260 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 6
Đề thi

260 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 6

A
Admin
Đại họcTrắc nghiệm tổng hợp4 lượt thi
30 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm
Những bài học chủ yếu của 10 năm đổi mới là gì?
Xem đáp án

Tổng kết chặng đường đổi mới 10 năm (1986-1995), Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã nêu những bài học chủ yếu sau đây:

Một là, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt sáng tạo trong sách lược, nhậy cảm nắm bắt cái mới.

Hai là, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trí. Phát huy dân chủ, khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân đồng thời chống mọi khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích. Dứt khoát bác bỏ mọi thủ đoạn lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" nhằm gây rối chính trị, chống phá chế độ, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Ba là, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.

Bốn là, mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc. Phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.

Năm là, mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Việc mở rộng quan hệ đối ngoại phải dựa trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Sáu là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Đảng ta phải luôn luôn tự đổi mới và chỉnh đốn. Củng cố và xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ. Tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong gương mẫu của đảng viên. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đối với một Đảng cộng sản cầm quyền hoạt động trong nền kinh tế thị trường lại có sự tác động của những thủ đoạn diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch từ bên ngoài thì việc luôn luôn cảnh giác với hai nguy cơ là chệch hướng và tha hoá biến chất của đội ngũ dẫn đến xa dân phải được coi là một nhiệm vụ thường xuyên có ý nghĩa sống còn đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

2. Tự luận
1 điểm
Những thành tựu và bài học sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng (1995-2000) ?
Xem đáp án

Trong 5 năm - từ 1995 đến 2000 - sự nghiệp đổi mới được tiếp tục triển khai mạnh mẽ cả về bề rộng lẫn chiều sâu và cũng đã thu được nhiều thành tựu quan trọng cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v.. Nhìn chung cả thế và lực của cách mạng nước ta vẫn không ngừng được củng cố và tăng cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế vẫn được nâng cao, ổn định chính trị và an ninh quốc phòng vẫn được giữ vững. Mặc dù đã phải đối mặt với không ít khó khăn và thách thức của thiên tai, của tác động khủng hoảng tiền tệ trong khu vực và của cả những nhược điểm và thiếu sót chủ quan v.v. dẫn đến giảm nhịp độ tăng trưởng về kinh tế.

Những thành tựu và bài học của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII (1995-2000) cũng như những thành tựu và bài học của 15 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI, lần thứ VII đến Đại hội lần thứ VIII, đang được Đảng ta tổng kết một cách đầy đủ và toàn diện để chuẩn bị cho Đại hội IX khi đất nước bước vào thiên niên kỷ mới.

3. Tự luận
1 điểm
Phân tích nội dung cơ bản và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội?
Xem đáp án

Nội dung của bài học kinh nghiệm:

Bài học kinh nghiệm nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một bài học quan trọng mà Đảng ta giải quyết đúng đắn, sáng tạo phù hợp với những điều kiện lịch sử của thời đại mới về mối quan hệ:

Giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp;

Giữa con đường giải phóng dân tộc với con đường giải phóng giai cấp công nhân và những người lao động bị áp bức, bóc lột.

Đường lối đó đã được Đảng ta thực hiện một cách đúng đắn, sáng tạo qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng

Thời kỳ Bác Hồ tìm đường cứu nước và chuẩn bị vận động thành lập Đảng:

+ Trong thời đại mới, sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc chỉ có thể gắn liền với cuộc cách mạng vô sản vai trò lãnh đạo là giai cấp công nhân. Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" và "chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ".

+ Trong "Chính cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt", "Luận cương chính trị" đều xác định: cách mạng Việt Nam, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Mục đích cuối cùng là xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Thời kỳ cả nước thực hiện một chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1930- 1945):

Trong thời kỳ này, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là mục tiêu trực tiếp, còn cách mạng xã hội chủ nghĩa mới chỉ là phương hướng, là triển vọng tiến lên của cách mạng Việt Nam.

Đặt cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phương hướng, triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội sẽ quy định tính triệt để của cuộc cách mạng đó, vì cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng ta tiến hành là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới, thuộc phạm trù cách mạng vô sản. Đó là điều kiện cơ bản để thực hiện cách mạng không ngừng từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Thời kỳ cả nước tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng (1945-1975):

+ Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là một hình thái độc đáo, sáng tạo của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

+ Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có tác dụng quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp đánh đuổi đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam.

+ Nhờ kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và xác định đúng vị trí và nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền, Đảng ta đã phát huy được sức mạnh của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và miền Nam để đánh Mỹ và thắng Mỹ, xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.

Đường lối chiến lược giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho phép Đảng ta kết hợp được sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam.

Thời kỳ cả nước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa (từ 1975 đến nay):

+ Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ cả nước hoà bình, độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.

+ Nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ này vẫn là đường lối chiến lược cơ bản của Đảng ta. Vì cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải tiếp tục giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với dân tộc...

+ Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội từ đây gắn chặt với nhau. Độc lập dân tộc là điều kiện để nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang lại đời sống ngày càng tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh, là điều kiện để bảo vệ và củng cố nền độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Ý nghĩa, bài học kinh nghiệm

- Nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một bài học kinh nghiệm lớn, có tính chất bao trùm của Đảng ta vì:

+ Từ khi có Đảng, đường lối đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam.

+ Là ngọn cờ bách chiến bách thắng của cách mạng Việt Nam.

+ Với đường lối cơ bản này, Đảng ta đã giải quyết thắng lợi một loạt vấn đề cơ bản về chiến lược, sách lược trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

+ Cho phép Đảng ta khơi dậy được sức mạnh của quá khứ, của hiện tại, của tương lai, sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn để xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh.

4. Tự luận
1 điểm
Nội dung và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế ?
Xem đáp án

Nội dung của bài học kinh nghiệm:

Cơ sở lý luận của bài học này là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ gắn bó giữa đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng mở ra khả năng thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.

Đây là một vấn đề chiến lược, là một nhân tố quan trọng quyết định thành công của cách mạng nước ta. Vì vậy, trong mọi thời kỳ vận động cách mạng, Đảng ta đã nhận thức và quán triệt tư tưởng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong đường lối chiến lược và sách lược của mình.

+ Trong cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã chỉ rõ: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, ủng hộ Liên bang Xôviết, liên kết với giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp và đoàn kết với phong trào cách mạng thuộc địa, và nửa thuộc địa nhất là Trung Quốc và Ấn Độ...

+ Trong thời kỳ 1930 đến 1945, Đảng ta không ngừng xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc qua các mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của đường lối đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của Đảng.

+ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta đã huy động được sức mạnh to lớn của khối đoàn kết toàn dân với khẩu hiệu "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" và khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa hai cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

+ Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay của nhân dân ta, vấn đề tăng cường đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vẫn luôn luôn là một nhân tố cực kỳ quan trọng tác động đến tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, nhất là trong tình hình các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và sụp đổ, nước ta cũng có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội thì hơn lúc nào hết cần phải tăng cường khối đoàn kết dân tộc và đoàn kết hợp tác với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giúp đỡ nhau, cùng có lợi. Có như vậy, thì nước ta mới vượt qua được thách thức, tận dụng được thời cơ phát triển.

Để tăng cường đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kinh nghiệm lịch sử cho thấy

Muốn thực hiện đoàn kết dân tộc phải luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân — giai cấp tiêu biểu cho lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp.

Phải luôn luôn tôn trọng nguyên tắc "lấy dân làm gốc", coi sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, xem đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tạo tiền đề cho việc đoàn kết quốc tế.

Phải luôn luôn nêu cao ý thức tự lực tự cường, tinh thần độc lập tự chủ của nhân dân ta, đồng thời ra sức tranh thủ sự đoàn kết và hợp tác, giúp đỡ quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Phải thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, coi việc tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế vừa là vì lợi ích dân tộc, vừa là nghĩa vụ của nhân dân ta đối với nhân dân các nước khác.

Trong khi tăng cường và mở rộng đoàn kết, hợp tác quốc tế, chúng ta không được lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu chống phá cách mạng thế giới và cách mạng nước ta từ phía chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế.

5. Tự luận
1 điểm
Chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố cơ bản lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam?
Xem đáp án

Kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, phát huy truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, các phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản chống Pháp rất sôi nổi. Nhưng rút cuộc các phong trào đó đều thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là các giai cấp lãnh đạo hoặc không đủ tư cách, hoặc đã hết vai trò lịch sử.

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Đảng ra đời đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kỳ đấu tranh tự phát, chuyển sang thời kỳ đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân. Đảng ra đời, chứng tỏ giai cấp công nhân đã trưởng thành và đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra thời kỳ cách mạng Việt Nam đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam có đường lối đúng đắn và khoa học, phù hợp với quy luật của cách mạng nước ta trong thời đại mới.

Trong lịch sử đấu tranh 70 năm qua của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược và ý nghĩa thời đại sâu sắc:

+ Vừa mới ra đời, Đảng ta phát động được Cao trào cách mạng 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh.

+ Thoát ra khỏi thời kỳ thoái trào của cách mạng những năm 1932-1935, Đảng lãnh đạo nhân dân ta phát động được Cao trào vận động dân chủ 1936-1939, đòi dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà bình, chống phát xít, chống chiến tranh.

+ Đảng lãnh đạo nhân dân ta trong cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1939-1945, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, đập tan ách thống trị hơn 80 năm của thực dân Pháp và xoá bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở

nước ta. Thắng lợi này đã đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do.

+ Đảng lãnh đạo nhân dân ta chống thù trong, giặc ngoài, khắc phục khó khăn của đất nước để giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng miền Bắc.

+ Từ năm 1954 đến năm 1975, nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn ở miền Bắc và đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

+ Từ năm 1975 đến nay, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược trên đây của cách mạng nước ta đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đứng ở trung tâm các sự kiện lịch sử vĩ đại của cách mạng và thực sự là nhân tố cơ bản lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Bởi vì:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam.

+ Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động nhằm giải quyết kịp thời và đúng đắn những vấn đề về chiến lược, sách lược của cách mạng nước ta.

+ Đảng là người đại diện trung thành và đầy đủ nhất lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đảng lấy phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân làm mục đích cao nhất của mình.

+ Đảng có truyền thống đoàn kết thống nhất, kỷ luật nghiêm minh, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, nhằm phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, đoàn kết thống nhất toàn Đảng, chống tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, chia rẽ bè phái trong Đảng.

+ Đảng có mối liên hệ máu thịt với quần chúng. Đây là tiêu chuẩn cơ bản của một đảng cách mạng chân chính.

Đảng kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa trong sáng, tích cực ủng hộ sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do và tiến bộ của nhân dân các nước trên thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, cách mạng nước ta còn rất nhiều khó khăn và tồn tại, nhất là trong thời kỳ trước đổi mới. Đảng ta tự kiểm điểm là đã phạm những sai lầm khuyết điểm chủ quan, nóng vội, duy ý chí, đặc biệt là trong việc xác định chủ trương, đường lối và cả trong công tác xây dựng Đảng. Những sai lầm và khuyết điểm trên đã kéo dài và chậm sửa chữa, làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng bị suy yếu, lòng tin của quần chúng đối với Đảng bị giảm sút so với trước.

Đảng ta phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn về mọi mặt cho ngang tầm với nhiệm vụ.

+ Đảng phải đổi mới tư duy lý luận, nâng cao năng lực trí tuệ, đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, có căn cứ khoa học, phù hợp với thực tiễn nước ta. Đây là vấn đề cơ bản và cốt lõi nhất và cũng là lý do tồn tại của Đảng.

+ Phải phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng.

+ Cần đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay.

+ Làm trong sạch đội ngũ đảng viên, củng cố và nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng.

+ Đổi mới công tác cán bộ của Đảng, vì "cán bộ là cái gốc của mọi công việc ... công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".

Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII đang được triển khai tích cực và đạt kết quả bước đầu là những việc làm cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh đủ sức dẫn dắt toàn Đảng toàn quân toàn dân ta tiếp tục tiến bước vào thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới lắm thách thức nhưng cũng đầy hứa hẹn.

6. Tự luận
1 điểm
Vai trò của lãnh tụ Nguyễn ái quốc đối với sffi ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam ?
Xem đáp án

Nguyễn ái Quốc là người chuẩn bị về chính trị ,tư tưởng và tổ chức để thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam

Sau khi trở thành người Cộng Sản ,Nguyễn ái Quốc đã tích cực xúc tiến việc chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam .Từ năm 1920 đến giữa năm 1923 ,tại Pháp ,Nguyễn ái Quốc đã thành lập “ Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa “ nhằm tuyên truyền cách mạng trong nhân dân thuộc địa .Người viết nhiều sách báo,đặc biệt là báo “ Người cùng khổ “ và cuốn “ Bản án chê độ thực dân Pháp “ được xuất bản lần đầu tiên năm 1925 tại Pari (Pháp).

Từ tháng 6-1923 đến cuối năm 1924 tại LX ,Người hoạt động trong Quốc tế cộng sản ,tham gia nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng tìm hiểu chế độ Xô -Viết ,nghiên cứu kinh nghịêm tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin .

Tháng 12/1924 Nguyễn ái Quốc về Quảng Châu ( TQ) để trực tiếp thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam .Người đã sáng lập ra “ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội “ ( 6/1925) có hạt nhân là Cộng sản đoàn .Người sáng lập báo Thanh niên ,tiếp tục viết taì liệu ,bài giảng để huấn luyện cán bộ .Các tài liệu này đã được tập hợp lại in thành cuốn “Đường cách mệnh “ (năm 1972).

Thông qua các baì viết ,tác phẩm trên .Người đã chuẩn bị về chính trị ,tư tưởng cho việc thành lập Đảng .Nội dung quan niệm cách mạng :

+Chỉ ra bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân .

+Xác định mối liên hệ quan hệ gắn bó giữa cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản .Cách mạng ở” thuộc địa “ với cách mạng ở “ chính quốc” .

+Đường lối chiến lược của cách mạng ở thuộc địa là giải phóng dân tộc ,tiến lên chủ nghĩa xã hội

+Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân .

+Thực hiện đoàn kết ,liên minh quốc tế . Phải có Đảng cách mạng lãnh đạo .

Thông qua hoạt động của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội “ phong trào cách mạng trong nước phát triển sôi nổi .Những điều kiện để thành lập Đảng Mác-Xít đã dần hình thành .Tổ chức “ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội “ không còn phù hợp nữa .Kết quả là sự ra đời của ba tổ chức cộng sản vào nửa sau năm 1929 là : Đông dương cộng sản đảng “ .” An nam cộng sản đảng “ và “ Đông dương cộng sản liên đoàn.

Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải thống nhất những người cộng sản Việt Nam trong một Đảng duy nhất .Hồ Chí Minh đã đảm nhiệm trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản ,thành lập một Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam, vào ngày 3/2 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời

7. Tự luận
1 điểm
So sánh luận cương chính trị và chính cương vắn tắt của Đ. Nêu ưu đIểm và hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế ?
Xem đáp án

A, So sánh luận cương và chính cương:

Giống nhau:

Phương hướng đều là làm cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lên CNXH không qua phát triển TBCN.

Nhiệm vụ cách mạng đều là đánh đổ ĐQ và PK để giành độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày.

Lực lượng cách mạng đều có công nhân và nông dân.

Đều khẳng định Đ là nhân tố quyết định mọi thắng lợi.

Đều xác định cách mạng VN là một bộ phận của cách mạng thế giới.

Phương pháp cách mạng đều là bạo lực cách mạng.

Sự khác nhau

B, Những điểm khẳng định bổ sung và phát triển của luận cương:

Từ việc khẳng định tính chất XH Đông Dương là một xã hội thuộc địa nửa PK thì luận cương khẳng định hướng tiến lên của cách mạng Đông Dương là làm CMDTDC và tiến lên CNXH không qua phát triển TBCN . Chỉ ra được điều kiện khách quan và chủ quan của bước bỏ qua TBCN đó là CNXH Liên Xô giành thắng lợi (khách quan) và ĐCSĐD ra đời (chủ quan).

Chỉ rõ bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân là khởi nghĩa vũ trang, muốn thắng lợi thì phải xây dựng lực lượng cách mạng mà lực lượng chính trị là chủ yếu, đồng thời phải tuân thủ những quy luật của chiến tranh và nổ ra khi có thời cơ cách mạng.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của ĐCSĐD, để xây dựng một Đ vững mạnh thì:

+ Phải có đường lối chính trị đúng đắn

+ Có kỷ luật tập trung liên hệ mật thiết với quần chúng, trải qua quá trình đấu tranh để hình thành.

+ Lấy chủ nghĩa M-L là kim chỉ nam cho hành động.

C, Những điểm hạn chế của luận cương:

Không vạch rõ mâu thuẫn chủ yếu trong XHĐD lúc bấy giờ nên không khẳng định được nhiệm vụ chống ĐQ là hàng đầu.

Không thấy được tính cách mạng của giai cấp tiểu tư sản VN.

Không thấy được mặt tích cực của giai cấp TSVN.

Không có chính sách phân hoá để nôi kéo một bộ phận thuộc về địa chủ PKVN về phía cách mạng.

Do đó không có chính sách liên minh dân tộc và giai cấp một cách rộng rãi.

D, Nguyên nhân của những hạn chế:

Nhận thức giáo điều và máy móc mối quan hệ dân tộc và giai cấp trong cách mạng của một nước thuộc địa.

Hiểu không đầy đủ về đặc điểm tình hình các nước Đông Dương.

Chịu ảnh hưởng trực tiếp của khuynh hướng tả khuynh từ quốc tế cộng sản.
8. Tự luận
1 điểm
Chủ trương của Đảng Cộng Sản Đông Dương trong thời kỳ 1936-1939?
Xem đáp án

Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít trên toàn thế giới và những chủ trương mới do Đại hội lần thứ VII của quốc tế Cộng Sản .ĐCS Đông Dương đã phục hồi sau một thời kỳ đấu tranh cực kỳ gian khổ ,kịp thời lãnh đạo nhân dân ta bước vào một thời kỳ mới

Tháng 7/1936 Ban Chấp Hành TƯ Đảng họp hôị nghị lần thứ hai tại Thượng Hải (Trung Quốc ),dưới sự chủ trì của Lê Hồng Phong và Hà Huy Tập ,trên tinh thần quán triệt nghị quyết đại hội VII của quốc tế Cộng Sản .Hội nghị xác định cách mạng ở Đông Duơng vẫn là “cách mạng tư sản dân quyền –phản đế và điền địa –lập chính quyền của công nông bằng hình thúc Xô Viết ,để dự bị điều kiện đi tới cách mạng XHCN”

Yêu cầu cấp thiết trước mắt của nhân ta là tự do ,dân chủ ,cải thiện đời sống .Hội nghị cũng chỉ rõ kẻ thù trước mắt nguy hại nhất của nhân dân Đông Dương lúc này không phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là bọn phản động thuộc địa và bọn tay sai .Hội nghị xác định những nhiệm vụ trước mắt là chống phát xít ,chống chiến tranh đế quốc ,chống bọn phản động thuộc địa và tay sai ,đòi tự do ,dân chủ ,cơm áo và hoà bình

Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp ,các đảng phái ,các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau ,các dân tộc ở Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ

Hội nghị đề ra các khẩu hiệu “ủng hộ Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp “để cùng nhau chống kẻ thù chung là bọn phát xít ở Pháp và bọn phản động thuộc địa

Hội nghị chủ trương phải chuyển hình thức tổ chức bí mật không hơp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai ,nửa công khai ,hợp pháp và nửa hợp pháp làm cho Đảng mở rộng sự quan hệ với quần chúng ,giáu dục ,tổ chức và lãnh đạo quần chúng đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp

Măt? trận dân chủ nhân dân Đông Dương được thành lập .Hội nghị này đánh dấu bản lĩnh độc lập ,sáng tạo ,tự chủ của Đảng ta .Mở ra một cao trào cách mạng mới trong cả nước

9. Tự luận
1 điểm
Nguyên nhân ,ý nghĩa của cao trào mặt trận dân chủ Đông Dương (1936 -1939) ?
Xem đáp án

-Nguyên nhân: Sau cuộc khủng hoảng kinh tễ 1929-1933,chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện trên thế giới và đe doạ nền hoà bình trên toàn thế giới .Trước nguy cơ đó ,mặt trận dân chủ nhân dân đã được thành lập ở nhiều nước trên thế giới, nhằm đoàn kết rộng rãi nhân dân ,với mọi giai cấp trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa phát xít .Mặt trận nhân Pháp chống phát xít đã đuợc thành lập (5/1935) ,và giành đượoc thắng lợi vang dội trong cuộc tổng tuyển cử năm 1936,đưa đến sự ra đời của một chính phủ tiến bộ

.ở Việt Nam ,,dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản ,Mặt trận nhân dân phản đế đã được thành lập .Chủ trương mới của Đảng trong thời kỳ này được đưa ra .Chủ trương của Đảng phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng bức thiết của quần chúng .làm dấy lên trong cả nước một phong trào đấu tranh mạnh mẽ ,sôi nổi hướng vào mục tiêu trước mắt là tự do ,dân chủ ,,cơm áo và hoà bình .

Năm 1937 , nhân dịp phái viên của Chính phủ Pháp là Gôđa đi kinh lí Đông Dương và tiếp Theo là Borêviê sang nhận chức toàn quyền Đông Dương Đảng ta đãvận động hai cuộc biểu dương lực lượng quần chúng rộng lớn với công nhân và nông dân là lừc lượng đông đảo và hăng hái nhất trong cuộc biểu dương lực lượng này để đòi các quyền dân sinh ,dân chủ .

Ý nghĩa của cao trào

Qua cuộc vận động dân chủ rộng lớn ,uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng và nâng cao trong quần chúng

Cao trào cách mạng 1936-1939 là cuộc tổng diễn tập lần thứ hai của Cách mạng tháng 8/1945.Qua cao trào đó ,Đảng đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ đông đảo,dày dạn trong đấu tranh ,trưởng thành về tư tưởng chính trị và tổ chức ,tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm mới

Cao trào 36-39 thắng lợi đem lại một bài học kinh nghiệm lớn cho cách mạng Việt Nam :

+ Nấm vững hoàn cảnh cụ thể của cách mạng trong từng thời kì để xác định đúng kẻ thù và nhiệm vụ chính trị cụ thể trước mắt để huy động tới mức cao nhất lực lượng cách mạnh và tiến bộ lên trận tuyến đấu tranh vì mục tiêu chung .

+ Phân tích chính xác thái độ chính trị của các giai cấp ,các tầng lớp nhân dân ,các đảng phái chính trị ,thực hiện một liên minh dân chủ rộng rãi ,

+ Sử dụng khéo léo các hình thức tổ chức và đấu tranh ,kết hợp công khai với bí mật ,hợp pháp với không hợp pháp ,kết hợp các mặt đấu tranh kinh tế ,chính trị ,văn hoá ,kết hợp đáu tranh của quần chúng với đấu tranh nghị trường …

10. Tự luận
1 điểm
Chủ trương điều chỉnh chiến lược thời 1939-1945?
Xem đáp án

Ngay khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ ,Đảng đã kịp thời rút vào hoạt động bí mật và chuyển trọng tâm công tác về nông thôn ,nhưng vẫn chú trọng các đô thị .Trung ương đã dự đoán được tình hình trong thời kỳ mới :’hoàn cảnh Đông Dương tiến bước tới vất đề dân tộc giải phóng “

Các chủ trương điều chỉnh chiến lược thời kỳ này được thể hiện qua Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 6 (11/1939),Nghị qu?yết TƯ lần thứ 7 (11/1940),Nghị quyết TƯ lần thứ 8 (5/1941)

Thông báo của Đảng ngày 29/9/1939 , TƯ Đảng đã vạch rõ “ Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước tới vấn đề dân tộc giải phóng ‘

Hội nghị TƯ Đảng lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn ,Gia Định )do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì ..Hội nghị nhận định :trong điều kiện lịch sử mới ,giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách nhất của cách mạng Đông Dương .Vì vậy tất cả mọi vấn đề cách mạng ,kể cả vấn đề ruộng đất cũng phải nhằm mục đích ấy mà giải qu?yết .Khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất “tậm gác lại và thay bằng các khẩu hiệu chống địa tô cao , chống cho vay nặng lãi ,tịch thu ruộng đất của bọn thực dân đế quốc và bọn địa chủ phản bội đem chia cho dân cày nghèo

Để thực hiện nhiệm vụ ấy ,Hội nghị chủ trương tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc và tay sai lấy tên là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm chống chíên tranh đế quốc , chống bọn phát xít ,đánh đổ đế quốc Pháp và bè lũ tay sai ,giành lại độc lập hoàn toàn cho nhân dân Đông Dương

Hội nghị lần thứ 7 của BCH TƯ Đảng họp ở lang Đìng Bảng (Từ Sơn ,Bắc Ninh ).

Hội nghị tiếp tục khẳng định quan điểm chyuyển hướng chỉ đạo chiến lược giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc của Hội nghị TƯ lần thứ 6

Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là chuẩn bị lãnh đạo cuộc “võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập “ Hội nghị cử BCH TƯ lâm thời .Trường Chinh củ BCH TƯ lâm thời .Trường Chinh được phân công làm Quyền Bí thư Trung uơng Đảng .

Hội nghị lần thứ 8 của BCH TƯ Đảng tại Pắc Bó (Cao Bằng )do Nguyễn Ái Quốc chủ trì .Hội nghị nhận định rằng Chiến tranh thế giới đang lan rộng .Chiến tranh sẽ làm cho các nước đế quốc bị suy yếu ;Liên Xô nhất định thắng và phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển nhanh chóng ,cách mạng nhiều nước sẽ thành công và một loạt nước CHCN sẻ ra đời

Hội nghị nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi phải giải quyêt cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tôc ta với bọn đế quốc phát xít Pháp –Nhật .Hội nghị xác định một vấn đề cần kíp cần giải quyết là “dân tộc giải phóng “

Hội nghị chủ trương giải qu?yết vấn đề dân tộc trong khuôn khồ từng nước ở Đông Dương .Trên tinh thần đó ,Hội nghị qu?yết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng “Vịêt Nam độc lập đồng minh.Trên cơ sở đó ,sẽ tiến tới thành lập mặt trận chung của ba nước là Đông Dương độc lập đồng minh.Tuy nhiên ,Đảng phải hết sức tôn trọng và thi hành đúng chính sách “dân tộc tự quyết “đối với các dân tộc ở Đông Dương .Riêng ở Việt Nam ,.Hội nghị chủ trương sẽ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Theo tinh thần tân dân chủ

Hội nghị quyết định xúc tíên ngay công tác khởi nghĩa vũ trang ,coi đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và của nhân dân ta trong giai đuạn hiện tại

Hội nghị cử ra BCH TƯ chính thức do Trường Chinh làm Tổng Bí thư .Sau Hội nghị .NAQ gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp –Nhật

11. Tự luận
1 điểm
Nguyên nhân? ý nghĩa thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945?
Xem đáp án

Nguyên nhân thắng lợi

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của những nhân tố bên trong và bên ngoài .Trong đó yếu tố bên trong có ? ý nghiã quyết định nhất .Đó là lực lượng toàn dân do ĐCS lãnh đạo .đó là thắng lợi của giương cao ngọn cờ đỗc lập dân tộc và CHXH .

Và đồng thời là thắng lợi của sự kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ là chống đế quốc và chống phong kiến.

Đây là thắng lợi của quân chủ lực của công nhân ,nông dân mà nòng cốt là của quân đội .

Là thắng lợi của chủ trương lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ của kẻ thù ,mâu thuẫn của đế quốc với phát xít ,giũa đế quốc với phong kiến .

Sự kiên quyết dùng bạo lực cạch mạng và sử dụng bạo lực cách mạng phù hợp để đập tan bộ máy cũ ,xây dựng bộ máy nhà nước mới

Là thắng lợi của nghệ thuật khởi nghĩa,nghệ thuật chọn thời cơ,đúng thời cơ

Là thắng lợi của xây dựng một chính Đảng Mác –Lênin nghiêm túc ,đúng đắn ,ăn sâu bám rễ trong quần chúng .

Yếu tố bên ngoài có ?y nghĩa quan trọng . Đó là thắng lợi của Liên Xô và Đồng minh đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức,sau đó đập tan một triệu quân Quan Đông của Nhật ,buộc Nhật đầu hàng không điều kiện : là kết quả của ba cao trào cách mạng 1930-1931 ,1936- 1939,1939-1945.

Ý nghĩa thắng lợi của cách mạng tháng Tám

Trong lịch sử ,Cách mạng tháng Tám là một trong những trang lịch sử vẻ vang nhất ,chói lọi nhất ,là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất .Cách mạng tháng Tám đập tan ách phát xít Nhật trong 5 năm ,đập tan ách thống trị của thực dân Pháp trong 87 năm ,lật đổ chế độ phong kiến mấy nghìn năm ,đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới ,kỷ nguyên độc lập tự do do nhân dân làm chủ đất nước

Lần đầu tiên trong lịch sử ,nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước ,người làm chủ vận mệnh của mình .Đảng ta từ một Đảng hoạt động không hợp pháp trở thành một Đảng lãnh đạo trong cả nước

Đối với thế giới ,Cách mạng tháng Tám đã bổ xung vàu kho tàng ly luận cách mạng dân tộc ,dân chủ ở một nước thuộc địa nửa phong kiến ,tạo ra thế và lực mới cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ sau này .

Thắng lợi này chứng tỏ rằng ,trong thời đaị ngày nay ,cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân ở một nước thuộc địa ,do toàn dân nổi dậy ,dưới sự lãnh đaọ của một Đảng Mác – Lênin ,có đường lối đúng đắn có thể giành thắng lợi.Cách mạng Tháng Tám 1945 đem lại những kinh nghiệm cách mạng quan trọng

12. Tự luận
1 điểm
Chủ trương giữ vững củng cố chính quyền cách mạng?
Xem đáp án

Tình hình thế giới và tình hình trong nước:

Sau chiến tranh thế giới II tình hình thế giới và trong nước vừa có những thuận lợi và khó khăn cho nước ta:

Thuận lợi:

+ 3 trào lưu cách mạng phát triển rất mạnh đó là : trào lưu XHCN mà Liên Xô là trụ cột của cách mạng XHCN; phong trào giải phóng dân tộc được sự giúp đỡ của Liên Xô các nước thuộc địa, phụ thuộcvùng lên giành độc lập và phong trào bảo vệ hoà bình đòi dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân.

+ CNĐQ đứng đầu là Mĩ suy yếu về kinh tế, chính trị, quân sự thuộc địa bị thu hẹp, nội bộ thì mâu thuẫn. Mĩ rất lúng túng nên phải đứng ra giàn xếp.

Đứng trước thuận lợi đó tinh thần cách mạng của nhân dân Đông Dương trong đó có VN hăng hái hơn, mở ra khả năng cho các nước có thể tranh thủ sự giúp đỡ ủng hộ của quốc tế.

+ Trong nước ta đã có Đ hợp pháp cầm quyền. Nhân dân từ thân phận nô lệ được giải thoát, tinh thần cách mạng dâng cao, chính quyền từ TW đến cơ sở được ủng hộ và bảo vệ.

-    Khó khăn:

+ Nước ta có vị trí địa lí rất thuận lợi, giàu tài nguyên nên các nước ĐQ ngòm ngó muốn xâm chiếm.

+ Nạn đói khủng khiếp đã làm 2 triệu người chết đói, hạn hán xảy ra chưa từng thấy ở 6 tỉnh phía Bắc, 50% ruộng đất bị bỏ hoang.

+ Tài chính khó khăn chỉ có 1.2 triệu tiền Việt.

+ 90 % dân số mù chữ, nghiện hút, trộm cắp, mê tín dị đoan… tràn khắp nước.

+ Theo hội nghị Pốt x đam Tưởng đưa 20 vạn quân vào với danh nghĩa giải giáp quân Nhật, miền Nam do quân Anh vào giải giáp quân Nhật mà núp sau Anh là Pháp nên đã trắng trợn đánh chiếm Nam Bộ.

+ Trong nước ta phải chống lại các tổ chức phản động Việt cách, Việt Quốc… trên đất nước ta chưa bao giờ lại có nhiều kẻ thù đến thế.

Chủ trương của Đảng:

Độc lập – nô lệ : ta phải chọn con đường nào. Trong hai con đường đó nếu chọn con đường độc lập thì rất khó khăn nhưng nếu chọn con đường nô lệ thì là chết.

Ngày 3/9/1945 Hồ Chí Minh triệu tập họp và đưa ra :

+ Phát động tăng gia sản xuất để chống đói.

+ Mở rộng phong trào chống nạ mù chữ.

+ Sớm tổ chức Tổng tuyển cử.

+ Mở rộng phong trào cầm – kiệm –liêm – chính.

+ Bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đỏ.

+ Tự do tín ngưỡng lương – giáo đoàn kết.

Ngày 25/11/1945 Trung ương Đ ra chỉ thị Kháng chiến kiến quốc gồm 3 ý lớn:

Cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cách mạng dân tộc giải phóng . Xác định được vấn đề này sẽ không bị mơ hồ tưởng rằng CMDTDC đã hoàn thành do đó tâp hợp được toàn bộ tầng lớp nhân dân và tập trung được kẻ thù chính yếu nhất từ đó xác định đúng phương pháp cách mạng

Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp xâm lược. Vì sao Đ ta khẳng định Pháp là kẻ thù chính của cách mạng:

Vì Pháp có quyền lợi về kinh tế, cơ sở xã hội ở Đông Dương và VN thiết lập từ năm 1858. Có âm mưu xâm lược VN và Đông Dương và thực tế nó đã xâm lược.

+ Mĩ muốn giành quyền lợi Đông Dương và VN với Pháp và Anh song do Mĩ phải giàn xếp nội bộ ĐQ, tập trung giải quyết vấn đề Liên Xô nên chưa thể vào Đông Dương lúc này mà phải để Pháp vào Đông Dương để nôi kéo được Pháp, Anh nhằm bao vây Liên Xô và cài thế sau này hất đổ Anh, Pháp giành lấy Đông Dương.

+ Anh : lúc này cách mạng ở Đông Dương rất mạnh nếu Anh vào ĐD thì mâu thuẫn với P và M do đó A để P núp bóng mình vào ĐD.

+ T. G. Thạch muốn vào lật đổ chính quyền non trẻ ở VN và cộng sản ở VN với chính sách “diệt cộng cầm Hồ” nhưng vấp phải sự đoàn kết xung quanh chính phủ HCM của nhân dân VN nên quay sang hoà hảo với VN đưa ra một loạt các yêu sách đòi cải tổ chính phủ, phải thay đổi nội các- những người cầm quyền không phải là đảng viên. Song Tưởng cũng gặp phải khó khăn khi phải đối phó với cuộc cách mạng trong nước. Do đó Tưởng cũng không phải kẻ thù chính của cách mạng VN.

Như vậy chỉ có Pháp là kẻ thù chính vì cả M, A và Tưởng phải nhường chiếm Đông Dương cho Pháp. Ta sẽ lợi dụng mâu thuẫn giữa chúng và phân hoá chúng để cô lập chúng. Tránh cùng một lúc phải đối phó với nhiều kẻ thù . Thể hiện quan điểm kiên quyết chống lại những quan điểm của Tờ rô kít

Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của nhân dân cả nước và củng cố chính quyền chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Trước mắt làm tốt 4 nhiệm vụ này để hoàn thành cuộc cách mạng DTDC nhân dân nhưng giành chính quyền là quan trọng nhất vì có chính quyền là có tất cả, mất chính quyền là mất tất cả. Như Bác đã nói: việc giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì việc giữ chính quyền càng khó bấy nhiêu.

13. Tự luận
1 điểm
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp?
Xem đáp án

Qua 3 văn kiện là: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch HCM ngày 19/12/1946; Chỉ thị Toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng ngày 22/12/1946 và Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh năm 1947. Đảng ta đã đưa ra đường lối kháng chiến.

Với mục tiêu giành độc lập và thống nhất Tổ quốc vì ta đã có độc lập rồi nhưng chưa hoàn toàn khi mà đế quốc, phong kiến còn trên lãnh thổ nước ta. Cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, thống nhất cả nước đi lên CNXH mà Đảng ta đã đặt ra. Đảng ta đã đưa ra phương châm: Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý mà CN Mác - Lênin đã chỉ ra: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Truyền thống của cách mạng ta đều là do toàn dân làm như Nguyễn Trãi đã nói: Người trở thuyền cũng là dân, người làm lật thuyền cũng là dân. Hay như Bác đã nói: “Dễ trăm lần không dân không chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Trong thực tiễn, chỉ có chính nghĩa mới có mục đích phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, do đó mà huy động được sức mạnh của toàn dân.

Kháng chiến toàn dân là toàn dân tham gia, cả nước tham gia đánh giặc, đánh bằng bất cứ thứ vũ khí gì có trong tay, đánh giặc ở bất cứ nơi nào mà chúng tới.

Kháng chiến toàn diện: là kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa… Chiến tranh là cuộc đọ sức giữa hai bên tham chiến mà theo Lênin thì chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện của dân tộc. Muốn tạo ra sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn ta về quân sự thì ngoài việc tập hợp toàn bộ sức mạnh của toàn dân thì phải tập hợp được sức mạnh tiềm tàng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và quan trọng nhất là quân sự.

Kháng chiến lâu dài: Do tương quan lực lượng giữa ta và địch, khi bước vào kháng chiến ta kém địch về nhiều mặt nên phương châm đánh địch của ta là đánh lâu dài, phải có thời gian chuyển hóa lực lượng, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng nhằm đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch và chuyển hóa so sánh lực lượng có lợi cho ta. Nó là vận động quy luật lấy nhỏ đánh lớn mà cuộc chiến của ta là chính nghĩa nên càng đánh càng mạnh, do đó mà có cơ sở để kéo dài. Nhưng lâu dài không có nghĩa là vô hạn mà phải có giới hạn, vào mỗi trận đánh phải quán triệt tư tưởng đánh nhanh thắng nhanh. Từng cuộc kháng chiến phải trải qua 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng tiến công.

Dựa vào sức mình là chính: trong điều kiện đất nước bị bao vây, chúng ta không thể trông đợi vào bên ngoài, cho nên Đảng ta khẳng định phải dựa vào sức mình là chính – lấy sức ta mà giải phóng cho ta như Chủ tịch HCM đã kêu gọi – độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến. Nhưng khi có điều kiện liên hệ được với bên ngoài thì phải tranh thủ sự giúp đỡ của nước ngoài.

14. Tự luận
1 điểm
Nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược?
Xem đáp án

1. Nguyên nhân thắng lợi

Có Đảng, dân, quân, có sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế:

  • Có sự lãnh đạo vững vàng của Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh: với đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, có sức mạnh động viên và tổ chức toàn dân đánh giặc.

  • Có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong mặt trận dân tộc rộng rãi, được xây dựng trên nền tảng khối liên minh công - nông và trí thức.

  • Có lực lượng vũ trang gồm 3 thứ quân do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo ngày càng vững mạnh. Có hậu phương vững chắc đảm bảo quân lương cho tiền tuyến.

  • Có chính quyền dân chủ nhân dân, của dân, do dân và vì dân được củng cố và vững mạnh, là công cụ sắc bén để toàn dân kháng chiến và xây dựng chính quyền mới.

  • Có sự liên minh keo sơn của 3 dân tộc Đông Dương cùng chống kẻ thù chung. Đồng thời còn có sự giúp đỡ của các nước XHCN trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc.

2. Ý nghĩa lịch sử

Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, HCM đã nói: Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân VN, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và XHCN trên thế giới.

Với chiến thắng chống thực dân Pháp, ta đã xóa bỏ được ách thống trị của Pháp trong gần một thế kỷ, bảo vệ được chính quyền cách mạng, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo điều kiện tiến lên hoàn thành cách mạng DTDC trên phạm vi cả nước.

Mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị nô dịch vùng lên chống CNĐQ, chủ nghĩa thực dân. Góp phần tích cực vào tiến trình phát triển của cách mạng thế giới.

15. Tự luận
1 điểm
Đường lối chung của cách mạng VN sau năm 1954?
Xem đáp án

Đại hội lần thứ III của Đ đã xác định nhiệm vụ chung của cách mạng VN và vạch rõ hai chiến lược cách mạng ở hai miền:

1.  Nội dung đường lối chung:

Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc đồng thời đẩy mạnh cách mạng DTDC ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước VN hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Thiết thực góp phần tăng cường phe XHCN và bảo vệ hoà bình ở ĐNA và thế giới.

Cách mạng VN tiếp tục ở thế chiến lược tiến công cùng lúc tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng DTDC ở miền Nam. Nhưng luôn thấu suốt mục tiêu chung là mục tiêu của thời đại là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hoà bình, độc lập dân tộc dân chủ và tiến bộ xã hội.

Cơ sở khoa học của đường lối:

Cơ sở lí luận : đường lối này đúng với cương lĩnh đầu tiên của Đ . Miền Bắc hoàn thành cách mạng DTDC và tiến lên chủ nghĩa cộng sản là hoàn toàn đúng, còn miền Nam vẫn còn CNĐQ và PK nên phải tiến hành xong cách mạng DTDC trước khi tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Mặt khác đường lối này cũng đúng với

điều kiện bỏ qua và tư tưởng cách mạng không ngừng của Lênin:

Miền Bắc hoàn thành cách mạng là tiến thẳng lên CHXH bỏ qua TBCN vì: hình thái kinh tế bỏ qua đã trở lên lỗi thời; CNXH đã trở thành hiện thực trên thế giới; giai cấp vô sản đã giữ vững vai trò lãnh đạo của mình trong quá trình cách mạng.

Do cách mạng có tính liên tục lên khi giành được thắng lợi miền Bắc phải tiến thẳng lên CHXN.

Cơ sở thực tiễn:  đường lối này đúng với nguyện vọng của dân tộc là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

ý nghĩa của đường lối:

Khẳng định lại đường lối của Đ năm 1930.

Thể hiện sự vận động sáng tạo chủ nghĩa M- L vào thực tế VN.

Phù hợp với yêu cầu nguyện vọng của nhân dân ta chống lại những quan điểm sai lầm về viẹc lựa chọn con đường cách mạng VN.

2.  Đường lối cách mạng XHCN ở miền Bắc:

Với mục tiêu cơ bản là xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh làm hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, góp phần tăng cường sức mạnh hệ thống XHCN và bảo vệ hoà bình ĐNA và thế giơí. Với điều kiện quyết định đầu tiên để đưa miền Bắc lên XHCN là dựa vào chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản Đ ta đã đưa ra đường lối sau:

Với đặc điểm từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không qua phát triển TBCN, đại hội III khẳng định cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt trong đó lấy nông nghiệp là khâu cải tạo chính.

Thực hiện công nghiệp hoá được coi là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH.

Đẩy mạnh cách mạng tư tưởng văn hoá và kĩ thuật.

Tăng cường lực lượng quốc phòng xây dựng quân đội tiến lên chính quy hiện đại.

Tăng cường đoàn kết quốc tế XHCN tranh thủ sự giúp đỡ của các nước XNCH anh em.

3.  Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam:

Được nêu rõ trong nghị quyết trung ương lần thứ 15:

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của ĐQ và PK, hoàn thành cách mạng DTDC ở miền Nam.

Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là con lấy sức mạnh quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu.

Kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang để đánh đổ Ngô Đình Diệm, tay sai của ĐQ thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam.

Tăng cường công tác Mặt trận để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố xây dựng Đ bộ miền Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam.

Khẳng định ĐQ Mĩ là một đế quốc hiếu chiến nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài và thắng lợi cuối cùng nhất định sẽ thuộc về ta.

16. Tự luận
1 điểm
Quyết tâm chống Mỹ cứu nước thể hiện trong nghị quyết TU 11 (3/1965) và nghị quyết TU 12 (12/1965)?
Xem đáp án

Nghị quyết TU11 (3/1965) và nghị quyêt TU 12 ( 12/1965) thể hiện quyết tâm chống Mỹ cứu nước của Đảng .Trên cơ sở phân tích âm mưu và hành động mới của đế quốc Mỹ đối với cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã khẳng định mọi sự cố gắng của đế quốc Mỹ ,dù có đổ thêm quân vào cũng không thể đảo ngược được tình thế cách mạng miền Nam .Mỹ đang ở thế thua ,bị động về chiến lược và bị cô lập về chính trị đối với cả thế giới và trong nước .Trong lúc đó cách mạng miền Nam đang trên đà chiến thắng ,ở thế chủ động tíên công .Lại được sự ủng hộ nhiệt tình , to lớn của các nước XHCN và nhân dân yêu chuộng hoà bình ,tiến bộ trên thế giới .Quyết tâm đó thể hiện :

Tiếp tục sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh ,đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân ,hải quân Mỹ ,phát huy vai tro của hậu phương lớn đối với tiền tuyến miền Nam ,làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng hai nước Lào, Campuchia .

Hội nghị hạ quyết tâm chiến lược :động viên lực lượng cả nước ,kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quỗc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào .Phương châm chiến lược chung vẫn là đánh lâu dài ,dựa vào sức mình là chính ..Hội nghị cũng dự báo một khả năng khác :trên cơ sở quán triệt và vận dụng phương châm đánh lâu dài ,cần phải cố gắng tập trung cao độ ,tâp trung lực lượng của cả hai miền để tranh thủ thời cơ ,giành thắng lợi quyết định trong một thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam .Hội nghị cũng nhấn mạnh việc tăng cường công tác tư tưởng và tổ chức của Đảng .

Nghị quyết Hội nghị 11 va 12 của BCH TƯ Đảng ( khóa III) có tầm quan trọng trong việc đánh bại chíên lược “ chiến tranh cục bộ “ của Mỹ .

17. Tự luận
1 điểm
Nguyên nhân, ý nghĩa thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước?
Xem đáp án

Nguyên nhân thắng lợi:

Nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người đại biểu trung thành cho những lợi ích sống còn của cả dân tộc Việt Nam, một Đảng có đường lối chính trị, quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo. Thắng lợi đó là kết quả của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của cán bộ, chiến sĩ và hàng chục triệu đồng bào yêu nước ở miền Nam ngày đêm đối mặt với quân thù, xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc”.

Thắng lợi đó cũng là kết quả của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu, vừa xây dựng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phương lớn, hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Thắng lợi đó còn là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia và kết quả của sự ủng hộ hết lòng và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào công nhân và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới cũng như nhân dân tiến bộ Mỹ.

Ý nghĩa thắng lợi:

Đánh giá thắng lợi lịch sử của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc”.

18. Tự luận
1 điểm
Hai nhiệm vụ chiến lược do đại hội V xác định?
Xem đáp án

Sau đại hội IV những thử nghiệm đưa ra đều khôg đạt hiệu quả như mong muốn đường lối lãnh đạo của Đ bắt đầu bộc lộ những nóng vội thiếu sót . Tình hình kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng biên giới và hải đảo rất căng thẳng . Thế giới cũng rất phức tạp : các nước XHCN đông âu rơi vào tình trạng trì trệ và bị mỹ cấm vận . Do đó đòi hỏi Đ phải có giải pháp.

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của đảng (từ 15 tới 31/3/1982) họp tại hà nội . Đại hội đã kiểm điểm một cách toàn diện sự lãnh đạo của Đ từ đại hội lần thứ IV ; đánh giá nhữnh thành tựu và khuyết điểm sai lầm , phân ích nguyên nhân của những thắng lợi và khó khăn của đất nước, những biến động của tình hình thế giới . Trên cơ sở đó , đại hội đã nêu rõ trong giai đoạn mới của cách mạng , Đ phải lãng đạo nhân dân thực hiện 2 nhiệm vụ:

+   Một là xây dựng thành công CNXH

+   Hai là sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc tổ quốc VN XHCN Hai nhiệm vụ đó có quan hệ mật thiết với nhau

Về xây dựng CNXH, đại hội đã vạch ra chiến lược linh tế xã hội những kế hoạch phát triển , những chủ trương chính sách và biện pháp thực thi trong từng giai đoạn chặng đường.

Chặng đường trước mắt bao gồm những năm 80 với những mục tiêu kinh tế và XH: ổn định dần dần , tiến lên cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

Tiếp tục xd cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp , hàng tiêu dùng xuất khẩu.

Hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN ở các tỉnh miền nam , hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN ở miền bắc củng cố quan hệ sản xuất XHCN trong cả nước.

Đáp ứng nhu cầu của công cuộc phòng htủ đát nước củng cố quốc phòng an ninh trật tự

Đại hội đã thông qua những nhiệm vụ kinh tế văn hoá và xã hội , tăng cường nhà nước XHCN, chính sách đối ngoại , nhiệm vụ nâng cao sức chiến đấu của Đ.

Nhiệm vụ then chốt của công tác xây dựng Đ lúc này là tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân tính tiên phong của Đ, xây dựng Đ vững mạnh về chính trị và tổ chức , làm cho Đ luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học , một Đ thực sự trong sạch có sức chiến đấu cao, gắn bó chặt chẽ với quần chúng.

19. Tự luận
1 điểm
Đường lối đổi mới? Vì sao phải đổi mới, phương hướng đổi mới? Nội dung đổi mới? Vì sao phải thực hiện sự nghiệp đổi mới?
Xem đáp án

Đổi mới là phù hợp với xu thế chung của thời đại:

Xuất phát từ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin:

“Đổi mới là đặc tính của cách mạng XHCN”; “Cơ sở kinh tế của CNXH chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí”.

Khi bước vào những năm 80 của thế kỷ XX, trình độ quốc tế hóa về kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc. Nếu ta không nằm trong quỹ đạo, ta sẽ bị bật ra khỏi thế giới, do đó ta phải đổi mới chính sách.

Nếu có đường lối đúng, ta không những tận dụng được nguồn vốn mà còn vận dụng được cả thị trường, do đó phải năng động đổi mới.

Những năm đầu của thập kỷ 80, đặc biệt năm 85 trở đi, Liên Xô và các nước Đông Âu nổi lên làn sóng cải cách, cải tổ cơ chế quan liêu bao cấp của CNXH, làm cho nó lâm vào khủng hoảng và thời kỳ này là thời kỳ khủng hoảng nhất của chế độ quan liêu bao cấp, dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Đông Âu. Trong khi đó, các nước TBCN biết vươn lên lấy cơ hội để phát triển và có nhiều thành tựu:

Ở châu Á, Trung Quốc đã khởi xướng công cuộc cải cách, cải tổ từ Đại hội 12 tới Đại hội 13.

Trên thế giới, việc đổi mới trở thành nhu cầu tất yếu, là nhiệm vụ sống còn đối với mọi quốc gia, do đó VN phải đổi mới.

Thực tiễn ở VN sau 80 năm chiến tranh, nhân dân chịu nhiều đau khổ, mọi người muốn sống một cuộc sống hạnh phúc, hòa bình, ấm no và chất lượng cuộc sống. Đảng cố gắng tìm tòi chính sách mới nhưng càng làm càng sụp đổ, một số chủ trương, chính sách về kinh tế và xã hội đều được nghiên cứu nhưng khi thực hiện lại biểu hiện những sai lầm, những hạn chế, mắc những sai lầm, khuyết điểm lớn: Nguyện vọng của đất nước như vậy nhưng ta làm không đúng, gây ra lạm phát, tiêu cực rất nhiều, làm lòng tin của dân đối với Đảng giảm sút, do đó phải nhanh chóng đổi mới.

Nội dung đổi mới: đổi mới toàn diện

Trước hết, đổi mới về tư duy kinh tế.

Đổi mới về tổ chức.

Đổi mới về đội ngũ cán bộ.

Và đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác của Đảng.

Vì sao phải đổi mới tư duy:

Bởi tư duy là trình độ cao của nhận thức (là toàn bộ những hiện thực khách quan phản ánh vào đầu óc con người mà nhận thức và so sánh, tập hợp được sự vật, hiện tượng), đổi mới phương pháp tư duy dẫn tới hành động, nhận thức cao – lý luận cao.

Từ quan điểm của CN Mác - Lênin về vai trò của lý luận và tư duy lý luận: “Không có tư duy con người thì không có lao động cách mạng”; chỉ có lực lượng cách mạng mới có phong trào cách mạng, phải có lực lượng tiên phong mới đảm đương được nhiệm vụ tiên phong.

Lực lượng cách mạng khoa học phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan thì thúc đẩy sự phát triển của lực lượng và ngược lại. Mà Đảng ta lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, mà đường lối chính là tư duy cao. Nếu đường lối đúng, xã hội sẽ phát triển, còn đường lối sai sẽ kìm hãm sự phát triển.

Nhận thức chưa đúng quy luật kinh tế khách quan: quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Quy luật phổ biến trong thời kỳ quá độ: trong thời kỳ quá độ phải sản xuất hàng hóa, do đó có nhiều thành phần kinh tế dẫn đến có bóc lột (thuê CN). Trong thời kỳ này, đổi mới tư duy là đổi mới về nhận thức. Song đổi mới không có nghĩa là phủ nhận tất cả những thành tựu đã đạt được mà là bổ sung, phát triển những thành tựu ấy.

Đổi mới tư duy kinh tế là trọng tâm.

Bởi kinh tế là nền tảng, là cơ sở tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Nếu đổi mới về tư duy kinh tế sẽ tạo ra khả năng phát triển đất nước. Vật chất quyết định mọi vấn đề khác, trên cơ sở đó sẽ có những cái khác.

Thực tế đất nước ta giai đoạn đó chỉ có thể phát triển kinh tế thì mới có thể tạo ra những bước đi vững chắc.

Phương hướng đổi mới:

Phương hướng chung: đổi mới tư duy trên tất cả các lĩnh vực của đời sống XH, đổi mới về quan điểm, bước đi, cách làm cho phù hợp với những quy luật khách quan của CNXH.

Đổi mới tư duy nhằm làm cho SX phát triển, tạo ra đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao cho toàn XH.

Đổi mới tư duy không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được mục đích xây dựng thành công CNXH.

Đổi mới tư duy phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của CN Mác - Lênin và tư tưởng HCM.

Phương hướng cụ thể: có những quan điểm trước đây đúng, nay trong điều kiện mới không còn phù hợp phải thay đổi:

Như: có những quan điểm trước đây đúng, nay vẫn đúng (trong điều kiện mới) nhưng do thực tiễn không ngừng phát triển, những quan niệm ấy không còn đáp ứng nhu cầu mới, phải bổ sung, phát triển cho phù hợp.

Có những quan niệm trước đây đúng, nay vẫn đúng nhưng do ta hiểu sai, nay phải hiểu lại, làm lại cho đúng (QHSX phải phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất…).

Những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới:

Vì sao phải nêu ra nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới:

Lý luận: sau 2 năm thực hiện công cuộc đổi mới, ta đã giải phóng được sức SX, dân chủ được phát triển, chiến lược bảo vệ Tổ quốc được điều chỉnh hợp lý. QHSX được mở rộng nhưng đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội: nhiều người nảy sinh tư tưởng bi quan, hoài nghi con đường đi lên CNXH.

Tình hình thế giới và các nước XHCN có nhiều biến động và biến động rất phức tạp, sự tan rã của các nước XHCN bắt đầu hình thành, CNXH Liên Xô tan rã, ở TQ nền dân chủ không đi liền với chủ trương, tự do hóa dân chủ đã bị người dân TQ lợi dụng để đòi hỏi những quyền lợi và cuộc sống đầy đủ, sung túc.

Nội dung của nguyên tắc:

  • Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là cho mục tiêu ấy được thực hiện tốt hơn.

= Quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.

  • Đổi mới không phải là xa rời CN Mác - Lênin mà là vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.

  • Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằm tăng cường chứ không phải làm suy yếu sức mạnh của chuyên chính vô sản.

  • Xây dựng nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp XD CNXH, song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải dựa trên cơ sở dân chủ, dân chủ với nhân dân nhưng phải chuyên chính với kẻ thù.

  • Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế XHCN, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Kết luận:

Coi 5 nguyên tắc trên là sự thống nhất tư tưởng, hành động, là những kinh nghiệm, những bài học được rút ra từ thực tiễn để chỉ đạo công cuộc đổi mới.

20. Tự luận
1 điểm
Kiên định mục tiêu con đường XHCN?
Xem đáp án

Kiên định con đường CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của đảng ta:

1. Vì sao lại xác định như vậy:

Tiến lên CNXH là phù hợp với quy luật vận động và phát triển của XH loài người . Chủ nghĩa mac- lênin chỉ rõ “sự vận động của các hình thái KTXH bắt nguồn từ các sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất” (con người ở công xã nguyên thuỷ, xã hội loài người đã phát triển qua 5 hình thái kinh tế)

Sự phát triển lên CNXH là phù hợp với xu thế chung của thời đại . Người ta nhận thấy cứ 10% giàu là 90% người nghèo làm cho 10% người giàu càng giàu thêm , 10% ấy không chỉ bóc lột trên lưng người khác mà còn bóc lột trên lưng dân tộc khác , bản chất của XH tư bản là bản chất bóc lột . CNXH đã chứng minh rằng sự phân biệt ấy là không đáng kể do vậy xu hướng đi lên CNXH là tất yếu.

CNXH vẫn đại diện cho tiến bộ nhân loại mặc dù hơn 70 năm qua CNXH đã phải trải qua rất nhiều khó khăn. Trong lúc các nước CNXH đang gặp khủng hoảng và các thế lực thù địch bao vây, phá hoại thì ta đã nhận thấy: ta lựa chọn CNXH trong khi có hệ thống XHCN hay kể cả khi hệ thống CNXH sụp đổ ta vẫn lựa chọn. Điều này chứng tỏ lập trường của ta ngay khi CNXH gặp khủng hoảng ta vẫn kiên định đi theo CNXH.

Vì thế mà ta giải phóng được dân tộc ta đi lên CNXH và được XH, ngay cương lĩnh chính trị đầu tiên, ngay từ đầu cho tới khi thành công trong cách mạng đến khi thành công trong việc giải phóng dân tộc .Có miền bắc XHCN mới tạo ra của cải vật chất để chi viện cho miền nam giải phóng hoàn toàn thống nhất đất nước. Miền nam cũng nhìn miền bắc XHCN để có nỗ lực, niềm tin, sức mạnh đi lên CNXH. Hơn nữa thế kỷ qua chúng ta chống chủ nghĩa đế quốc hay thực chất chúng ta chống CNTB nói chung. Điều này đưa đến quyết định lựa chọn duy nhất đúng của lịch sử.

Thực tế của lịch sử dân tộc không có tính tất yếu nào để chúng ta xây dựng CNTB. Mặc dù sau năm 75 ta có nhiều sai lầm nhưng Đ ta đã nhận ra và kiên định đi theo con đường CNXH đã chọn . Thực tế sự lựa chọn lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng.

21. Tự luận
1 điểm
Kinh tế hàng hoá nhiều thành phần?
Xem đáp án

Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước.

Vì sao phải phá triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ?

Xuất phát từ lí luận của CN mác lênin : “đặc chưng của thời kì quá độ là còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế”. “Trong thời kì quá độ và cộng sản phải biết cách làm giàu của tư bản” nhưng phải cạnh tranh lành mạnh.

Từ sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu đan xen trong thời kì quá độ. Ta phải tạo ra các quan hệ sản xuất tương ứng với nó cho nó tồn tại và phát triển (do đó phải tồn tại nhiều hình thức kinh tế đan xen nhau).

Các quan hệ khác nhau để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất khác nhau của các thành phần kinh tế. Phát triển nhiều thành phần kinh tế để tạo ra môi trường thuận lợi cho các lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, các thành phần kinh tế tự giải phóng mình, tự tạo cho mình chỗ đứng.

Từ thực tế trước đại hội VI Đ chưa nhận thức đúng quy luật này, chưa nhận rõ đặc trưng của thời kì quá độ là còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế . Nên ta đã đốt cháy giai đoạn , xoá hết các thành phần kinh tế, và đưa ra khẩu hiệu tiến nhanh tiến tới CNXH , chỉ để lại 2 thành phần kinh tế làm cho đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn: quan hệ sản xuất không phù hợp với lực lượng sản xuất vốn có của nó dẫn đến tự nó kìm hãm , bó hẹp lại ko phát huy đc sức mạnh và trí tụe của lực lượng SX .

Làm cho S X hàng hoá không có năng suất dẫn đến thua lỗ, sản phẩm khan hiếm không đủ để dùng.

Trong khi đó tư sản trong Miền Nam đưa hàng hoá tràn ngập thị trường trước khi ta đánh tư sản , nhưng khi đánh xong thì thị trường xơ xác, không có mặt hàng mua bán. Các nước XHCN trước đây họ cũng để tồn tại nhiều thành phần kinh tế Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là đúng với lí luận và thực tiễn.

Vì sao phải địng hướng XHCN- ?

Các thành phần kinh tế cũng chính là các kiểu tổ chức kinh tế , các kiểu QHSX nó gắn liền với hình thức sở hữu khác nhau , nhiều QHSX khác nhau có nhiều hình thức dối lập nhau nhưng nó lại còn tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất . Nó thống nhất ở một mức nhất định, chung nhau về lợi ích nhưng không cùng nhau về bản chất. Tương ứng với sự không đồng nhất về bản chất ấy là nhiều quy luật kinh tế tác động khác nhauvà chừng nào còn thành phần kinh tế tư nhân thì vẫn còn quan hệ người bóc lột người.

Quy luật chạy theo lợi nhuận là đối lập với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động, còn tồn tại kinh tế hàng hoá là còn cạnh tranh, còn phân hoá thu nhập và còn cơ sở để phát triển TBCN.

Quy luật cạnh tranh dẫn đến nguy cơ của sự phát triển CNTB . Do đó phải định hướng  XHCN đặc biệt là các thành phần phi công hữu.

Nhà nước định hướng bằng luật : “phát triển tự do nhưng tự do trong khuôn khổ” .

22. Tự luận
1 điểm
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước?
Xem đáp án

Mục tiêu đến năm 2000:

Đây là bước phát triển mới, đẩy mạnh CNH_ HĐH đất nước .tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ vượt qua thử thách để đẩy mạnh công cuộc đổi mới 1 cách đồng bộ.

Tiếp tục phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN . Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế XH đến năm 2000.

Tăng trưởng kinh tế nhanh hiệu quả và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về XH bảo đảm an ninh quốc phòng cải thiện đời sống nhân dân năng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao vào đầu thế kỷ sau .

Quan điểm của đảng về công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế , đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ đối ngoại dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với việc tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài . XD một nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và trên thế giới , hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước, sản xuất có hiệu quả.

CNH_HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế trong đó kinh tế nông nghiệp là chủ đạo.

Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Toàn Đ, toàn dân cần kiệm XD đất nước, không ngừng tăng cường tích luỹ cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục thực hiện tiến bộ và công bằng XH, bảo vệ môi trường.

Khoa học và công nghệ là động lực của CNH- HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. Tranh thủ đi nhanh vào hiện đại và những khâu quyết định.

Lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn cơ bản để XD phương án phát triển lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ, đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có. Trong phát triển mới ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, đồng thời XD một mũi nhọn trong từng bước phát triển tập chung thích đáng nguồn lực cho những trọng điểm, cho những địa bàn trọng điểm. Đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước. Có chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn tạo điều kiện cho mọi vùng đều phát triển.

Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh. Mục tiêu CNH-HĐH đến năm 2020:

XD nước ta thành một nước công nghiệp. Có cơ sở vật chất kỹ thuật hiên đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng SX, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh XH công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu XD đưa nước ta trở thành 1 nước công nghiệp: nước CN là một nước trong đó lao động CN trở thành phổ biến trong tất cả các ngành kinh tế. Chỉ tiêu chủ yếu cho 1 nước công nghiệp là có chỉ tiêu của tấtt cả các tỷ trọng vượt trội so với một nước nông nghiệp.

Vì sao phải CNH

Không có CNH thì không có cơ sở vật chất của CNXH. Cơ sở của CNXH là : đại hội VIII khẳng định cơ sở để ta chuyển sang thời kỳ mới CNH-HĐH có những cơ sở sau:

+ Xuất phát từ kết quả 10 năm đổi mới với những tiên đề đã được tạo ra đồng thời dựa trên sự phân tích cục diện tình hình thế giới ngày nay có những biến động, với những thắng lợi to lớn nhưng cũng đan xen nhiều khó khăn phức tạp mới: ta đã đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinhtế trên nhiều mặt làm cho đời sống nhân dân khá hơn, KHCN phát triển …

+ Xu thế chung của thế giới ngày nay là hoà bình hợp tác phát triển, cách mạng KHKT ngày càng phát triển cao do đó chúng ta không thể đứng ngoài xu thế này nên ta phải CNH- HĐH .Tiền đề vật chất và sự ổn định nhiều mặt: quốc phòng an ninh chính trị … cho phép ta đẩy mạnh CNH- HĐH. Tuy nhiên ta chưa có đủ tiền đề nhưng trong quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH sẽ tạo ra tiền đề, sẽ hoàn chỉnh dần các tiền đề. Đó là biện chứng của sự phát triển (tác động qua lại lẫn nhau). Vì vậy không thể cho đủ tiền đề để đẩy mạnh CNH – HDH

+ Hoàn thành CNH- HĐH mới là hoàn thành tiên đề V/C cơ sở kỹ thuật , chứ chưa hoàn thành thời kỳ quá độ, chưa thể nói là nước phát triển được. Trở thành 1 nước CN chưa có nghĩa là hoàn thành CNH- HĐH. Cơ bản hoàn thành CNH –HĐH chưa hoàn thành nhiệm vụ của thời kỳ quá độ. Kết thúc thời kì quá độ có nhiều vấn đề khác: QHSX, trình độ phát triển của lực lượng SX, QHSX phải phù hợp với CNH-HĐH, mà CNH-HĐH chỉ là một công cụ cho kiến trúc thượng tầng . Khi hoàn thành thời kì quá độ, hoàn chỉnh về tư tưởng con người – con người có CNXH phải trải qua một bước rất dài mới tiến lên được CNCS.

23. Tự luận
1 điểm
Nội dung chủ yếu được bổ sung và phát triển trong văn kiện đại hội 9 ?
Xem đáp án

Mục tiêu của cm, lý tưởng của đảng

Về thời kỳ quả độ lên CNXH

Mô hình kinh tế tổng quát

Chế độ sở hữu và các thành phần kinh tế

Đấu tranh giai cấp và động lực phát triển đất nước

Nến tảng tư tưởng của đảng

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự quản và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế PHÂN TÍCH: Mục tiêu của cách mạng , lý tưởng của đảng

Khẳng định con đường mà đảng và ND đã     chọn và quan tâm XD là con dường XHCN. XHCN trên nền tảng của cn mac lenin và tư tưởng HCM

Khẳng định điều này là rất cần thiết nhất là trong tình hình hiện nay TG co diễn biến phức tạp , trong nước cũng đứng trc những nguy cơ và thách thức mới .

Mục tiêu cao cả thiêng liêng bất di bất dịch của nhân dân ta là Xd mọt nước VN độc lập dân tộc thống nhất đi lên CNXH, đi lên CNXH là 1 tất yếu khách quan theo đúng quy luất tiến hoá của lịch sử , chỉ co CNXH, CNCS mới giải pháng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp Cn trên toàn thế giới .

Đặc điểm của cước ta XD CNXH từ điểm xuất phát rất thấp chưa có trong lịch sử do đó nhũng sai lầm khuyết điểm là khó tránh khỏi cần phải thừa nhận đề tìm cách khắc phục và sửa chữa nó . không vì khuyết điểm sai lầm ma phủ định CNXH. Không xa rời mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH.

CNXH mà nhân dân ta đã XD là 1 XH do nhân dân lao động làm chủ , có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại , chế độ công hữu về tư liệu sản xuất có nền văn hoá tiến bộ đậm đà bản sắc dân tộc , con người được giải phóng .

Trong giai đoạn hiện nay mục tiêu phấn đấu của ND ta là XD 1 nước VN dân giàu nước mạnh xh công bằng dân chủ văn minh

24. Tự luận
1 điểm
Đường lối phát triển kinh tế do Đại Hội 9 xác định ?
Xem đáp án

Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.

Ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng QHSX phù hợp theo định hướng XHCN, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhanh, phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, kết hợp phát triển KTXH với tăng cường QPAN.

Chiến lược phát triển KTXH 10 năm 2001 - 2010 nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, QPAN được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được cơ bản hình thành. Vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng ít nhất gấp đôi so với năm 2000, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50%.

Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm 2001 - 2005 rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược 10 năm, nhằm tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, ổn định, cải thiện đời sống nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH. Nâng cao rõ rệt hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mở rộng kinh tế đối ngoại, tạo chuyển biến mạnh về GD - ĐT, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Tạo nhiều việc làm, cơ bản xóa đói giảm nghèo, đẩy lùi tệ nạn xã hội, tăng cường kết cấu hạ tầng KTXH, hình thành bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giữ vững ổn định chính trị và TTATXH, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 2001 - 2005 là 7,5%/năm.

25. Tự luận
1 điểm
Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa lịch sử của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ 1939 - 1945?
Xem đáp án

Hoàn cảnh lịch sử

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp đã tham chiến. Ở Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị thời chiến.

Trước sự biến động lớn đó, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, định ra chủ trương, chính sách mới cho phù hợp với tình hình mới.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939), đặc biệt là Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5 - 1941), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã khẳng định nội dung, tư tưởng điều chỉnh chiến lược trong thời kỳ mới. Đường lối của Đảng về cách mạng giải phóng dân tộc đã được bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh.

Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng

Thứ nhất, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, nhằm tập trung giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc.

Trong "Thông cáo cho các đồng chí ở các cấp" ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng vạch rõ: "Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng... Tất cả các đồng chí phải thấu hiểu vấn đề dân tộc giải phóng..., gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng". Trung ương Đảng xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương không phải là đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến nói chung, mà là chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản bội dân tộc. "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc". "Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta"; "trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"; "trong giai đoạn hiện tại... nếu không đánh đuổi được Pháp - Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời, mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được". "Cuộc cách mạng ở Đông Dương là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng".

Thứ hai, sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia độc lập tuỳ ý. Đối với nước ta, sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc, Chính phủ do Quốc hội bầu ra.

Thứ ba, liên hiệp tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị, đảng phái vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc thật rộng rãi, lấy liên minh công nông làm cơ sở. Muốn vậy cần phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân. Trung ương quyết định thành lập "Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh", gọi tắt là Việt Minh. Đối với các dân tộc Campuchia và Lào, Đảng chủ trương lập "Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh", và "Cao Miên độc lập đồng minh", để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh.

Còn các tổ chức quần chúng thì lập thành các hội cứu quốc như: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, v.v..

Thứ tư, chuyển hướng hình thức đấu tranh, từ đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đòi quyền lợi dân chủ, dân sinh, sang đấu tranh chính trị bí mật, bất hợp pháp, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là trung tâm của Đảng và nhân dân ta, phải ra sức chuẩn bị lực lượng trong toàn quốc và nhằm đúng vào những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước...

Ý nghĩa của sự điều chỉnh chiến lược

Từ Hội nghị lần thứ 6 đến Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, sự điều chỉnh chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới đã hoàn chỉnh.

Trong hoàn cảnh dân tộc ta một cổ đôi tròng mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội ta đã phát triển đến độ gay gắt nhất, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đặt ra một cách trực tiếp, quyền lợi dân tộc giải phóng đặt lên cao hơn hết. Đảng đã có chủ trương thực hiện cho được mục tiêu chủ yếu là độc lập dân tộc, đề ra hàng loạt chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, tích cực mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tích cực chuẩn bị và tiến lên khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền. Đường lối đó hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, của các dân tộc ở Đông Dương, có khả năng động viên cả dân tộc đoàn kết đứng lên đánh Pháp đuổi Nhật.

Sự điều chỉnh chiến lược đúng đắn đó đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

26. Tự luận
1 điểm
Hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của bản Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" ngày 12-3-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng?
Xem đáp án

Hoàn cảnh

Nhật xâm lược Đông Dương. Nhật - Pháp cấu kết với nhau đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Song, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt. Bấy giờ Đảng, ta đã dự đoán: nhất định Nhật - Pháp sẽ thôn tính lẫn nhau.

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc• Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Đờgôn trở lại Pari. Quân Anh đánh lui quân Nhật ở Miến Điện. Mỹ đổ bộ lên Philippin, khống chế phần đường biển từ Nhật Bản đến Inđônêxia.

Thực dân Pháp theo phái Đờgôn ở Đông Dương ngóc đầu dậy, hoạt động ráo riết, chờ quân Đồng minh vào sẽ lật đổ Nhật để khôi phục quyền thống trị.

Phát xít Nhật đứng trước tình thế thất bại ở Thái Bình Dương nên phải nhanh chóng làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp.

Ban thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9-3-1945 đến 10-3-1945 đã đánh giá tình hình, nhận định thời cơ khởi nghĩa và đã ra bản Chỉ thị "Nhật — Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta".

Nội dung chủ yếu của bản Chỉ thị

Xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật; thay khẩu hiệu đánh đuổi phátxít Nhật, Pháp bằng khẩu hiệu đánh đuổi phátxít Nhật và đưa ra khẩu hiệu "thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương".

Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa; phải có những hình thức tuyên truyền, đấu tranh hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như đẩy mạnh tuyên truyền võ trang, biểu tình, tuần hành, thị uy, bãi công chính trị, phá các kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, lập chính quyền bộ phận, mở rộng căn cứ địa cách mạng để khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang tổng khởi nghĩa.

Dự đoán thời cơ khởi nghĩa:

+ Quân Đồng Minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng Minh để phía sau sơ hở.

+ Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập.

+ Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940. Quân đội viễn chinh Nhật hoang mang, mất hết tinh thần.

Chỉ thị còn nói rõ không được ỷ lại vào bên ngoài khi tình thế biến chuyển thuận lợi, mà phải dựa vào sức mình là chính.

Ý nghĩa lịch sử

Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên quyết và kịp thời của Đảng ta, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, của Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi.

Khi Nhật đầu hàng, mặc dầu chưa nhận lệnh của Trung ương Đảng, nhưng do nắm vững nội dung bản Chỉ thị nên nhiều địa phương đã chủ động, sáng tạo, mau lẹ, kịp thời khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa thành công trong những ngày tháng Tám.

27. Tự luận
1 điểm
Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám năm 1945?
Xem đáp án

Ý nghĩa lịch sử

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ hàng mấy nghìn năm và ách thống trị của phátxít Nhật, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông - Nam châu Á. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập tự do, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của lịch sử dân tộc Việt Nam, đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giành quyền dân chủ.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã hỗ trợ, thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương và nhiều nước khác trên thế giới.

Nguyên nhân thắng lợi

Nguyên nhân khách quan:

Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong bối cảnh quốc tế rất thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xítNhật đã bị Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới đánh bại. Bọn Nhật ở Đông Dương và tay sai đã tan rã. Đảng ta đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng.

Nguyên nhân chủ quan:

Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của 15 năm đấu tranh của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã được rèn luyện qua ba cao trào cách mạng rộng lớn: Cao trào 1930 - 1931, Cao trào 1936 - 1939 và Cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939 - 1945. Quần chúng cách mạng đã được Đảng tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện bằng thực tiễn đấu tranh đã trở thành lực lượng chính trị hùng hậu, có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt.

Cách mạng Tháng Tám thành công là do Đảng ta đã chuẩn bị được lực lượng vĩ đại của toàn dân đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, dựa trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Đảng ta là người tổ chức và lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám, vì Đảng có đường lối cách mạng đúng đắn, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, nắm đúng thời cơ và chỉ đạo kiên quyết, khôn khéo, tạo nên sức mạnh tổng hợp áp đảo kẻ thù.

Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu nhất, quyết định thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Bài học kinh nghiệm

Bài học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn chính trị sâu sắc của Cách mạng Tháng Tám là Đảng ta đã không ngừng phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo trong việc phát triển đường lối và tổ chức thực tiễn, mạnh dạn điều chỉnh chiến lược, thay đổi chủ trương cho hợp tình thế, kịp thời nắm bắt được sự biến đổi của thời cuộc để tổ chức lãnh đạo quần chúng tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn để lại cho Đảng và nhân dân ta nhiều bài học kinh nghiệm về chỉ đạo chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng, làm phong phú kho tàng lý luận cách mạng:

+ Đảng đã xác định nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là chống đế quốc và chống phong kiến. Hai nhiệm vụ này kết hợp khăng khít với nhau, làm tiền đề cho nhau, song nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất, là nhiệm vụ hàng đầu còn nhiệm vụ chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và được thực hiện dải ra từng bước. Nhờ vậy, Đảng ta đã tổ chức được lực lượng chính trị rộng lớn mà nòng cốt là khối liên minh công nông để thực hiện yêu cầu cấp bách của cách mạng là giải phóng dân tộc, giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc.

+ Đảng đã triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù. Xác định kẻ thù nguy hiểm nhất, phân hoá hàng ngũ kẻ thù, tranh thủ mọi lực lượng, tập trung chống kẻ thù nguy hiểm nhất.

+ Đảng ta đã khẳng định con đường duy nhất lật đổ ách thống trị của đế quốc và tay sai, giành chính quyền là con đường cách mạng bạo lực; đã xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, trên cơ sở đó từng bước xây dựng lực lượng vũ trang và đấu tranh vũ trang, đã khéo léo kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang, trong đó, đấu tranh chính trị của quần chúng có vai trò quyết định đã tạo ra ưu thế áp đảo quân thù, giành thắng lợi nhanh gọn.

28. Tự luận
1 điểm
Hoàn cảnh lịch sử và nội dung cơ bản của bản Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" tháng 11-1945 của Ban thường vụ Trung ương Đảng?
Xem đáp án

Hoàn cảnh lịch sử

Sau thắng lợi vĩ đại của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đem lại cho cách mạng Việt Nam thế và lực mới. Đảng ta từ một đảng hoạt động bất hợp pháp trở thành đảng cầm quyền, nhân dân ta được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, trở thành người làm chủ đất nước.

Cách mạng nước ta thời kỳ này đứng trước những khó khăn, thử thách nghiêm trọng:

+ Nước ta còn nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc và các chính quyền phản động trong khu vực. Nước ta còn chưa nhận được sự giúp đỡ trực tiếp của các nước xã hội chủ nghĩa và lực lượng tiến bộ trên thế giới.

+ Nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nạn đói năm 1945 làm 2 triệu người chết, tiếp đó là nạn lũ lụt, hạn hán kéo dài làm 50% ruộng đất bị bỏ hoang. Sản xuất nông nghiệp đình đốn. Tài chính khô kiệt, kho bạc trống rống, ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp.

Trình độ văn hoá của nhân dân ta thấp kém, 90% số dân mù chữ.

+ Ở miền Bắc: 20 vạn quân Tưởng ồ ạt tràn qua biên giới, theo gót chúng là bọn Việt Quốc, Việt Cách, chúng lập chính quyền phản động ở một số nơi, cướp của giết người và chống phá chính quyền cách mạng. Ở miền Nam: quân Anh với danh nghĩa Đồng Minh kéo vào nước ta tiếp tay cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. "Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc!".

Nội dung cơ bản của Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc"

Ngày 25-11-1945, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra bản Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" vạch rõ nhiệm vụ chiến lược và nhiệm vụ cần kíp của cách mạng nước ta. Chỉ thị xác định:

"Cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Khẩu hiệu đấu tranh vẫn là "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết".

Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp xâm lược.

Nhiệm vụ cơ bản, trước mắt của toàn dân tộc ta là: củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống của nhân dân. Nhiệm vụ bao trùm là bảo vệ, củng cố chính quyền cách mạng.

Chỉ thị vạch ra những biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên.

+ Về nội chính: xúc tiến bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức, lập hiến pháp, xử lý bọn phản động đối lập, củng cố chính quyền nhân dân.

+ Về quân sự: động viên lực lượng toàn dân trường kỳ kháng chiến.

+ Về ngoại giao: kiên trì nguyên tắc "bình đẳng, tương trợ", thêm bạn bớt thù. Đối với quân đội Tưởng, thực hiện khẩu hiệu "Hoa - Việt thân thiện".

Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" của Ban thường vụ Trung ương Đảng đã giải quyết kịp thời những vấn đề quan trọng về chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng trong thời kỳ mới giành được chính quyền, đưa đất nước vượt qua tình thế "ngàn cân treo sợi tóc".

29. Tự luận
1 điểm
Tại sao tháng 12-1946, Đảng đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Phân tích nội dung cơ bản đường lối kháng chiến của Đảng?
Xem đáp án

Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc vào tháng 12-1946 Thành quả nổi bật của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là thiết lập được Chính quyền cách mạng.

Từ tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, Đảng ta đã đề ra các chủ trương về các mặt chính trị, kinh tế, tăng cường đoàn kết toàn dân, giữ vững chính quyền. Để giữ vững hoà bình, Đảng ta đã đề ra sách lược hoà hoãn với Tưởng rồi hoà hoãn với Pháp bằng việc ký Hiệp  định  sơ  bộ  6-3-1946,  đàm  phán  tại  Hội  nghị Phôngtennơblô và ký Tạm ước 14-9-1946.

Nhưng thực dân Pháp đã bội ước. Chiến sự ở miền Nam vẫn nổ ra gay gắt. Còn ở miền Bắc, chúng gây nhiều vụ khiêu khích trắng trợn, cụ thể là:

Ngày 20-1-1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn.

Từ ngày 7 đến 15-12-1946, Pháp đánh chiếm Tiên Yên, Đình Lập, Hải Dương, Đà Nẵng.

Ngày 18-12-1946, Pháp gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, Hà Nội, đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính. Chúng còn gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của tự vệ, đòi kiểm soát tình hình Hà Nội.

Trước hành động ngày càng lấn tới của địch, ta không thể nhân nhượng với chúng được nữa, vì nhân nhượng nữa là mất nước, quay lại cuộc đời nô lệ. Vì vậy, tối ngày 19-12-1946, Đảng và Chính phủ đã phát động toàn quốc kháng chiến.

Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Pháp Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Ngày 22-12-1946, Trung ương Đảng ra "Chỉ thị toàn dân kháng chiến". Hai văn kiện này đã nêu một cách khái quát nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến. Nội dung ấy được đồng khí Trường Chinh bổ sung, phát triển trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi" năm 1947.

Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến thể hiện qua các văn kiện trên là:

Cuộc kháng chiến nhằm vào kẻ thù chính là bọn thực dân phản động Pháp đang dùng vũ lực cướp lại nước ta, giành độc lập tự do và thống nhất thật sự, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục sự nghiệp của cuộc Cách mạng Tháng Tám, nên nó có tính chất dân tộc giải phóng. Lúc này, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là yêu cầu nóng bỏng và cấp bách nhất.

Cuộc kháng chiến chống Pháp còn mang tính chất dân chủ mới. Trong quá trình kháng chiến, phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ và thực chất của vấn đề dân chủ lúc này là từng bước thực hiện người cày có ruộng.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc; đánh giặc bằng bất cứ thứ vũ khí gì có trong tay; đánh giặc ở bất cứ nơi nào chúng tới.

Kháng chiến toàn dân là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.

Kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế và văn hoá... nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù.

Kháng chiến lâu dài, tích cực phát triển lực lượng, tranh thủ giành thắng lợi ngày càng lớn. Kháng chiến lâu dài còn do tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch. Ta cần có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Dựa vào sức mình là chính, trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng sự viện trợ quốc tế.

Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ dân chủ mới trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để có sức mạnh đưa kháng chiến đến thắng lợi và tạo tiền đề cần thiết cho xây dựng xã hội mới sau khi giải phóng đất nước.

Đường lối kháng chiến của Đảng là ngọn cờ hướng đạo quân và dân ta chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ dẫn đến chiến công Điện Biên Phủ (1954).
30. Tự luận
1 điểm
Trình bày tóm tắt nội dung cơ bản đường lối cách mạng Việt Nam được vạch ra trong "Chính cương Đảng Lao động Việt Nam" do Đại hội lần thứ II của Đảng tháng 2 - 1951?
Xem đáp án

Bước vào năm 1951, trước sự phát triển nhanh chóng của cách mạng nước ta sau 5 năm kháng chiến, thực tiễn đòi hỏi Đảng ta phải bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đã được vạch ra từ ngày thành lập Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã được triệu tập vào tháng 2- 1951 tại Chiêm Hoá, Tuyên Quang.

Đại hội đã thông qua các văn kiện quan trọng, đặc biệt là bản "Chính cương Đảng Lao động Việt Nam".

Nội dung cơ bản của Chính cương Đảng Lao động Việt Nam:

Xác định đối tượng của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ, bọn phong kiến phản động. Kẻ thù chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược.

Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xoá bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tạo cơ sở cho chủ nghĩa xã hội.

Ba nhiệm vụ trên có quan hệ khăng khít với nhau, song, nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc. Lúc này phải tập trung lực lượng vào cuộc kháng chiến để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Động lực của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc, nhân sĩ yêu nước tiến bộ. Nền tảng là khối liên minh công nông và lao động trí thức.

Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân. Giải quyết những nhiệm vụ cơ bản và sắp xếp lực lượng cách mạng như trên, cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thông qua Đảng Lao động Việt Nam, nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Cùng với các văn kiện đã thông qua tại Đại hội, "Chính cương Đảng Lao động Việt Nam" thể hiện sự hoàn chỉnh thêm một bước đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được vạch ra trong Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng, đường lối đó soi đường dẫn đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Gợi ý cho bạn

Xem tất cả