơn.
Cửu Long.
Đáp án đúng: B
(0,5 điểm). Trong khổ thơ cuối, dáng đi của con người Việt Nam được miêu tả như thế nào?
Lấp lánh màu tự do.
Sáng ánh tự hào.
Hùng dũng, oai phong.
Nhẹ nhàng, uyển chuyển.
Đáp án đúng: A
(0,5 điểm). Nội dung chính của hai dòng thơ sau là gì?
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông, như núi, như người Việt Nam!
Ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt Nam.
Khẳng định lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam.
Nhấn mạnh sức sống bền bỉ của con người Việt Nam.
Cho thấy vị thế của đất nước Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Đáp án đúng: A
(0,5 điểm). Từ “cơ đồ” trong dòng thơ “Bốn ngàn năm dựng cơ đồ” có nghĩa là gì?
Công trình xây dựng đồ sộ.
Nền kinh tế đứng đầu thế giới.
Sự nghiệp lớn và vững chắc.
Vùng đất rộng lớn.
Đáp án đúng: C
(1,0 điểm). Em hãy dùng dấu “/” để ngăn cách các vế trong câu ghép và gạch chân vào chủ ngữ của mỗi vế:
(a) Chúng ta trồng nhiều cây xanh, không khí sẽ trở nên trong lành.
(b) Trong vườn, những khóm hải đường đâm bông rực rỡ, bướm bay dập dờn.
(c) Nắng ửng hồng, nhuộm màu cảnh vật; hoa đào, hoa mơ nở rực rỡ đầy cành.
a) Chúng ta trồng nhiều cây xanh, / không khí sẽ trở nên trong lành.
b) Trong vườn, những khóm hải đường đâm bông rực rỡ, / bướm bay dập dờn.
c) Nắng ửng hồng, nhuộm màu cảnh vật; / hoa đào, hoa mơ nở rực rỡ đầy cành.
(1,0 điểm). Trong đoạn văn sau người viết đã dùng những từ ngữ nào để chỉ nhân vật Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng):
“Nghe chuyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi thường tưởng tượng đến một trang nam nhi, sức vóc khác người, nhưng tâm hồn thì còn thô sơ và giản dị như tâm hồn tất cả mọi người thời xưa. Tráng sĩ ấy gặp lúc quốc gia lâm nguy đã xông pha ra trận, đem sức khỏe mà đánh tan giặc, nhưng bị thương nặng. Tuy thế người trai làng Phù Đổng vẫn còn ăn một bữa cơm (chỗ ấy nay lập đền thờ ở làng Xuân Tảo) rồi nhảy xuống Hồ Tây tắm, xong mới ôm vết thương của mình lên ngựa đi tìm một rừng cây âm u nào, giấu kín nỗi đau đớn của mình mà chết.”
☐ Tướng quân
☐ Trang nam nhi
☐ Tráng sĩ
☐ Hồ Tây
☐ Người trai làng Phù Đổng
☐ Xuân Tảo
☐ Tướng quân
☑ Trang nam nhi
☑ Tráng sĩ
☐ Hồ Tây
☑ Người trai làng Phù Đổng
☐ Xuân Tảo
(1,0 điểm). Điền từ thích hợp vào câu sau:
Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ ...... cũng là động lực phát triển của lịch sử.
Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.
Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử.
(1,0 điểm). Xác định từ lặp trong 2 câu văn sau:
Páp- lốp nổi tiếng là người làm việc nghiêm túc. Páp- lốp có thói quen làm việc rất thận trọng.
Từ lặp trong 2 câu là “Páp-lốp”.
(1,0 điểm). Xác định bộ phận chủ ngữ, vị ngữ trong các câu sau:
(a) Mái tóc của mẹ em rất đẹp.
(b) Tiếng sóng vỗ loong boong bên mạn thuyền.
(c) Sóng vỗ loong boong bên mạn thuyền.
(d) Sau những cơn mưa xuân, một màu xanh non ngọt ngào thơm mát trải ra mênh mông trên khắp các sườn đồi.
a) Mái tóc của mẹ em/ rất đẹp.
CN VN
b) Tiếng sóng/ vỗ loong boong bên mạn thuyền.
CN VN
c) Sóng/ vỗ loong boong bên mạn thuyền.
CN VN
d) Sau những cơn mưa xuân/, một màu xanh non ngọt ngào thơm mát/ trải ra mênh
TN CN VN
mông trên khắp các sườn đồi.
(1,0 điểm). Hãy cho biết những câu văn sau là câu đơn hay câu ghép.
(a) Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đông.
(b) Làn gió nhẹ chạy qua, những chiếc lá lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ bập bùng cháy.
(c) Nắng lên, nắng chan mỡ gà trên những cánh đồng lúa chín.
a) Câu đơn
b) Câu ghép
c) Câu ghép
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về hoạt động gói bánh chưng hoặc bánh tét ngày Tết.
- Trình bày dưới dạng một đoạn văn ngắn, có số lượng câu từ 8 đến 10 câu, thể hiện tình cảm, cảm xúc về hoạt động gói bánh chưng hoặc bánh tét ngày Tết, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, bố cục đầy đủ, rõ ràng (mở đầu, triển khai, kết thúc): 10 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu, không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
a) Mở đầu:
- Nêu tên sự việc: gia đình tự gói bánh chưng để ăn Tết.
- Thời gian: sáng 29 Tết.
- Địa điểm diễn ra sự việc: căn bếp.
-Ấn tượng chung về sự việc: ấm áp, gần gũi.
b) Triển khai: Nêu tình cảm, cảm xúc về các chi tiết nổi bật của sự việc.
- Gói bánh chưng.
- Luộc bánh chưng.
- Mọi người ngồi quây quần bên bếp lửa để trông bánh.
c) Kết thúc: Nêu ý nghĩa của sự việc: giúp hiểu thêm về phong tục đón Tết.
Bài làm tham khảo
Tết Nguyên Đán năm nay, gia đình em tự gói bánh chưng để ăn Tết. Những năm trước, ông ngoại sẽ gói bánh chưng cho nhà em, nhưng năm nay ông bị đau lưng, nên bố em sẽ tự gói. Tối trước đó, mọi nguyên liệu đều đã được chuẩn bị sẵn, chỉ chờ sáng 29 bố và em dậy sớm gói bánh thôi. Sáng giáp Tết, trời rét buốt, sương mù dày đặc, chỉ có ánh đèn vàng từ căn bếp le lói cố hắt ra sân sưởi ấm cho mấy nhành mai. Bố gói bánh rất chậm, không được nhanh và vuông vắn như ông. Nhưng bố vẫn tỉ mỉ uốn từng nếp lá để có những chiếc bánh đẹp nhất có thể. Mẹ có bảo hay là mua bánh ngoài hàng cũng được, nhưng bố khăng khăng muốn tự gói để biếu ông bà và thắp hương dâng lên tổ tiên, bày tỏ lòng thành kính. Lúc ấy, hình dáng của bố bỗng lớn lao và cao cả hơn hẳn ngày thường. Em ngồi cạnh bố, cố gắng giúp bố xếp lạt, cắt lá, xúc nếp, giữ bánh để bố buộc lạt. Từ chiếc bánh đầu tiên còn hơi méo mó, đến chiếc bánh thứ ba đã vuông vắn hơn hẳn. Cuối cùng, mười chiếc bánh chưng cũng đã ra lò. Bố chọn tám chiếc đẹp nhất để thắp hương và biếu ông bà. Còn hai chiếc kém xinh hơn thì để cả nhà em cùng ăn trước. Ngồi bên bếp lửa ấm nóng hừng hực, em thầm cảm ơn bố vì đã cố gắng đến cùng để gói bánh chưng cho cả nhà. Hoạt động gói bánh ấy không chỉ là để có bánh chưng ăn, mà hơn cả, nó tiếp nối ngọn lửa thiêng liêng của truyền thống, bày tỏ tấm lòng thành kính của con cháu với ông bà tổ tiên. Nếu thiếu đi hoạt động gói bánh chưng, thì Tết vẫn là Tết. Nhưng nó chỉ là một lễ hội bình thường, chẳng còn là ngày Tết cố truyền ý nghĩa truyền thừa hàng trăm năm của dân tộc ta nữa. Chính nhờ lần gói bánh chưng này của bố, mà em thêm hiểu và yêu quý, trân trọng những truyền thống ý nghĩa của dân tộc ta.








