100 câu bài tập Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam (có đáp án) - Phần 2
31 câu hỏi
Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay, đã vượt qua những khó khăn thử thách và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác . Cách mạng Tháng Tám năm 1975 thành công chấm dứt chế độ phong kiến thực dân, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi. Cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành trên miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975 và đặc biệt là quá trình đổi mới từ sau năm 1986 đã đạt được những thành tựu quan trọng, khẳng định tính đúng đắn của con đường và mục tiêu cách mạng Việt Nam là gắn liền với độc lập dân tộc .
Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam –một Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.
Sở dĩ Đảng là người tổ chức và lãnh đạo duy nhất mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, vì:
-Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử .
-Đảng là đại biểu trung thành với đầy đủ lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân , của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.
Độc lập dân tộc , tự do hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu , là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng đã nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục đích, là con đường cách mạng của Đảng. Vì mục đích đó mà qua các thời kỳ lịch sử cách mạng Việt Nam, biết bao chiến sĩ anh hùng đã cống hiến trọn đời mình cho cách mạng . Đảng luôn luôn tuyệt đối trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân và chính điều đó Đảng mới có đủ sức mạnh làm nên sự nghiệp lớn.
Đảng thường xuyên giáo dục Đảng viên, cán bộ phải có ý thức biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng: “Mọi quan điểm tư tưởng coi Đảng là làm chức này, chức nọ” “để tìm công ăn việc làm” đều xa lạ với đạo đức cách mạng , đều sai trái “với nguyên tắc cao nhất của Đảng”.
Đảng luôn luôn quán triệt trong mọi hoạt động của mình quan điểm sự nghiệp cách mạng là của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân , phải ‘lấy dân làm gốc”.
Đảng biết dựa vào lực lượng quần chúng , phát huy tính tích cực cách mạng của quần chúng , toàn tâm toàn lực phục vụ quần chúng . Trong suốt cả quá trình lãnh đạo cách mạng , Đảng đã có đường lối chính sách đúng, phản ánh được lợi ích chân chính và nguyện vọng của nhân dân . Đại đa số đảng viên của Đảng đã tham gia thời kỳ hoạt động bí mật và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Họ đã kiên trì bám sát quần chúng để xây dựng cơ sở, phát động đấu tranh giành lại quyền sống. Nhân dân ta luôn luôn nghe theo Đảng, tin theo Đảng mặc dù trong bước đường cách mạng gặp khó khăn, họ vẫn tin Đảng ,bảo vệ Đảng.
Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, đất nước thống nhất đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa ,Đảng vẫn ý thức được rằng, trong mọi hoạt động của mình phải quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”.
-Đảng biết nắm vững, vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tiễn, Đảng đề ra đường lối chính trị đúng đắn và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng.
-Sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực đế quốc và thù địch chỉ cần tấn công vào các Đảng Cộng sản và Công nhân, làm vô hiệu hoá hoặc tan vỡ từ bên trong các Đảng Cộng sản đang cầm quyền.
-Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn thúc đẩy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.
-Đảng luôn có ý thức vận dụng một cách độc lập và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
-Đảng có ý thức kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn đất nước và tinh hoa truyền thống dân tộc .
-Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi là nhờ Đảng ta đề ra đường lối cm dân tộc dân chủ đúng đắn, có sự chỉ đạo chiến lược và sách lược sắc bén....
-Các yếu tố nói trên đảm bảo cho Đảng ta luôn luôn giữ vững vai trò là người lãnh đạo cách mạng , được quần chúng tin cậy và một lòng theo Đảng.
-Thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1975 đến năm 1985 đất nước ta còn nhiều khó khăn. Xét đến nguyên nhân, về mặt chủ quan, Đảng tự kiểm điểm là đã phạm một số sai lầm, đặc biệt là trong việc xác định chủ trương đường lối và cả trong công tác xây dựng Đảng.
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra những thiếu sót và đề ra nhiệm vụ cấp bách là phải đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử , coi đó là nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
-Điều quan trọng trước hết là Đảng phải đổi mới tư duy, nâng cao trình độ trí tuệ của Đảng lên một bước phát triển mới, Đảng cần coi trọng việc nắm vững và vận dụng sáng tạo những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổng kết một cách khoa học kinh nghiệm thực tế sinh động từ phong trào quần chúng nước ta và tiếp thu có chọn lọc trí tuệ thời đại, đề ra đường lối, chủ trương cho thật đúng, thật sát hợp với quy luật khách quan và với đặc điểm riêng của cách mạng nước ta.
-Đảng thường xuyên xây dựng vững mạnh về tổ chức, nâng cao sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn. Đảng luôn luôn tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nguyên tắc phê bình và tự phê bình, xây dựng Đảng thành đội tiên phong chiến đấu, luôn luôn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính sách đúng và các nguyên tắc của Đảng. Mặt khác, Đảng cần hết sức coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng , giáo dục đảng viên về trình độ chính trị văn hoá, khoa học –kỹ thuật, về năng lực lãnh đạo và quản lý , về phẩm chất , đạo đức, tư cách sao cho tương xứng với yêu cầu lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960) đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc:
-Xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa như ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt. Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa 2 con đường trên lĩnh vực kinh tế , chính trị , tư tưởng, văn hoá nhằm đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở cá thể về tư liệu sản xuất lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội về kinh tế là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển . Trong đó, cải tạo xã hội chủ nghĩa cần đi trước một bước để mở đường.
-Công nghiệp hoá được xem là nhiệm vụ trung tâm suốt thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội . Điểm mấu chốt trong công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
-Đồng thời với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế , phải tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hoá nhằm thay đổi cơ bản đời sống tư tưởng tinh thần và văn hoá của toàn xã hội phù hợp với chế độ mới xã hội chủ nghĩa.
Từ những luận điểm trên, Đại hội III vạch ra đường lối chung của miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội với những nội dung cơ bản:
-Định hướng và mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội . nhằm xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
-Các biện pháp chiến lược và con đường để đạt đến định hướng và mục tiêu trên:
+Sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để tổ chức tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
+Thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp , thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh và đồng thời phát triển thành phần kinh tế quốc doanh.
+Thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
+Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật.
-Yêu cầu cần đạt đến của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là bước biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, khoa học tiên tiến.
-Trong quá trình chỉ đạo thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng có bổ sung phát triển thêm đường lối trên cơ sở những quan điểm cơ bản đã đề ra từ Đại hội III.
-Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 19 (3-1971) đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa được bổ sung thêm.
-Về đường lối chung:
+Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động .
+Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng : cách mạng quan hệ sản xuất , cách mạng khoa học- kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá. Trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt.
-Về đường lối kinh tế :
+Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
+Xây dựng kinh tế Trung ương đồng thời phát triển kinh tế địa phương.
+Kết hợp kinh tế với quốc phòng.
Hoàn cảnh lịch sử
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của Đảng họp từ ngày 27 đến 31-3-1982 tại thủ đô Hà Nội. Đại hội họp trong tình hình nước ta đang trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế xã hội .
-Đại hội đã kiểm điểm những hoạt động của Đảng từ Đại hội lần thứ IV, đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, phân tích thực trạng kinh tế –xã hội nước ta cùng những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó.
Chủ trương của Đảng.
-Qua thực tiễn, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, Đại hội nhận thấy rằng đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV của Đảng đề ra là cho suốt cả thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội . Để đường lối được thực hiện thắng lợi cần cụ thể hoá đường lối chung đó thành những chặng đường với những nhiệm vụ và biện pháp cụ thể, sát hợp với yêu cầu và khả năng cho phép của từng chặng đường.
-Từ nhận thức mới đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã xác định cụ thể hoá trong chặng đường đầu tiên.
-Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội , tạo điều kiện cơ bản cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi.
-Đảng ta sớm đặt ra và luôn luôn coi trọng công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ . Tuy nhiên quan điểm , nội dung , bước đi.... của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa thì dần dần được điều chỉnh, hoàn thiện cho phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế.
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã xác định công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở nước ta: ''...Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối, hiện đại kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại ”
-Quá trình thực hiện đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đề ra, đến Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 19 (3- 1971) của Đảng được bổ sung và phát triển thêm. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.......
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976) của Đảng đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ....Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ”
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (1982) xác định: “ Trong 5 năm 1981-1985) và những năm 80 , cần tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp , coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số nghành công nghiệp nặng quan trọng....Đó là những nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường trước mắt ”
-Coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu không có nghĩa là chỉ tập trung làm nông nghiệp , vì bản thân nông nghiệp , tự nó không thể làm thay đổi bộ mặt của nó, vì nó không thể tự trang bị kỹ thuật cho mình được. Mặt khác, nông nghiệp muốn trở thực sự trở thành cơ sở cho sự phát triển công nghiệp thì nó phải là một nền nông nghiệp sản xuất lớn.
Hoàn cảnh lịch sử
-Về quốc tế: Trong 5 năm nhân dân ta tiếp tục nhận được sự giúp đỡ to lớn và sự hợp tác nhiều mặt của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác.
-Về trong nước: Thực trạng xã hội nước ta đang ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế –xã hội ....
Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư VI của Đảng.
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thư VI của Đảng đã họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986. Dự Đại hội có 1.129 đại biểu, thay mặt cho hơn hai triệu đảng viên, ngoài ra còn có 35 đại biểu quốc tế.
-Đại hội VI đã đánh giá đúng mức những thành tựu đã đạt được trong 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời với tinh thần nhìn thẳng vào, đánh giá đúng sự thật, Đại hội đã chỉ ra những mặt yếu kém, những khó khăn gay gắt của kinh tế –xã hội nước ta.
-Đại hội rút ra những bài học kinh nghiệm lớn có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động chỉ đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
+Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
+Kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện lịch sử mới.
-Đại hội khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
-Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện , trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế :
-Vấn đề quan trọng trước tiên là phải xác định lại mục tiêu sát hợp với quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội từ sản xuất nhỏ. Đại hội xác định rằng, công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải trải qua nhiều chặng đường: “Nhiệm vụ bao trùm , mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội , tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”
-Đại hội đề ra 5 mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
+Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ
+Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất .
+Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển sản xuất .
+Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội .
-Đại hội đã đề ra một hệ thống giải pháp để thực hiện các mục tiêu nói trên:
+Bố trí lại cơ cấu sản xuất , cơ cấu đầu tư về xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế ....Đại hội nhấn mạnh giải pháp tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương trình mục tiêu: lương thực-thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu.
Đại hội nhấn mạnh ba chương trình mục tiêu đó là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ.
+Đại hội khẳng định cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế,coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Đó là một giải pháp có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải phóng và khai thác mọi khả năng để phát triển lực lượng sản xuất , từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý.
+Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế . Đại hội khẳng định dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp , chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ .
Những quan điểm về vấn đề kinh tế quan trọng nói trên là một sự đổi mới rất cơ bản trong tư duy kinh tế của Đảng.
Hoàn cản lịch sử
-Về quốc tế: Tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là cuộc khủng hoảng toàn diện trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự tan rã và sụp đổ tại nhiều nước Đông Âu.
-Về trong nước: Sau 4 năm thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, tình hình kinh tế –xã hội đã có những chuyển biến đáng kể, song nhìn chung đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng về kinh tế-xã hội .
Những nội dung chủ yếu mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:
-Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa.
-Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã nêu ra đặc trưng và phương hướng xây dựng xã hội chủ nghĩa.
+Đặc trưng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng : Do nhân dân lao động làm chủ. Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại, chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc . Con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Những phương hướng cơ bản xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân , lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng cộng sản lãnh đạo
Phát triển lực lượng sản xuất , công nghiệp hoá đất nước ....
Phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất , thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao....
Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá làm cho thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giữ vững vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội.
Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc ....
Xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh....
Ý nghĩa của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, “Đại hội trí tuệ đổi mới, dân chủ , kỷ cương và đoàn kết”
Ý nghĩa của bài học
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng nước ta,là một trong những cội nguồn thắng lợi mà nhân dân ta đã giành được từ khi có sự lãnh đạo của Đảng.
Cơ sở của bài học
-Cơ sở lý luận của bài học là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp , giải phóng xã hội trong thời kỳ mới.
-Cơ sở thực tiễn là yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, của thời đại và những biến cố lịch sử của nước ta và trên thế giới trong quá trình đấu tranh để giải quyết yêu cầu đó.
Nội dung của bài học.
-Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện qua các thời kỳ cách mạng:
a.Thời kỳ 1930-1945.
-Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện trong đấu tranh giành chính quyền . Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhận thức về sự chỉ đạo chiến lược đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc , giành độc lập dân tộc lên hàng đầu và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất sẽ được độc lập dân tộc thì chưa có điều kiện giải quyết đầy đủ các vấn đề khác như vấn đề ruộng đất , nâng cao dân trí....
-Chủ nghĩa yêu nước là một động lực mạnh của đất nước cần phải để triệt để phát huy.
-Khi chưa cải cách ruộng đất, chỉ với khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản quốc chia cho nông dân nghèo, giảm tô, giảm tức cũng đủ lôi cuốn đông đảo nông dân tham gia cách mạng . Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc , nông dân được hưởng nhiều quyền lợi to tát như đánh đuổi Pháp-Nhật, xoá các thứ thuế vô lý, được chia công điền và nhiều quyền lợi kinh tế chính trị khác.
-Chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của giai cấp công nhân , nông dân mà còn là kẻ thù của toàn dân tộc .
Cách mạng giải phóng dân tộc không chỉ giải phóng công-nông mà giải phóng cả dân tộc khỏi ách nô lệ. Sự nghiệp giành độc lập không chỉ của công-nông mà của mọi người Việt Nam yêu nước.
-Cách mạng giải phóng dân tộc là thời kỳ dự bị để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tuy là phương hướng tiến lên sau này nhưng lại có ảnh hưởng quyết định đến tính chất triệt để và tạo ra sức mạnh hùng hậu của cách mạng giải phóng dân tộc .
-Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của việc thực hiện khối đoàn kết toàn dân vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc , giành chính quyền về tay nhân dân . Lúc đó cách mạng thế giới chưa có điều kiện giúp đỡ trực tiếp Việt Nam, nhưng Đảng ta đã kịp thời tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, trong đó có thắng lợi của nhân dân Liên Xô đánh bại bọn pát xít Nhật ở Châu á để phát động cuộc Tổng khởi nghĩa.
a.Thời kỳ 1945-1975
Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện khác nhau ở hai thời kỳ khác nhau: Thời kỳ 1945-1954 vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới; Thời kỳ từ 1954- 1975 vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
-Thời kỳ 1945-1954
+Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Đảng đã đề nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhưng thục dân Pháp lại xâm lược nước ta lần nữa. Với tinh thần chúng ta “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng . Đảng nhận định cách mạng nước ta vẫn là cách mạng giải phóng dân tộc , nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn được đặt lên hàng đầu, nhiệm vụ cải cách ruộng đất có điều kiện thực hiện rộng rãi hơn so với thời kỳ giành chính quyền nhưng vẫn theo tinh thần rải làm từng bước, xuất phát từ nhiệm vụ chống đế quốc .
+Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta có nhiều vùng tự do, mặc dù vậy vẫn chưa đủ điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Đảng chỉ đề ra chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tức là vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân .
+Khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa dựa trên nền tảng phát huy lòng yêu nước của toàn dân, vừa dựa trên những thành tựu ban đầu của chế độ mới. Chế độ mới không chỉ là lực lượng tinh thần mà còn là lực lượng vật chất to lớn, bảo đảm kháng chiến lâu dài, càng đánh càng thắng, cuối cùng đánh bại cuộc xâm lược của thực dân Pháp.
-Thời kỳ 1954-1975
+Đường lối chiến lược kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện một cách độc đáo chưa có tiền lệ trong lịch sử và hoàn toàn phù hợp với đặc điểm và yêu cầu cách mạng nước ta trong điều kiện đất nước tạm thời chia làm hai miền.
+Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện ở đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng : cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam.
+ở miền Bắc, chủ nghĩa xã hội không còn là định hướng mà đã trở thành hiện thực. Vì nhân dân cả nước đều có nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, nên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mang đặc điểm là chủ nghĩa xã hội thời chiến.
+Chủ nghĩa xã hội thời chiến có những đặc điểm giống và khác với chủ nghĩa xã hội thời bình.
+Xây dựng chủ nghĩa xã hội , Đảng ta không chỉ vận dụng quy luật của bản thân chủ nghĩa xã hội mà còn cả quy luật của chiến tranh cách mạng .
+Nhìn chung 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội thời chiến, miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn:
#Miền Bắc đánh bại hai lần chiến tranh phá hoại rất ác liệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.
#Miền Bắc đã làm tròn nhiệm vụ với tiền tuyến lớn miền Nam và nghĩa vụ quốc tế, đảm bảo đời sống tối thiểu cho nhân dân để tiến hành kháng chiến lâu dài.
#Trong khi chăm lo xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung trí tuệ chỉ đạo cách mạng miền Nam, từ xây dựng lực lượng chính trị , vũ trang đến xây dựng chế độ mới ở vùng căn cứ, vùng giải phóng....
#Đảng đã huy động lực lượng ở miền Bắc phục vụ miền Nam.
#Sức mạnh của cách mạng miền Nam là sức mạnh của chế độ mới, sức mạnh tại chỗ và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội thời chiến dội vào.
-Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những thành tựu miền Bắc xã hội chủ nghĩa giành được là thắng lợi của đường lối do Đảng vạch ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960).
a.Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội – từ năm 1975 trở đi.
-Đường lối chiến lược được thể hiện ở hình thái mới: Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập thì dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền là một. Đại hội lần thứ VII của Đảng nêu quyết tâm: Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội . Bởi vì, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc .
-Độc lập dân tộc là mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc , là tiền đề và điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Kinh nghiệm lịch sử cho thấy: sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc đều gắn liền trực tiếp với giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền của mỗi quốc gia ấy. Sống trong độc lập dân tộc là nguyện vọng của mọi người trong cộng đồng dân tộc . Nhưng “độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Mọi người đều được ấm no hạnh phúc, thì chỉ có con đường xã hội chủ nghĩa.
-Chủ nghĩa xã hội là đảm bảo chắc chắn và bền vững nhất cho nền độc lập của dân tộc .
-Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra.
-Thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về mọi mặt.
Để thực hiện quyết tâm đó, việc làm đầu tiên của Đảng là đánh giá một cách khách quan những thuận lợi và khó khăn của tình hình đất nước và tình hình thế giới. Đảng phải mất một thời gian dài mới đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước và phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt Nam (9/1960) đã quyết định đường lối cách mạng chung của cả nước:
“Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”
Trong đó mỗi chiến lược cách mạng ở mỗi miền giữ một vị trí quan trọng khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.Vị trí
-Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò “quyết định nhất” đối với sự phát triển toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.
-Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò “quyết định trực tiếp” đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
1.Mối quan hệ.
Tuy hai chiến lược cách mạng nói trên giữ vị trí quan trọng khác nhau nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau.
-Cuộc cách mạng miền Nam, trước hết là để giải phóng nhân dân miền Nam thoát khỏi sự thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ , góp phần bảo vệ miền Bắc, tạo điều kiện cho miền Bắc tiến hành thắng lợi sự nghiệp cải tao và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
-Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, trước hết là xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc ngày càng vững mạnh. Miền Bắc có vững mạnh mới đủ sức đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, mới có điều kiện để chi viện sức người, sức của ngày càng lớn cho cách mạng miền Nam.
-Sự gắn bó chặt chẽ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền cùng nhằm một mục tiêu chung là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.
Thành tựu và yếu kém.
a.Thành tựu
Công cuộc đổi mới 10 năm (từ 1986-1996) đã thu được những thành tựu to lớn:
-Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế , hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm
+Trong 5 năm 1991-1995, nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8.2% (kế hoạch là 5.5-6.5%), về sản lượng công nghiệp là 13,3%, sản xuất nông nghiệp 4,5%, kim nghạch xuất khẩu 20%.
+Cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi: tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 22,6% năm 1990 lên 29,1% năm 1995; dịch vụ từ 38,6% lên 41,9%.
+Bước đầu có tĩnh luỹ từ nội bộ nền kinh tế . Vốn đầu tư cơ bản toàn xã hội năm 1990 chiếm 15,8% GDP, năm 1995 là 27,4% (trong đó nguồn đầu tư trong nước chiếm 16,7% GDP)
+Lạm phát từ mức 67,1% năm 1991 giảm xuống còn 12,7% năm 1995.
+Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất . Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng .
-Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt xã hội .
+Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện .
+Mỗi năm thêm hơn 1 triệu lao động có việc làm. Nhiều nhà ở và đường giao thông được nâng cấp và xây dựng mới ở cả nông thôn lẫn thành thị.
+Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên.
-Giữ vững ổn định chính trị , củng cố quốc phòng an ninh, tạo lập môi trường hoà bình và điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới.
-Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị .
+Trên cơ sở Cương lĩnh, đã từng bước cụ thể hoá đường lối đổi mới trên các lĩnh vực, củng cố Đảng về chính trị, tư tưởng, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xã hội.
+Đã ban hành Hiến pháp mới năm 1992 và nhiều văn bản pháp luật khác.
+Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước .
+Từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội , phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế , xã hội , chính trị , tư tưởng văn hoá.
-Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận , tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế.
Đến năm 1996, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với trên 160 nước.
a.Yếu kém.
Trong khi đánh giá đúng thành tựu, chúng ta cũng cần thấy những khuyết điểm và yếu kém.
-Nước ta còn nghèo và kém phát triển .
-Tình hình xã hội còn nhiều vấn đề phải giải quyết.
-Việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng.
1.Đánh giá tổng quát.
Từ những thành tựu và yếu kém nói trên , Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã đánh giá tổng quát:
-Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế –xã hội .
-Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành, cho phép chuyển snag thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .
-Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.
-Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy trong quá trình thực hiện có một số khuyết điểm, lệch lạc lớn và kéo dài dẫn đến chệch hướng ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, ở mức độ này hay mức độ khác.
I.Hoàn cảnh lịch sử và nội dung của Luận cương chính trị: Xem câu 7 1So sánh
Giống nhau
Luận cương chính trị và Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đều nêu ra mục đích, tính chất của cách mạng trong giai đoạn đầu là làm cách mạng tư sản dân quyền (tức là cách mạng dân tộc dân chủ) với hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến , nhằm thực hiện độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho nông dân . Cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ lập ra nhà nước công nông sau đó chuyển thẳng sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa; giai cấp công nhân và giai cấp nông dân là hai động lực chính của cách mạng , trong đó giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam liên kết mật thiết với giai cấp vô sản các nước và các dân tộc thuộc địa.
Sự khác nhau
-Luận cương chính trị:
+Chưa xác định rõ mâu thuẫn chủ yếu của một xã hội thuộc địa nên không nêu được vấn đề dân tộc lên hàng đâù mà nặng về đấu tranh giai cấp , về vấn đề cách mạng ruộng đất.
+Đánh giá không đúng khả năng cách mạng , mặt tích cực , tinh thần yêu nước của các giai cấp, tầng lớp khác ngoài công nông trong cách mạng giải phóng dân tộc .
+Chưa thấy được sự phân hoá trong giai cấp địa chủ phong kiến , nên không đề ra được vấn đề lôi kéo một bộ phận giai cấp đia chủ trong cách mạng giải phóng dân tộc .
+Xác định được con đường tiến lên giành chính quyền phải là con đường cách mạng bạo lực quần chúng.
-Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt.
+Xác định được mâu thuẫn của xã hội và đã đề ra hai nhiệm vụ cách mạng, đó là: chống đế quốc và tay sai và giành độc lập tự do cho toàn thể nhân dân.
+Vận động thu phục cho bằng được sự tham gia của đông đảo giai cấp công nhân và nông dân.
+Đảng hết sức lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông đi về phía giai cấp vô sản, lôi kéo các lực lượng khác tham gia giai cấp vô sản nếu có thể, còn những lực lượng chống đối thì đánh đổ.
Chủ trương, biện pháp của Đảng.
-Đảng xác định:
+Cuộc cách mạng Đông Dơng lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng ,khẩu hiệu đấu tranh vẫn là “Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết!”
+Kẻ thù chính của cách mạng lúc này là thực dân Pháp xâm lược.
+Nhiệm vụ của nhân dân cả nớc ta lúc này là phải củng cố chính quyền , chống thực dân Pháp xâm lợc, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân.
-Để thực hiện các nhiệm vụ đó cần phải:
+Về nội chính: Xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, thành lập Chính phủ chính thức, lập Hiến pháp, trừng trị bọn phản động chống đối hiện hành, củng cố chính quyền nhân dân .
+Về quân sự: Động viên lực lợng toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài.
+Về ngoại giao: Kiên trì các nguyên tắc “bình đẳng, tơng trợ” thêm bạn, bớt thù; thực hiện khẩu hiệu “Hoa-Việt thân thiện” đối với quân Tởng Giới Thạch và chủ trơng “độc lập về chính trị , nhân nhợng về kinh tế” đối với Pháp.
Những chủ trương nêu trên của Đảng đã giải quyết kịp thời nhiều vấn đề quan trọng về chỉ đạo chiến lợc và sách lợc cách mạng trong tình thế mới vô cùng phức tạp và khó khăn của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà vừa mới khai sinh.
-Biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên :
-Về kinh tế:
+Tổ chức cứu đói và đề phòng nạn đói cho dân. Trong phiên họp đầu tiên ngày 3-9-1945, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời đã bàn về biện pháp chống đói. Nhiều biện pháp nh tổ chức lạc quyên, lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm” để góp gạo cứu đói: không dùng gạo, ngô, khoai sắn nấu rợu...
+Biện pháp cơ bản lâu dài là tăng gia sản xuất. Và các phong trào đua tranh tăng gia sản xuất dấy lên khắp ở các địa phơng.
+chính phủ cách mạng ra Sắc lệnh số 11, bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ cũ, ra thông t giảm tô 25%.
Kết quả: Đã đẩy lùi đợc nạn đói. Đời sống nhân dân , đặc biệt là đời sống nông dân đợc cải thiện một bớc.
-Về tài chính
+Chính phủ ra sắc lệnh về “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân để “giữ vững nền độc lập của Tổ quốc”.
+Chính phủ ra Sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam để thay thế giấy bạc Đông Dơng. Khó khăn về tài chính dần đợc khắc phục.
-Về văn hoá, giáo dục.
+Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập cơ quan bình dân học vụ, phát động phong trào xoá mù chữ. Kết quả các trờng tiểu học, trung học phát triển mạnh, bớc đầu có đổi mới theo tinh thần độc lập dân chủ.
+Xây dựng đạo đức mới với nội dung “cần-kiệm-liêm-chính” , bài trừ các tệ nạn xã hội cũ nh: cờ bạc, rợu chè, hủ tục ra khỏi đời sống xã hội.
-Về chính trị-quân sự.
+Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh về cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội.
+Ngày 6-1-1946, Tổng quyển cử bầu cử Quốc hội: 89% cử tri cả nớc hăng hái đi bỏ phiếu bầu Quốc hội.
+333 đại biểu đợc bầu vào Quốc hội đầu tiên của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.
+Ngày 2-3-1946, Quốc hội khoá I họp phiên đầu tiên, thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp chính thức do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
+Ngày 9-11-1946 Hiến pháp đầu tiên của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà chính thức công bố.
+Việc xây dựng lực lợng vũ trang nhân dân cũng đợc chú trọng khắp nơi trên đất nớc.
-Bài trừ nội phản: Đối với tổ chức phản cách mạng dùng khẩu hiệu “Đoàn kết chống thực dân Pháp xâm lợc, phản đối chia rẽ để vạch mặt phá hoại của chúng”.
-Đấu tranh chống ngoại xâm: Thực hiện nguyên tắc ngoại giao “Bình đẳng tơng trợ, thêm bạn, bớt thù”. Đối với quân đội Tởng thực hiện “Hoa-Việt thân thiện”
+Trớc ngày 6-3-1946 Đảng ta đã có sách lợc hoà hoãn với Tởng và tay sai ở miền Bắc để tập trung lực lợng đánh đuổi Pháp ở miền Nam. Đối với Tởng, ta chủ trơng tránh xung đột vũ trang, nhân nhợng chúng một số yêu sách về kinh tế và chính trị : Nhận cung cấp một phần lơng thực, thực phẩm.
+Đối với quân Pháp ở miền Nam: Kiên quyết kháng chiến chống thực dân Pháp; cả nớc ủng hộ Nam Bộ kháng chiến với các phong trào “Nam Tiến”, “ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”.
+Ngày 28-2-1946 Pháp và Tởng ký hiệp ớc Hoa-Pháp, Pháp sẽ thay thế quân Tởng giải giáp quân Nhật ở miền Bắc nên đã đặt nhân dân ta vào hai con đờng: một là: cầm vũ khí chiến đấu chống thực dân Pháp; hai là: hoà hoãn nhân nhợng Pháp để tránh tình trạng đối phó với nhiều kẻ thù một lúc, đẩy 20 vạn quân Tởng ra khỏi miền Bắc, tranh thủ thời gian củng cố lực lợng cách mạng.
+Chiều 6-3-946, ta đã ký Hiệp định sơ bộ với Pháp
Qua đó, việc ký Hiệp định sơ bộ là một trủ chơng sách lợc đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Hồ Chí Minh. Ta đã loại trừ đợc một kẻ thù nguy hiểm là quân Tởng và tay sai của chúng ra khỏi nớc ta. Tranh thủ thời gian hoà bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng , chuẩn bị lực lợng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau.
Sáu mươi lăm năm đã rồi qua kể từ ngày ĐCS VN ra đời. So với lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc, đây chỉ là khoảng thời gian rất ngăn ngủi. Nhưng chính trong thời gian này, trải qua một quá trình đấu tranh liên tục, sôi động và vô cùng oanh liệt chống lại nhiều kẻ thù xâm lược khác nhau. Chúng đều là những tên đế quốc hùng mạnh nhất thế giới, ttrong đó có tên đầu sỏ là đế quốc Mỹ. Nhân dân VN dưới sự lãnh dạo của ĐCS VN đã giành được những thắng lợi vĩ đại, làm cho bộ mặt của đất nước, của dân tộc hoàn toàn thay đổi.
Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 thành công đã lật nhào ách thống trị 80 năm của đế quốc phát xít Pháp-Nhật, lập nên nước VN dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đảng Nam á. Cách mạng tháng Tám là một sự kiện trọng đại có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình lịch sử của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên cộng hoà xã hội. Không những thế, đó còn là sự kiện tiêu biểu cho xu thế thời đại xu thế cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với sự phát triển xã hội theo định hướng tiến bộ, định hướng XHCN.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2 đã bảo vệ được nước VN dân chủ cộng hoà-thành quả cuộc cách mạng tháng Tám, giải phóng miền Bắc, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên nử nước và tạo điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp ở nước ta cũng mang ý nghĩa thời đại sâu sắc. nếu cách mạng tháng Tám 1945 đã đặt cột mốc mở đầu quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới, thì cuộc kháng chiến chống Pháp mà đỉnh cao nhất là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã cắm thêm cột mốc mới, cột mốc sụp đổ hoàn toàn không có gì cứu vãn nổi của quá trình đó
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 20 năm để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc kết thúc thắng lợi huy hoàng bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm cho Tổ quốc VN từ đây được vĩnh viễn độc lập, vĩnh viễn thống nhất. Thắng lợi vĩ đại này kết thúc hoàn toàn cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước và mở một giai đoạn cách mạng mới, gai doạn cả nước độc lập và thống nhất, tiến lên theo định hướng XHCN. Thắng lợi này còn có ý nghĩa quốc tế to lớn, nó đã đập tan cuộc phản kích lớn nhất của Mỹ,tên đế quốc đầu sỏ thế giới chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II, giáng đòn thất bại đầu tiên vào chủ nghĩa thực đân mới do Mỹ ra sức áp đặt cho các nước chậm phát triển để thay cho chủ nghĩa thực dân cũ vừa bị sụp đổ, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ . vì sự cống hiến rất có ý nghĩa này mà bạn bè ở khắp năm châu đã ca ngợi cuộc kháng chiến chống Mý của nhân dân VN như “một tấm gương sáng chói cho phong trào giải phóng dân tộc và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới”
Từ năm 1975 lại đây, nhân dân cả nước ta đang cùng nhau tập trung công sức để khôi phục và xây dựng lại đất nước theo định hướng XHCN đã lựa chọn từ lâu. cuộc đấu tranh mới này không dẽ dàng thuật lợi, trái lại đầy trở ngại khó khăn. mặc dù vậy, cách mạng nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn trong khôi phục kinh, khắc phục hậu quả chiến tranh, trong cải tạo và xây dựng đất nước, trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh, trong việc làm nghĩa vụ quốc tế. điều vui mừng là qua những sai lầm và vấp váp, qua tìm tòi nghiên cứu và khảo nghiệm, Đảng ta đã hiểu rõ hơn nhưng quy luât5j vận động đi lên theo định hướng XHCN của đất nước mình từ một nền sản xuất nhỏ và do đó đã có sự đổi mới mạnh mẽ trong đường lối lãnh đạo, sự đổi mới này được thực hiện 10 năm qua kiểm nghiệm là đúng, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội để tiến lên vững chắc
#Những bài học kinh nghiệm lịch sử của Đảng
Tổng kết kinh nghiệm là một mặt của hoạt động lý luận mà ĐCSVN rất chú trọng. Như Đảng từng chỉ rõ, tổng kết kinh nghiệm là “một phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, đem lý luận phân tích thực tiễn, từ phân tích thực tiễn mà rút ra lý luận. đó là một phương pháp tốt để nâng cao trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên và cũng là một phương pháp tốt để khắc phục những xu hướng giáo điều chủ nghỉa và kinh nghiệm chủ nghỉa” trong và sau mỗi thời kỳ vận động cách mạng và nhất là vào các dịp đại hội của Đảng kể từ đại hội lần thứ III trở đi, Đảng đều chú trọng tổng kế thực tiễn và rút ra nhiều bài học kinh nghiệm, lý luận bổ ích . để cương này chỉ nêu lên một số bài học kinh nghiệm lịch sử lớn có giáảtị lý luận, thực tiễn và thiết thực đối với giai đoạn cách mạng hiện nay
*Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
-cơ sở lý luận của bài học
mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp, vấn đề dân tộc do một giai cấp tiên phong đại diện. Mối quan hệ con đường giải phóng dân tộc và giải phong giai cấp công nhân được Đảng ta phối hợp rất hài hoà “chỉ có giải phóng được giai cấp vô sản thì mới giải phóng dân tộc cả 2 cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới” (HCM). “muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (HCM). Giành độc lập dân tộc đi lên CNXH là một tất yếu khách quan của đất nước ta
ý nghĩa : là bài học lớn có tổ chức bao chùm lịch sử cách mạng VN. Là sợi chỉ đỏ suất toàn bộ cách mạng VN từ khi có Đảng đoàn kết toàn dân để giành thắng lợi. Giải phóng một loạt những vấn đề cơ bản chiến lược sách lược trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong CMXHCN . khơi dậy sức mạnh quá khứ hiện tại tương lai, kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại tạo lên sức mạnh tổng hợp to lớn cho cách mạng VN
*tăng cường đoàn kết dân tộc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
-cơ sở lý luận CN Mác-Lê Nin và tư tưởng HCM về vấn đề lực lượng cách mạng muốn cách mạng thắng lợi làm thế nào phải tập hợp được lực lượng
-nội dung là lấy sức ta giải phóng cho ta
-đứng vững trên lập trường của giai cấp vô sản. tôn trong nguyên tắc lấy dân làm gốc, nêu cao ý thức tự lực tự cường
-tranh thủ hợp tác quốc tế
*sự lãnh đạo đúng đắn của đảng
-là yếu tố hàng đầu đảm bảo mọi thắng lợi của CM VN
-dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng VN giành được những thắng lợi to lớn, đưa cách mạng ta từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
-những thắng lợi to lớn nói trên đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng
+Đảng là đội tiên phong, tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân, dân tộc VN
+lấy chủ nghĩa Mác-tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động
+là người đại diện trung thành và đầy đủ nhất lợi ích chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc VN
+Đảng có một mục tiêu duy nhất phục vụ tổ quốc và nhân dân
+truyền thống đoàn kết, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ tự phê bình và phê bình, tăng cường kỉ luật, chống độc đán quan liêu
+mối liên hệ máu thịt với quần chúng, được nhân dân che chở trong những lúc hiểm nguy
*đổi mới Đảng
-đổi mới tư duy, lý luận, nhận thức lại CNXH vai trò của 1 Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân xây dựng CNXH
-tăng cường điều kiện thống nhất trong đảng, phát huy dân chủ trong Đảng
-giải quyết mối quan hệ giữa Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị -xã hội trong hệ thống chính trị
-làm trong sạch đội ngũ đảng viên, phát huy tối đa các Đảng cơ sở
-đổi mới công tác cán bộ của Đảng
Chuẩn bị về mặt tư tưởng, chính trị :
Quá trình vận động thành lập Đảng là 1 quá trình đấu tranh và chuẩn bị lâu dài, toàn diện của NAQ và những người cách mạng VN. Trong đó người có vai trò quan trọng hàng đầu, lớn nhất là lãnh tụ NAQ.
Sau khi trở thành người cộng sản, NAQ tích cực chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng.
- Từ năm 1920 - 6/1923, tại Pháp, NAQ hoạt động trong ĐCS Pháp. Người viết nhiều sách, báo : ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ), đặc biệt là tác phẩm “Bản chế độ thực dân Pháp”… tập trung lên án chủ nghĩa thực dân và thực dân Pháp, vạch trần bản chất xâm lược, phản động, bóc lột, đàn áp tàn bạo của chúng, thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí phản kháng của các dtộc thuộc địa.
-Từ tháng 6/1923 đến tháng 12/1924 : tại Liên Xô (tháng 6/1923, NAQ sang LX), Người có dịp tìm hiểu về kinh tế, chính trị, xã hội của nước Nga Xô viết. Người hoạt động trong Quốc tế cộng sản, tham gia nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng, học tập nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin và kinh nghiệm tổ chức Đảng kiểu mới của Lênin.
-Tháng 12/1924 NAQ về Quảng Châu (TQ) để trực tiếp chuẩn bị thành lập ĐCSVN. Trong thời kỳ từ 1925 đến 1926, trong cao trào cách mạng ở TQ và được sự giúp đỡ của Phái bộ cố vấn LX tại Nam TQ, người đi vào tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
-Đầu năm 1925, để có tài liệu giảng dạy, NAQ biên soạn tập đề cương bài giảng. Tập đề cương bài giảng đó được Bộ Tuyên truyền của Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản thành sách vào đầu năm 1927 với nhan đề là Đường cách mệnh.
Nd Đường cách mệnh : Đi sâu vạch rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân; Con đường đi lên của CM VN là làm cuộc CM giải phóng dân tộc, hướng lên CNXH; Mối quan hệ giữa CM chính quốc và CM thụôc địa; công nông là chủ, là gốc của CM; quyền lực thụôc về nhân dân; VN phải thực hiện sự liên minh, đoàn kết với các lực lượng cách mạng thế giới; Cách mạng muốn thắng lợi trước hết phải có ĐCS lãnh đạo và Đảng đó phải lấy CN Mác- Lênin làm hệ tư tưởng và vận dụng học thuyết đó vào VN.
Tư tưởng của NAQ đựơc truyền bá vào VN đầu thế kỷ XX, hướng cho các phong trào giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời của ĐCSVN.
Chuẩn bị về mặt tổ chức :
Năm 1921, NAQ cùng một số nhà cách mạng ở các nước thuộc địa Pháp lập ra Hội liên hiệp các dân tộc thụôc địa nhằm tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa thực dân, nhằm thức tỉnh dân tộc, tố cáo chủ nghĩa thực dân, kêu gọi đoàn kết đấu tranh cách mạng trong nhân dân thuộc địa.
Năm 1924, NAQ tới Quảng Châu-TQ. Người đã cùng những nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia … thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.
Tháng 6/1925, NAQ thành lập Hội VN Cách mạng Thanh niên (nòng cốt là Cộng sản Đoàn), ra báo Thanh niên để huấn luyện cán bộ, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở VN. Đây là tổ chức tiền thân của Đảng để tập hợp các lực lượng cách mạng, chuẩn bị cho một Đảng kiểu mới của cách mạng VN ra đời.
Thông qua hoạt động của Hội VN Cách mạng Thanh niên và tác phẩm Đường cách mệnh, phong trào cách mạng trong nước phát triển sôi nổi. Những điều kiện để thành lập Đảng Mácxit đã dần hình thành. Hội VN Cách mạng Thanh niên không còn phù hợp nữa. Kết quả là sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản : Đông Dương cộng sản Đảng (6/1929), An Nam cộng sản Đảng (7/1929), Đông Dương cộng sản liên đoàn (1/1930).
Một yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải thống nhất những người cộng sản VN trong 1 Đảng duy nhất. NAQ đã đảm nhận trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản. NAQ đã chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Cửu Long-Hương Cảng- Trung Quốc, thành lập 1 ĐCS duy nhất ở VN, ngày 3/2/1930 ĐCSVN ra đời. Hội nghị thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của NAQ nhân dịp thành lập Đảng.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, có ý nghĩa như 1 Đại hội thành lập Đảng. Hội nghị đã đáp ứng đòi hỏi bức thiết của phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở VN lúc bấy giờ.
Thành quả lớn nhất mà Hội nghị mang lại cho đất nước là đã quy tụ toàn bộ phong trào công nhân và phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của 1 đội tiên phong duy nhất của CM, với đường lối CM đúng đắn, dẫn tới sự thống nhất về tư tưởng và hành động của phong trào CM cả nước.
ĐCSVN là mốc đầu tiên xây dựng truyền thống đoàn kết, nhất trí của Đảng và là đk cơ bản, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình phát triển của cách mạng VN từ đó về sau. ĐCSVN ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cụôc khủng hoảng về đường lối cứu nước trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
ĐCSVN ra đời ĐCSVN ra đời là biểu hiện sự xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng nước ta. Đảng là sự kết hợp giữa CN Mac – Lenin và tư tưởng HCM với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN.
ĐCSVN ra đời đã mở đầu 1 thời đại mới trong lịch sử nước ta, khẳng định quá trình từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác – thời đại mà nhân dân VN không chỉ làm nên lịch sử vẻ vang của mình mà còn góp phần vào sự nghiệp chung của các dân tộc bị áp bức, xóa bỏ hệ thống thụôc địa của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập và tiến bộ xh.
ĐCSVN ra đời, cách mạng VN trở thành 1 bộ phận của cách mạng thế giới.
Đánh giá sự kiện ĐCSVN ra đời, sau này Chủ tịch HCM viết :”Việc thành lập Đảng là 1 bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng VN nước ta. Nó chứng tỏ rằng, giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.
Sự ra đời của ĐCSVN gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch HCM-người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng.
Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng (từ ngày 3-7/2/1930) thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi của đồng chí NAQ. Đây là Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Đảng ta. Cương lĩnh có những nội dung cơ bản sau :
-Về phương hướng và mục tiêu cách mạng VN : Đảng “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xh xộng sản”.
-Nvụ của CM tư sản dân quyền : đánh đổ CN đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước VN được hoàn toàn độc lập. Dựng ra chính phủ công-nông-binh, thâu hết sản nghiệp lớn của tư bản đế quốc Pháp để giao cho chính phủ công-nông-binh quản lý; tịch thu rụông đất của bọn đế quốc phong kiến làm của công và chia cho dân cày nghèo.
-Về lực lượng CM : Đảng chủ trương đkết tất cả các giai cấp, các tầng lớp, các ll tiến bộ, các cá nhân yêu nước, trước hết là công nông và làm cho giai cấp công nhân đủ sức lãnh đạo CM. Trong khi thực hiện sự liên lạc tạm thời với các giai cấp, tầng lớp khác không đựơc thỏa hiệp giai cấp.
-Về đoàn kết quốc tế : Cương lĩnh khẳng định, cách mạng VN là một bộ phận của cách mạng thế giới; phải liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản thế giới.
-Về Đảng : Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng.
Những nội dung trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã đặt ra và giải quyết những vấn đề cơ bản, cấp bách và định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển cách mạng VN. Tinh thần cơ bản của nó là đoàn kết toàn dân, chống đế quốc Pháp thống trị, giành độc lập, hướng tới XH CS.
Tuy nhiên sự phát triển ngày càng cao của cách mạng đòi hỏi Đảng phải có một cương lĩnh đầy đủ, toàn diện hơn.
Tháng 10/1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất tại Hương cảng (Trung Quốc) đã họp và thông qua bản “Luận cương chính trị” do đồng chí Trần Phú khởi thảo với những nội dung chính :
-Xác định mâu thuẫn : ở Đông Dương, mâu thuẫn giữa 1 bên là thợ thuyền, dân cày, các phần tử lao khổ với 1 bên là địa chủ, phong kiến và tư bản đế quốc.
-Tính chất cách mạng Đông Dương : lúc đầu là 1 cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó bỏ qua thời kì TBCN chuyển sang thời kì cách mạng XHCN.
-Nvụ CM tư sản dân quyền : đánh đổ phong kiến và CN đế quốc. Hai nhiệm vụ đó có mối quan hệ mật thiết trong đó vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền.
-Về ll CM : gc vô sản và gc nông dân là 2 động lực chính, trong đó, gcấp vô sản lđạo CM.
-Về phương pháp cách mạng : Luận cương chỉ rõ phải sử dụng bạo lực cách mạng, khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền.
-Về đoàn kết quốc tế : Luận cương nhấn mạnh, phải liên lạc mật thiết với vô sản thế giới, nhất là vô sản Pháp.
-Về Đảng : sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cốt yếu đảm bảo cho sự thắng lợi của CM. Đảng đó phải lấy CN Mác-Lênin làm nền tảng, có đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, trưởng thành từ trong thực tiễn đấu tranh. Qua nd trên, Luận cương đã có những đóng góp qtrọng về đường lối chiến lược, sách lược CM, từ CM TS dân quyền tiến lên CNXH, chống đế quốc, chống phong kiến, chỉ rõ ll chủ lực CM là công nhân và nông dân, xác định rõ vai trò lãnh đạo của ĐCS. Tuy vậy, so với Cương lĩnh CM đầu tiên của Đảng, Luận cương ctrị có một số hạn chế, đó là : xác định không đúng mâu thuẫn chủ yếu của xh thụôc địa, do đó không đặt nvụ giải phóng dtộc lên hàng đầu. Trong khi nhấn mạnh vai trò của công-nông, chưa chú ý đến vị trí, vai trò và khả năng CM của giai cấp, tầng lớp khác và sự cần thiết của việc đkết dân tộc, chống đế quốc.
Những hạn chế này đã đựơc Đảng từng bước khắc phục ở các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tiếp theo.
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 6 (11/1939) :
Tháng 11/1939, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 họp tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định), do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Nd chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược CM như sau :
Hội nghị nhận định : trong điều kiện lịch sử mới, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách của cách mạng Đông Dương và xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương là chủ nghĩa đế quốc và tay sai phản bội dân tộc.
Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu “cách mạng ruộng đất” và đề ra khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống lãi nặng”.
Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu “lập chính quyền Xô viết công-nông-binh”, thay bằng khẩu hiệu “lập chính quyền cộng hoà dân chủ”, hình thức nhà nước chung cho tất cả các tầng lớp dân chúng và phong trào giải phóng dân tộc.
Hội nghị chủ trương tập hợp mọi lực lượng chống đế quốc và tay sai, thu hút tất cả các dân tộc, các giai cấp, đảng phái và cá nhân yêu nước ở Đông Dương nhằm chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phátxít, giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, thay cho Mặt trận dân chủ.
Lực lượng chính của Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương là công nhân, nông dân đoàn kết với các tầng lớp tiểu tư sản thành thị và nông thôn do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Về pp CM, Hội nghị bứơc đầu nêu ra 1 số chuyển hướng về tổ chức, vừa xd những tổ chức hợp pháp, đơn giản, rộng rãi, vừa xd các đoàn thể quần chúng cách mạng… Hội nghị đã quyết định các chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt, phải mật thiết liên hệ quần chúng nhân dân… Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 7 (11/1940) :
Tháng 11/1940, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy của Đảng đã họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh). Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Trần Đăng Ninh.
Hội nghị khẳng định nhiệm vụ trước mắt của Đảng là chuẩn bị lãnh đạo cuộc “võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”.
Hội nghị nhận định cuộc chiến tranh thế giới càng lan rộng và ác liệt, đế quốc Pháp đã bị bại trận, phát xít Nhật sẽ nhân cơ hội này mở rộng chiến tranh cướp lấy các thụôc địa của Pháp, Mỹ, Anh ở Viễn Đông. Cuộc chiến tranh đế quốc rất có thể chuyển thành chiến tranh giữa phát xít và Liên Xô. Bọn đế quốc hiếu chiến sẽ mau chóng bị Hồng quân Liên Xô và cách mạng thế giới tiêu diệt.
Hội nghị nhận định, từ khi Pháp-Nhật cấu kết với nhau áp bức, bóc lột nhân dân ta, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp-Nhật ngày càng trở nên sâu sắc. Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập.
Hội nghị khẳng định : chủ trương chuyển hướng về chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu cách mạng ruộng đất của Hội nghị Trung ương Đảng năm 1939 là đúng.
Hội nghị nhận định, kẻ thù chính của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ là phát xít Pháp- Nhật. Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương là Mặt trận dân t5ôc thống nhất chống phát xít Pháp-Nhật ở Đông Dương.
Hội nghị đã cử ra Ban chấp hành Trung ương lâm thời, đồng chí Trường Chinh đựơc phân công làm quyền Bí thư Trung ương Đảng. Hội nghị cũng quyết định chắp mối liên lạc với Quốc tế Cộng sản và bộ phận Đảng ở nước ngoài.
Hội nghị đã thảo luận và quyết định hai vấn đề cấp thiết trước mắt :
+Duy trì, phát triển lực lượng vũ trang Bắc Sơn, thành lập những đội du kích, dùng hình thức vũ trang công tác, khi cần thì chiến đấu chống khủng bố, bảo vệ sinh mạng tài sản của nhân dân...
+Hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vì ở miền Nam chưa có đủ điều kiện bảo đảm cho khởi nghĩa thắng lợi. Đặt vấn đề khởi nghĩa nam Kỳ vào chương trình nghị sự.
Hội nghị đã có chủ trương đúng về hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ.
Hội nghị : Ban chấp hành Trung ương 8 (5/1941) :
Tháng 5/1941, NAQ chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng tại Pắc Bó (Cao Bằng). Về tình hình quốc tế : Hội nghị nhất trí với những đánh giá của các Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11/1939 và tháng 11/1940. Hội nghị đã phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất cụôc Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh thế giới đã gây ra nhiều tai họa cho nền văn minh của xã hội loài người, nhưng kết quả lớn nhất là, nếu tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô-một nước XHCN, thì cuộc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước XHCN, do đó mà cách mạng nhiều nứơc thành công.
Về tình hình Đông Dương : Hội nghị nhận định từ khi bùng nổ chiến tranh, các tầng lớp nhân dân Đông Dương đều bị điêu đứng, quyền lợi tất cả các giai cấp đều bị cướp giật.
Căn cứ sự phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc. “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Về tình hình của cuộc cách mạng : Hội nghị chỉ ra : cụôc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cụôc cách mạng phải giải quyết 2 vấn đề phản đế và điền địa nữa, mà là cụôc cách mạng chỉ phải giải quyết 1 vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vì vậy cụôc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cụôc cách mạng dân tộc giải phóng.
Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu “tịch thu rụông đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”
Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp-Nhật, “sẽ thành lập 1 Chính phủ nhân dân của VN dân chủ cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.
Vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất : Căn cứ vào điều kiện cụ thể của cách mạng VN, Lào, Campuchia, theo đề nghị của đồng chí NAQ, Hội nghị chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước VN, Lào, Campuchia. Ở VN, Hội nghị chủ trương thành lập mặt trận VN độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh.
Về khởi nghĩa vũ trang : Hội nghị quyết định phải xúc tiến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại.
Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Hội nghị cử ra Ban chấp hành Trung ương Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư.
Nguyên nhân thắng lợi :
Nguyên nhân khách quan :
CMT8 nổ ra trong bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi: kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát xít Nhật đã bị Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế giới đánh bại. Bọn Nhật và tay sai ở Đông Dương đã tan rã. Đảng ta đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng.
Nguyên nhân chủ quan:
CMT8 là thắng lợi lớn nhất trong suốt 15 năm đấu tranh của dtộc ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, trải qua 3 cao trào cách mạng : Cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Qua thực tiễn đấu tranh, Đảng đã từng bước xây dựng chính trị hùng hậu, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố chủ yếu nhất quyết định thắng lợi của CMT8-1945.
Thắng lợi CMT8 là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp đúng đắn 2 nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc là chủ yếu nhất.
Thắng lợi của CMT8 chủ ýêu và trước hết là thắng lợi của đạo quân chủ lực cách mạng là công nhân và nông dân. CMT8 là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân trong cả nước.
Thắng lợi của CMT8 còn là thắng lợi của chủ trương lợi dụng những mâu thuẫn trong hàng ngũ của kẻ thù.
Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.
Thắng lợi của CMT8 là thắng lợi của nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chọn đúng thời cơ. Thắng lợi của CMT8 là kết quả của những năm trực tiếp lãnh đạo của Đảng, là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin đựơc vận dụng ngày càng phù hợp với hoàn cảnh VN, là thắng lợi của tư tưởng HCM, thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đi lên CNXH mà Đảng và HCM đã chọn.
Ý nghĩa LS:
Thắng lợi của CMT8 đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân P trong gần 1 thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ hàng mấy nghìn năm và ách thống trị của phát xít N, lập nên nước VNDCCH, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông - Nam Châu Á. nhân dân VN từ thân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập tự do, đứng lên làm chủ vận mệnh của mình.
Thắng lợi của CMT8, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của ls dtộc Vn, đưa dân tộc ta bước vào 1 kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập tự do và CNXH.
Với thắng lợi của CMT8, Đảng ta và nhân dân ta đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của CN Mac-Le; cung cập thêm nhiều kinh nghiệm quý cho phong trào đấu tranh giải phóng dtộc và giành quyền dân chủ.
Thắng lợi của CMT8 chứng tỏ rằng, trong thời đại ngày nay, cụôc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở 1 nước thụôc địa, do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Cộng sản, với đường lối chính trị đúng đắn có thể giành thắng lợi.
Thắng lợi của CMT8 đã hỗ trợ, thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập của các dtộc trên bán đảo ĐD và nhiều nước khác trên TG.
Hoàn cảnh lịch sử :
Tình hình thế giới :
Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, lực lượng đế quốc suy yếu, không còn giữ vị trí ưu thế như trước, CNXH từ 1 nước đang trong quá trình hình thành hệ thống thế giới, lực lượng cách mạng thế giới phát triển mạnh, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ ở châu á, châu Phi và Mỹ La tinh, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong các nước tư bản phát triển cao.
Sự thay dổi tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ 2 đã đưa lại cho phong trào cách mạng các nước thuộc địa và phụ thuộc những thuận lợi căn bản.
*Tình hình trong nước :
Sau CMT8 năm 1945 thắng lợi, cách mạng VN có thuận lợi và khó khăn sau:
Thuận lợi :
Nhân dân ta đã giành được quyền làm chủ đất nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch HCM; rất gắn bó với chế độ mới nên sẵn sàng chiến đấu, quyết tâm bảo vệ thành qủa CMT8.
Đảng đã tích luỹ kinh nghiệm qua 15 năm hoạt động. Lãnh tụ HCM đã trực tiếp lãnh đạo đất nước.
Khó khăn:
Nước ta vẫn cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của chế độ cũ và của những năm chiến tranh.
Giặc đói : đầu năm 1945 vẫn còn hoành hành, gạo trong Nam không chuyển ra Bắc được, vụ mùa không tốt, nạn đói tiếp tục đe dọa.
Giặc dốt : hơn 90% số dân không biết chữ, hạn chế quyền làm chủ của người dân một nước độc lập.
Giặc ngoại xâm :
+Ở miền bắc : Ngày 11-9-1945, 20 vạn quân Tưởng dưới danh nghĩa là quân Đồng minh (kéo theo bọn tay sai) được đem quân vào miền Bắc Đông Dương cho đến vĩ tuyến 160 để tước vũ khí quân Nhật, chúng gây cho ta nhiều khó khăn.
+Ở miền nam : Ngày 6-9-1945 hơn 1 vạn quân Anh dưới danh nghĩa là quân Đồng minh đem quân vào đóng ở phía Nam vĩ tuyến 160 để tước vũ khí quân Nhật, đế quốc Anh đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta ở Nam bộ (ngày 23-9-1945).
Thực dân Pháp vẫn nuôi ý đồ khôi phục nền thống trị ở Đông Dương. 6 vạn quân Nhật đầu hàng Đồng minh vẫn còn trên đất nước ta.
Trên đất nước VN chưa bao giờ có nhiều kẻ thù xâm lược như vậy. Bọn phản cách mạng ở torng nước lại càng lộ mặt làm tay sai cho đế quốc, chống lại Tổ quốc, chống lại đồng bào. Tất cả những khó khăn chồng chất nói trên đã đặt cách mạng nước ta trong tình thế “Tổ quốc lâm nguy! Vận mệnh dân tộc như ngàn cân treo sợi tóc”.
Chủ trương, biện pháp của Đảng :
- Ngày 25/11/1945 BCHTW ra Chỉ thị kháng chiến kiến quốc. TW Đảng xác định :
+ Tính chất của “cuộc CM ND lúc này vẫn là cuộc CM GPDT”, khẩu hiệu đấu tranh vẫn là “Dân tộc trên hết, tổ quốc trên hết”.
+ Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược.
+ Nhiệm vụ của nhân dân ta chủ yếu là phải :củng cố 9 quyền, chống thực dân pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân
- Để thực hiện các nhiệm vụ trên TW đề ra công tác cụ thể:
+Về nội chính : Xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, thành lập chính phủ chính thức, lập Hiến pháp, củng cố chính quyền nhân dân.
+Về QS: động viên lực lượng toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài.
+ Về ngoại giao: kiên trì nguyên tắc “bình đẳng tương trợ”, thêm bạn bớt thù, với quân Tưởng ta chủ trương “Hoa – Việt thân thiện”, với quân Pháp ta chủ trương “độc lập về chính trị nhân nhượng về kinh tế”.
*Biện pháp cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ trên :
-Về kinh tế : Tổ chức cứu đói, đề phòng nạn đói cho dân, tăng gia sản xuất, bải bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ cũ… Vì vậy đã đẩy lùi được nạn đói, đặc biệt là nông dân được cải thiện 1 bước.
-Về tài chính : Chính phủ ra Sắc lệnh về “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm động viên tinh thần tự nguyện đóng góp của nhân dân để “giữ vững nền độc lập của Tổ quốc”. Kết quả nhân dân đã đóng góp rất nhiều vào “Quỹ độc lập”. Quốc hội quyết định lưu hành giấy bạc VN trong toàn quốc thay thế giấy bạc ĐD. Khó khăn về tài chính dần dần đựơc khắc phục.
-Về VH-GD : thành lập cơ quan bình dân học vụ, phát động phong trào xóa nạn mù chữ, vận động “đời sống mới” và bài trừ tệ nạn xh ra khỏi đời sống xh.
-Về Ctrị-quân sự : tăng cường đoàn kết toàn dân, chống thực dân Pháp xâm lược, xd đất nước. Kiên quyết trừng trị bọn phản quốc, tiến hành bầu cử quốc hội, lập chính phủ chính thức, quy định hiến pháp. Việc xd lực lượng vũ trang nhân dân cũng được chú trọng khắp nơi trên đất nước, 1 ptrào luyện tập quân sự, tìm sắm vũ khí diễn ra sôi nổi.
Về đảng và mặt trận việt minh: duy trì hệ thống bí mật nửa công khai của đảng, mở rộng n/ cứu chủ trương CN Mác.
-Bài trừ nội phản : Đối với tổ chức phản cách mạng dùng khẩu hiệu “Đkết chống thực dân P xâm lược, phản đối chia rẽ để vạch mặt phá hoại của chúng”
-Đấu tranh chống ngoại xâm :
+ Sách lược hoà hoãn với Tưởng và tay sai ở mềin Bắc để tranh thủ thời gian tăng cường lực lượng đánh đuổi P ở miền Nam. Đối với Tưởng, ta chủ trương tránh xung đột vũ trang, nhân nhượng chúng 1 số yêu sách về kinh tế và ctrị : nhận cung cấp 1 phần lương thực, thực phẩm cho quân Tưởng; nhận tiêu tiền “quốc tệ” và “quan kim” của quân Tưởng; nhường 70 ghế trong Quốc hội và 4 ghế trong Chính phủ không qua bầu cử cho bọn tay sai of Tưởng.
Ngày 6.3.46 chủ tịch HCM thay mặt chính phủ ta ký với đại diện chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định qui định:
+Pháp phải công nhận VN là nước tự do, có nghị viện, chính phủ, quân đội và tài chính riêng.
+VN đồng ý cho Pháp đem 15000 quân pháp đem quân ra Bắc với điều kiện là 5 năm phải rút hết quân về nước.
+ Hai bên ngừng bắn ở miền Nam để tạo đk cần thếit đi đến ký hiệp định chính thức.
Thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ, việc ký Hiệp định sơ bộ (6-3-1946) là 1 chủ trương sách lựơc đúng đắn của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch HCM.
Ta đã loại trừ được 1 kẻ thù nguy hiểm là quân Tưởng và tay sai của chúng ra khỏi nước ta. Tranh thủ thời gian hoà bình cần thiết để củng cố chính quyền cách mạng, chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp về sau.
Ý nghĩa LS:
Thắng lợi của cuộc kháng chiến bảo vệ và phát triển thành quả của CMT8-1945, chấm dứt ách thống trị của TD P trong gần 1 nửa thế kỷ trên đất nước ta, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, hoàn thành CMDTDCND trên ½ đất nước. CMVN đã chuyển sang 1 giai đoạn mới: giai đoạn tiến hành CNXNCH ở miền Bắc và CMDTDCND ở miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.
Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ các dtộc bị nô dịch vùng lên chống CNĐQ, chống CNTD vì độc lập tự do và dân chủ tiến bộ, báo hiệu 1 thời kỳ sụp đổ từng mảng của hệ thống thuộc địa của CNTD, góp phần tích cực vào tiến trình phát triển của CMTG.
Nguyên nhân thắng lợi:
Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân P và can thiệp Mỹ giành được thắng lợi là do các nhân tố cơ bản sau:
+Có sự lãnh đạo của Đ với đường lối ctrị và quân sự đúng đắn, có khối đoàn kết nhất trí của toàn dân, có mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng. Các đảng viên của Đ đã xung phong gương mẫu, dũng cảm đi đầu trong cuộc chiến đấu.
+Có sự đoàn kết chiến đấu toàn dân được tổ chức, tập hợp trong Mặt trận dtộc rộng rãi – Mặt trận Liên – Việt, dựa trên nền tảng của khối liên minh công nhân, nông dân và trí thức.
+Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc. Đây là lực lượng trực tiếp đóng vai trò quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường.
+Chúng ta có chính quyền dân chủ nhân dân, một chính quyền của dân, do dân, vì dân. Đây là một công cụ sắc bén của Đảng để tổ chức toàn dân kháng chiến và xdựng chế độ mới.
+Có hậu phương ngày càng mở rộng và củng cố về mọi mặt, bảo đảm chi viện ngày càng nhiều sức người, sức của cho mặt trân.
+Có sự liên minh chiến đấu of 3 dtộc VN, Lào, Cam chống kẻ thù chung & được sự đồng tình of các nước XHCN, của các dtộc bị áp bức và các lực lượng hòa bình, tiến bộ trên TG. Những bài học kinh nghiệm:
+Xác định đúng và quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
+Kết hợp chặt chẽ và đúng đắn nhiệm vụ chống ĐQ với nhệim vụ chống Phong kiến, trong đó chủ yếu là nhiệm vụ chống đế quốc.
+Vừa kháng chiến, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng hậu phương ngày càng vững mạnh đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến.
+Quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài chủ động đề ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật quân sự sáng tạo.
+Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chếin tranh.
Sau khi vạch rõ mâu thuẫn chung của cả nước và những mâu thuẫn cụ thể của từng miền, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5–10/9/1960 đã xác định:
Nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là: Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh; thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam châu Á và thế giới.
Đại hội vạch rõ 2 chiến lược cách mạng ở 2 miền:
- Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
- Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước.
Hai chiến lược đó có quan hệ mật thiết và tác động thúc đẩy lẫn nhau, trước hết nhằm phục vụ mục tiêu chung của cách mạng cả nước là: thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc, giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng.
Vị trí, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng mỗi miền:
Miền Bắc là căn cứ địa cách mạng chung của cả nước; cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.
Cách mạng miền Nam có vị trí rất quan trọng. Nó có tác dụng quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, cùng cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Mối quan hệ giữa cách mạng hai miền:
- Hai chiến lược cách mạng tuy có vị trí khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng, quy định và tác động lẫn nhau, nên phải tiến hành đồng thời. Cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước; cho nên có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ sau tháng 7/1954 đến tháng 5/1975 chứng minh đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền của Đảng Lao động Việt Nam là đúng đắn và sáng tạo, thể hiện tính nhất quán của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được Đảng đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
Một Đảng thống nhất lãnh đạo một nước tạm thời chia cắt làm đôi, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau, đó là đặc điểm lớn nhất, cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta từ tháng 7/1954 đến tháng 5/1975.
Trình bày ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống Mỹ ?
Ý nghĩa lịch sử
Đối với nước ta: Đã quét sạch được quân xâm lược ra khỏi đất nước, kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài gần một phần ba thế kỷ (1945–1975), đồng thời kết thúc hơn một thế kỷ (1858–1975) đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới của hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ; đưa lại độc lập, thống nhất, hòa bình cho dân tộc, kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; mở ra một thời kỳ mới: cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Đây là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.Đối với thế giớiĐã đánh bại một cuộc chiến tranh tàn bạo, ác liệt, có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất của chủ nghĩa đế quốc từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai; làm phá sản liên tiếp nhiều học thuyết và thủ đoạn chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; phá vỡ một mắt xích quan trọng và mạnh nhất trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc ở Đông Nam Á, góp phần làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ, mở ra sự sụp đổ không tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới, góp phần thúc đẩy phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hòa bình thế giới.Đây là một thắng lợi đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại nhất của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.
Nguyên nhân thắng lợi
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố tạo nên:
Cuộc kháng chiến của ta vì chính nghĩa và có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, người đại biểu trung thành cho những lợi ích sống còn của dân tộc.
Quân dân cả nước với tinh thần yêu nước, bất khuất, chịu đựng mọi sự hy sinh, gian khổ, chiến đấu cho độc lập, tự do của Tổ quốc; đặc biệt là sự đấu tranh quyết liệt, một mất một còn của đồng chí, đồng bào miền Nam – “Thành đồng của Tổ quốc”.
Công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giành được nhiều thắng lợi, làm cho miền Bắc giữ vững được vai trò căn cứ địa của cả nước, hậu phương lớn đối với cách mạng miền Nam, chi viện có hiệu quả cho quân dân miền Nam trực tiếp đánh bại giặc Mỹ và tay sai, đồng thời đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tiến hành đối với miền Bắc.
Sự đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia và sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ.
Đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược, phi nghĩa nên không được sự đồng tình của nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới, không phát huy được sức mạnh vật chất – công nghệ của chúng.
Những bài học kinh nghiệm
Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng, hướng vào một mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Hết sức coi trọng việc xây dựng lực lượng cách mạng ở miền Nam, đồng thời ra sức tổ chức, xây dựng lực lượng chiến đấu trong cả nước. Lực lượng cách mạng bao gồm tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng, mặt trận dân tộc với khối liên minh công – nông làm nền tảng, lực lượng vũ trang với ba thứ quân và đội quân chính trị quần chúng,… biết dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ mọi sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế.
Phương pháp đấu tranh cách mạng đúng đắn, sáng tạo (đó là sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp, bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân…); nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo ra thời cơ và nắm vững thời cơ, mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tiến công và nổi dậy đồng loạt, giành thắng lợi hoàn toàn.
Đó là chiến lược tổng hợp và nghệ thuật quân sự của chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân Việt Nam.
Có sự chỉ đạo và tổ chức chiến đấu tài giỏi của các cấp bộ Đảng và các cấp chỉ huy quân đội.
Hoàn cảnh lịch sử (những thuận lợi, khó khăn) của VN sau năm 1975 và quá trình hình thành đường lối đổi mới. Những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội 6 đặt ra (12/1986) ?
Những thuận lợi của Việt Nam sau năm 1975
Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nhân dân ta có tinh thần tự lực, tự cường, thiết tha với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí rất cao đối với vấn đề xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.
Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại đang diễn ra, tạo điều kiện cho chúng ta tận dụng được nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời gian trong quá trình phát triển.
Những thành công và không thành công trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ở những nước xã hội chủ nghĩa giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Những khó khăn của Việt Nam sau năm 1975
Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, năng suất lao động thấp, lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm.
Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình.
Các thế lực thù địch chống phá.
Tình hình quốc tế có nhiều biến động. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, gây tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng trên thế giới và cách mạng Việt Nam.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều vấp váp và mô hình chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều khuyết tật mà những khuyết tật đó chưa được Đảng ta nhận thức đầy đủ ở những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Hoàn cảnh lịch sử
Từ năm 1980 trở đi, xu thế trên thế giới chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại.
Các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu đều đã và đang tiến hành những hoạt động cải cách kinh tế để khắc phục những khiếm khuyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam, sau hơn một thập kỷ (1975–1985) vừa phát triển kinh tế, vừa tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhưng khó khăn cũng chồng chất. Đất nước từ giữa những năm 80 lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nặng nề, chưa ổn định được tình hình kinh tế – xã hội như mục tiêu mà Đại hội V đề ra.
Đại hội VI đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam là đổi mới (tìm biện pháp, bước đi đúng để xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn).
Nội dung cơ bản của Đại hội VI
Đại hội VI kiểm điểm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Báo cáo chính trị của Đại hội đã chỉ ra những thành tựu ta đạt được và chỉ ra tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng kinh tế – xã hội, tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận, chậm tổng kết kinh nghiệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong công tác chậm thực hiện đổi mới cán bộ.
Đại hội VI rút ra 4 bài học kinh nghiệm:
Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, chăm lo xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự đúng đắn của Đảng.
Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.
Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta.
Mục tiêu tổng quát
“Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội. Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếp theo.”
Năm mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tạo ra bước chuyển biến tốt về mặt xã hội (trên các lĩnh vực tạo việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương).
Đảm bảo nhu cầu quốc phòng và an ninh.
Hệ thống giải pháp – những quan điểm mới trong lĩnh vực kinh tế
1. Bố trí cơ cấu sản xuất
Điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chương trình về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (đây cũng là nội dung của đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên).
2. Về cải tạo xã hội chủ nghĩa
Cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hình thức và bước đi thích hợp; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất.
Công nhận nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, coi chủ trương phát triển nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài và là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
3. Về cơ chế quản lý kinh tế
Xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp; xây dựng cơ chế mới (cơ chế thị trường) phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước cho phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ chế quản lý mới.
4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Coi phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực của chủ nghĩa xã hội, động viên và tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế và quản lý xã hội, tham gia cải cách kinh tế.
5. Mở rộng hợp tác quốc tế
Mở rộng hợp tác quốc tế trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.
Ý nghĩa của Đại hội VI
Đại hội VI đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc.
Thành công của Đại hội là sức mạnh mới, là cơ sở hết sức quan trọng trong việc tăng cường đoàn kết, thống nhất giữa toàn Đảng, toàn dân.
I. Thành tựu
1. Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm
Giai đoạn 1991–1995: GDP đạt 8,2% (so với kế hoạch đề ra 5,5–6,5%); sản xuất công nghiệp tăng 13,3%, nông nghiệp tăng 4,5%.
Xuất khẩu tăng 20%; lạm phát giảm từ 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995).
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển đổi: tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều tăng.
Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế.
Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng.
Đời sống tinh thần được cải thiện, trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được tăng lên.
2. Tạo được sự chuyển biến tích cực về mặt xã hội
Đời sống vật chất, trình độ dân trí của người dân được nâng lên.
3. Giữ vững ổn định chính trị
Củng cố an ninh, quốc phòng, tạo lập môi trường hòa bình và điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới.
4. Thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị
Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, khối đại đoàn kết dân tộc có bước phát triển mới, vai trò lãnh đạo của Đảng được tăng cường, Nhà nước pháp quyền tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện.
5. Phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại
Tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế, nâng cao vị trí của nước ta trên thế giới.
II. Khuyết điểm
Nước ta còn nghèo và kém phát triển, thiếu cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng để dồn vốn đầu tư cho phát triển. Việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn phân tán, kém hiệu quả.
Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực: tham ô, lãng phí của công, phân hóa giàu nghèo tăng.
Việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng, vừa buông lỏng. Chưa tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo.
Hợp tác xã chưa đổi mới, chưa giải quyết tốt chính sách để phát triển kinh tế tư nhân, phát triển tiềm năng đồng thời chưa quản lý tốt.
Quản lý kinh tế hợp tác, liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở.
Quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội còn yếu.
Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả của Đảng, Nhà nước, đoàn thể chưa được nâng lên phù hợp với tình hình.
III. Bài học kinh nghiệm sau 10 năm đổi mới
Một là
Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt, sáng tạo trong sách lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới.
Hai là
Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
Phát huy dân chủ, khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống mọi khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích.
Dứt khoát bác bỏ mọi thủ đoạn lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối chính trị, chống phá chế độ, can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.
Ba là
Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
Bốn là
Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của cả dân tộc.
Phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
Năm là
Mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại.
Việc mở rộng quan hệ đối ngoại phải dựa trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, giữ gìn, phát huy bản sắc và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Sáu là
Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Đảng ta phải luôn luôn tự đổi mới và chỉnh đốn. Củng cố và xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ.
Tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên. Đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao trình độ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Đối với một Đảng Cộng sản cầm quyền hoạt động trong nền kinh tế thị trường, lại có sự tác
Lịch sử cách mạng nước ta chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là người lãnh đạo và tổ chức thắng lợi của cách mạng nước ta.
Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kỳ đấu tranh tự phát, chuyển lên thời kỳ đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân. Nó chứng tỏ giai cấp này đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Trong hơn bảy thập kỷ qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta trải qua những chặng đường lịch sử oanh liệt, giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, đó là:
Cách mạng tháng Tám năm 1945: Mới 15 tuổi, nhờ kiên quyết đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền trên phạm vi cả nước, đập tan xiềng xích nô lệ, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp gần 90 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi đó đã đưa cách mạng nước ta bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do, hướng tới chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ 1945–1954: Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chống thù trong, giặc ngoài, giữ vững chính quyền, tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm thắng lợi, giải phóng miền Bắc. Với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, ta đã đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng một nửa đất nước, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia.
Thời kỳ 1954–1975: Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều thành tựu to lớn ở miền Bắc, đồng thời lãnh đạo thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi này đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải thừa nhận quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1975 đến nay: Đảng lãnh đạo nhân dân ta thu được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Sở dĩ có được những thắng lợi đó là vì:
Đảng là người đầy tớ trung thành, đại diện cho lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là mục đích của Đảng. Đảng luôn trung thành với Tổ quốc, nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, được nhân dân tin yêu và ủng hộ.
Đảng luôn quán triệt trong mọi hoạt động của mình quan điểm: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, phải lấy dân làm gốc. Dựa vào quần chúng, phục vụ quần chúng, giữ vững mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng.
Đường lối của Đảng luôn phản ánh quyền lợi, nguyện vọng và khả năng của quần chúng. Cho nên Đảng luôn được quần chúng tin yêu và ủng hộ. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp to lớn, mới mẻ.
Đảng lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác một cách đúng đắn, sáng tạo. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị bằng cách liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đảng biết nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn. Đảng luôn có ý thức vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đề ra được đường lối đúng đắn.
Những sai lầm, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm
Tuy vậy, trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng cũng mắc những sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan,...
Từ Đại hội VI đến nay, Đảng luôn quán triệt tư tưởng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan để đề ra đường lối đúng. Thước đo của đường lối đúng là sản xuất phát triển, chính trị ổn định, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện.
Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một chính đảng duy nhất của Việt Nam – Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long – Hương Cảng (Trung Quốc), được tiến hành trong thời gian từ ngày 6/1/1930 đến ngày 7/2/1930. Sau này, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ngày 10/9/1960, quyết nghị: “Từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng”.
Thành phần dự Hội nghị gồm 2 đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng (Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh), 2 đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng (Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc – đại diện của Quốc tế Cộng sản. Đại diện của Đông Dương Cộng sản Liên đoàn không đến kịp, do vậy đến ngày 24/2/1930 xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Nội dung Hội nghị
Hội nghị thông qua các văn kiện do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo. Đó là: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam; lấy tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau này, Chánh cương vắn tắt của Đảng và Sách lược vắn tắt của Đảng được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó đã phản ánh những nội dung cơ bản nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người trên đất nước Việt Nam.
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
1. Khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã đi vào bế tắc và thất bại.
Như vậy, ngay từ đầu, Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh đã thể hiện tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Việc xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt Nam ngay từ đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải quyết đúng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
2. Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh chỉ rõ: “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”.
Tức là nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống đế quốc, giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày. Trong đó, nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.
Xuất phát từ đặc điểm của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đây là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam. Sự kết hợp hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã khẳng định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách mạng Việt Nam.
Những nhiệm vụ đó là biểu hiện sinh động của việc kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
3. Về lực lượng cách mạng Việt Nam
Phải đoàn kết công nhân, nông dân – đây là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo.
Đồng thời, Cương lĩnh nêu rõ: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập”.
Đây là tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam.
Để thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, Cương lĩnh chỉ ra rằng phải đoàn kết với tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân yêu nước. Đó là sự thể hiện quan điểm: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm nên lịch sử.
Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã chỉ ra lực lượng chính, động lực chủ yếu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam là công nhân và nông dân. Đây là sự thể hiện tính nguyên tắc trong chính sách đại đoàn kết dân tộc và sự sắp xếp, tổ chức lực lượng cách mạng của Đảng ta.
Việc tập hợp lực lượng rộng rãi cũng như xác định được động lực chủ yếu, cơ bản của sự nghiệp cách mạng phản ánh sự mềm dẻo và linh hoạt trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta.
4. Về phương pháp cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh khẳng định phương pháp cách mạng cơ bản của Việt Nam là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh đổ đế quốc, phong kiến, đó là bạo lực cách mạng.
Phương pháp bạo lực cách mạng được nêu lên với những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến.
Chính sự thất bại của khuynh hướng cải lương hòa bình ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng.
Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa Mác – Lênin.
5. Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng.
Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp.
Để làm tròn sứ mệnh lịch sử là nhân tố tiên phong quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Đảng phải: “Thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”.
Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công – nông là những vấn đề then chốt bảo đảm cho Đảng ta trở thành nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng. Đây là điều kiện tạo cho Đảng có nguồn sức mạnh vĩ đại và trở thành lãnh tụ chính trị của cả dân tộc.
Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
6. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế
Phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng là một nội dung quan trọng của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đoàn kết quốc tế là một vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng Việt Nam: “Trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”.
Đồng thời, Cương lĩnh cũng đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, đề cao vấn đề đoàn kết quốc tế chính là sự thể hiện việc kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích dân tộc và lợi ích của toàn nhân loại tiến bộ đang đấu tranh để giải phóng khỏi ách áp bức, bất công trên thế giới.
Vấn đề đoàn kết quốc tế cũng đồng thời là một động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam.
7. Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh
Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh, kêu gọi mọi người ủng hộ và gia nhập Đảng, phải có tổ chức chặt chẽ.
Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản Cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta – Đảng của giai cấp công nhân – không ngừng củng cố và tăng cường”.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam: thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh ra đời đã đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Việt Nam từ đây có đường lối cách mạng đúng đắn và tổ chức cách mạng tiên phong lãnh đạo, chấm dứt sự khủng hoảng và bế tắc về con đường cứu nước. Từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX, nhân dân ta liên tiếp nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân. Tiếp nối các phong trào Văn Thân và Cần Vương, phong trào yêu nước ba mươi năm đầu thế kỷ XX diễn ra vô cùng anh dũng, từ khởi nghĩa Yên Thế và các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến khởi nghĩa Yên Bái,... nhưng không thành công vì thiếu một đường lối đúng.
Năm 1930, kế thừa Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và các tổ chức cộng sản tiền thân, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Điều đó nói lên quy luật ra đời của Đảng và cũng chứng tỏ giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam đã trưởng thành và có đủ những yếu tố cơ bản nhất để đảm nhiệm vai trò lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đánh dấu bước phát triển về chất của cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập khẳng định dứt khoát con đường đi lên của dân tộc Việt Nam từ năm 1930 là con đường cách mạng vô sản. Đó là sự lựa chọn của chính nhân dân Việt Nam, chính lịch sử dân tộc Việt Nam trong quá trình tìm con đường giải phóng dân tộc.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã giúp cách mạng Việt Nam từ năm 1930 có được đường lối chính trị toàn diện, đề ra mục tiêu và phương pháp đấu tranh thích hợp, giải quyết triệt để những mâu thuẫn cơ bản của xã hội, đồng thời có được tổ chức Đảng cách mạng để lãnh đạo và tổ chức phong trào cách mạng.
Sự ra đời của Đảng đã tạo những tiền đề và điều kiện để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trên con đường giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước.
Sự đúng đắn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã được khẳng định qua quá trình khảo nghiệm của lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta từ khi Đảng ra đời. Đến nay, những định hướng cơ bản đó vẫn được tiếp tục vận dụng trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
1. Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là:
“Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản.”
Điều đó thể hiện con đường phát triển của cách mạng Việt Nam gồm hai giai đoạn: trước hết tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, sau đó tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Đây là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
2. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là:
Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến.
Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.
Giành ruộng đất cho dân cày.
Trong đó, nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc được đặt lên hàng đầu.
Cương lĩnh đã kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên vị trí ưu tiên, phù hợp với đặc điểm của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
3. Lực lượng cách mạng
Cương lĩnh xác định công nhân và nông dân là lực lượng cơ bản, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo.
Đảng phải:
“Thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng...”
Đồng thời:
“Phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”.
Bên cạnh đó, Đảng phải liên minh với các giai cấp, tầng lớp yêu nước khác như tiểu tư sản, trí thức, trung nông... để tập hợp lực lượng, đoàn kết họ đấu tranh giải phóng dân tộc và tiến tới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy, Cương lĩnh thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, đồng thời xác định công nhân và nông dân là lực lượng nòng cốt của cách mạng.
4. Phương pháp cách mạng
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam phải sử dụng sức mạnh của quần chúng nhân dân, tiến hành bằng phương pháp cách mạng phù hợp để đánh đổ đế quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Đây là quan điểm về bạo lực cách mạng, phù hợp với điều kiện thực tế của một nước thuộc địa nửa phong kiến.
5. Vai trò lãnh đạo của Đảng
Cương lĩnh xác định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, giữ vai trò lãnh đạo cách mạng.
Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, lãnh đạo được quần chúng nhân dân và tổ chức quần chúng đấu tranh.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
6. Quan hệ với cách mạng thế giới
Cương lĩnh xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Cách mạng Việt Nam phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Điều này thể hiện sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản.
7. Giá trị và ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên
Cương lĩnh đầu tiên là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác – Lênin, đường lối của Quốc tế Cộng sản và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Cương lĩnh thể hiện tập trung tư tưởng cơ bản của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở một nước thuộc địa nửa phong kiến.
Tuy nhiên, những giá trị tư tưởng và đường lối đúng đắn trên chưa được mọi người nhận thức và quán triệt đầy đủ. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10/1930 đã phê phán những “sai lầm” của Hội nghị hợp nhất và quyết định “thủ tiêu Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ” của Đảng, thông qua Luận cương chính trị theo tinh thần chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng thời đổi tên Đảng thành “Đảng Cộng sản Đông Dương”.
Sở dĩ có sự khác nhau giữa Cương lĩnh đầu tiên do Hội nghị thành lập Đảng vạch ra với Luận cương chính trị và các văn kiện của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10/1930 không chỉ do vấn đề kết hợp hay tách rời yếu tố giai cấp với yếu tố dân tộc, mà còn do việc xác định đúng hay chưa đúng vị trí của mỗi yếu tố trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, đánh giá đúng đắn và đầy đủ hơn yếu tố dân tộc trong cách mạng Việt Nam.
Tuy bị phê phán, thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh tính đúng đắn và sáng tạo của Cương lĩnh chính trị đầu tiên.
Sau 30 năm đấu tranh và thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
“Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng ta đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình.”
Qua đó có thể khẳng định: Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã giải quyết đúng đắn những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp; đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đồng thời xác định đúng vai trò lãnh đạo của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
Kết quả, ý nghĩa, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Tám năm 1945
Phân tích thời cơ bùng nổ cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945? Những nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm?
Nguyên nhân thắng lợi :
Nguyên nhân khách quan: Cách mạnh tháng 8 nổ ra trong hoàn cảnh quốc tế vô cùng thuận lợi. Đó là lúc phe phát xít đã bại trận. Kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam là phát xít Nhật đã phải đầu hàng đồng minh. Quân đội Nhật ở Đông Dương mất hết tinh thần chiến đấu. Chính phủ thân Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, rệu rã.
Nguyên nhân chủ quan:
Đó là kết quả của 15 năm đấu tranh gian khổ, đầy hy sinh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là kết quả tổng hợp của 3 cao trào cách mạng.
Đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện cơ bản, quyết định thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ý nghĩa lịch sử:
Đối với dân tộc:
Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của đế quốc và phong kiến, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã đánh dấu một trang sử vẻ vang của dân tộc ta, đánh dấu sự đổi đời của một dân tộc. Cách mạng Tháng Tám đã đưa nước ta từ một nước thuộc địa trở thành một nước độc lập dân chủ, đưa Đảng ta từ một Đảng không hợp pháp trở thành một Đảng nắm chính quyền, đưa dân tộc ta lên hàng các dân tộc tiên phong trên thế giới.
Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới cho cách mạng nước ta- kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng tháng Tám là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam với đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Đây là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng Cộng sản lãnh đạo, là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác- Lênin ở một nước thuộc địa.
Đối với quốc tế:
Cách mạng Tháng Tám đã nâng cao vị thế quốc tế của dân tộc Việt Nam. Lần đầu tiên một dân tộc nhược tiểu đã tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân.
-Cách mạng Tháng Tám đã phá tan một mắt xích quan trọng của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ.
Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Những bài học kinh nghiệm:
Cách mạng tháng Tám thành công đã để lại cho Đảng ta và nhân dân Việt nam nhiều bài học quý báu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và khởi nghĩa dân tộc. Đó là những bài học chính sau đây:
Một là: Gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc, kết hợp đúng đắn hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến. Tuy 2 nhiệm vụ không tách rời nhau nhưng chống đế quốc phải là nhiệm vụ hàng đầu, chống phong kiến phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc và phải thực hiện từng bước với những khẩu hiệu thích hợp. Đường lối này đã được khẳng định trong đường lối cứu nước của Nguyễn Ái Quốc và trở thành cương lĩnh của Đảng ta.
Hai là: Toàn dân nổi dậy trên nền tảng khối liên minh Công - Nông.
Ba là: Lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.
Bốn là: Kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và biết sử dụng bạo lực cách mạng một cách thích hợp để đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ra bộ máy nhà nước của nhân dân.
Năm là: Nắm vững nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật chớp đúng thời cơ.
-Sáu là: Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tóm lại: Thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945 là kết quả tất yếu của 15 năm chuẩn bị chu đáo của Đảng ta, là kết quả của cuộc đấu tranh yêu nước rộng lớn của dân tộc, sự hy sinh anh dũng của đồng bào, đồng chí cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta. Ngày 6-6-1884, triều đình Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt, thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp, chia nước ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, vừa xây dựng hệ thống chính quyền thuộc địa, vừa duy trì chính quyền phong kiến và tay sai làm chỗ dựa. Mọi quyền hành đều nằm trong tay người Pháp, với âm mưu thâm độc thực hiện chính sách chia để trị, chính sách ngu dân, chính sách độc quyền về kinh tế, ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý.
Trước những áp bức, bóc lột dã man của thực dân Pháp, nhân dân ta đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước. Nhưng tất cả những cuộc đấu tranh đó đều không giành được thắng lợi. Giai cấp địa chủ phong kiến mà tiêu biểu là triều đình nhà Nguyễn đã bất lực và hèn nhát, nhanh chóng đầu hàng thực dân Pháp và trở thành phản động, phản bội lại lợi ích của dân tộc.
Phong trào chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương đã thất bại khi cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng chấm dứt năm 1896; phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Nguyên nhân là do thiếu đường lối đúng, thiếu một tổ chức cách mạng có khả năng dẫn dắt dân tộc đến thắng lợi. Điều này chứng tỏ rằng, thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm trong khuôn khổ ý thức hệ tư tưởng phong kiến đã chấm dứt. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, về giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Việt Nam cũng như một số nước phương Đông khác đã ít nhiều chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản. Đặc biệt, Cách mạng Minh Trị ở Nhật Bản (1868), Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) đã có tác động nhất định tới phong trào yêu nước ở Việt Nam, làm dấy lên ở nước ta một phong trào yêu nước rộng rãi theo khuynh hướng tư sản nhưng đều thất bại. Tiêu biểu là phong trào của cụ Phan Bội Châu, cụ Phan Chu Trinh, phong trào Duy Tân của vua Duy Tân. Điều này chứng tỏ sự bất lực của giai cấp tư sản Việt Nam, rằng giai cấp tư sản Việt Nam không đủ khả năng giương cao ngọn cờ lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
Tình hình khủng hoảng, bế tắc về con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đòi hỏi phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cách mạng đúng đắn dẫn đường, mới có khả năng đưa phong trào cứu nước đi đến thắng lợi.
Nội dung cơ bản và ý nghĩa đường lối kháng chiến của mỹ cứu nước 1965-1975?
Làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ những vấn đề sau:
Sự chuyển biến của tình hình, miền Bắc không còn ở trong thời kỳ xây dựng hoà bình nữa, mà đã bắt đầu ở vào thời chiến
So sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhấn mạnh những thuận lợi của ta và thất bại nghiêm trọng của Mỹ, cho nên ta nhất định sẽ thắng, Mỹ nhất định sẽ thất bại hoàn toàn.
Giải phóng miền Nam là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và cả nước đều phải tham gia đánh giặc. Cần phải xác định rõ "Miền Bắc dù có bị ném bom bắn phá đến đâu cũng phải vì giải phóng miền Nam mà không chút nao núng, nâng cao chí khí căm thù và quyết tâm thắng địch"(3). Phải đẩy mạnh phong trào "ba sẵn sàng" với nội dung và yêu cầu mới. Cần phải xây dựng tác phong tích cực, khẩn trương của thời chiến.
Phải ra sức xây dựng tư tưởng phấn khởi và tin tưởng, quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ và tay sai, tư tưởng sẵn sàng chiến đấu và công tác ở bất cứ nơi nào theo tiếng gọi của Đảng và của Tổ quốc; tư tưởng sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch, sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn gian khổ, sẵn sàng chiến đấu lâu dài chống Mỹ với tinh thần tự lực cánh sinh cao; chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch; tư tưởng hoang mang, dao động, cầu an; tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào; tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình.
Như vậy, "chuyển hướng tư tưởng" ở đây có thể hiểu một cách ngắn gọn là: chuyển từ nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời bình sang nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời chiến, trong đó bao gồm những nội dung cụ thể là đế quốc Mỹ dù có mạnh đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng; miền Bắc dù có bị bắn phá đến đâu cũng phải quyết tâm cùng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Cốt lõi của vấn đề chuyển hướng tư tưởng là làm cho nhân dân miền Bắc thấy rõ tình hình mới của đất nước, từ đó có sự đồng thuận tuyệt đối với Đảng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào.
Chủ trương "chuyển hướng tư tưởng" của Hội nghị Trung ương 11 được tiếp tục khẳng định và bổ sung ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965). Và Hội nghị xác định nhiệm vụ của công tác tư tưởng là:
Giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang của nhân dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng, với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ.
Giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân, nhất là cho bộ đội và thế hệ thanh niên, làm cho mọi người sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, chiến đấu anh dũng với bất cứ kẻ thù nào, đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch.
Làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta ở miền Bắc là phải tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, phục vụ không điều kiện cho tiền tuyến miền Nam và hết sức giúp đỡ cách mạng Lào, làm cho mọi người hăng hái dốc sức ra làm tròn bất cứ nhiệm vụ nào của Đảng và chính phủ giao phó. Như vậy, chủ trương "chuyển hướng tư tưởng" ở miền Bắc được Đảng ta xác định từ Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và tiếp tục được khẳng định, bổ sung, cụ thể hoá ở Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) cùng các chỉ thị, nghị quyết sau đó của Trung ương về công tác tư tưởng. Nội dung cơ bản của chủ trương là chuyển hướng công tác tư tưởng của Đảng theo hướng: Làm cho toàn thể nhân dân miền Bắc hiểu rõ tình hình miền Bắc không còn ở trong thời bình nữa mà đã chuyển sang thời chiến; nhiệm vụ thiêng liêng nhất của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta lúc này là nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bất kể tình huống nào. Nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất được Trung ương nhấn mạnh nhiều lần, đó là công tác tuyên truyền của Đảng phải tập trung khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, dù phải hy sinh, gian khổ đến mấy.
Đó là một chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng ở miền Bắc thời gian này. Từ chủ trương này, những vấn đề căn bản nhất của công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền, cổ động nói riêng được xác định kịp thời và chính xác. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, cổ động chính trị của Đảng ở miền Bắc được triển khai mạnh mẽ, rầm rộ và liên tục trong suốt những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào việc động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của nhân dân miền Bắc, biến sức mạnh tinh thần đó thành sức mạnh vật chất vượt qua mọi gian nan, thử thách, giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu không cân sức giữa dân tộc ta và đế quốc Mỹ. Chuyển hướng tư tưởng của Đảng ở miền Bắc những năm 65-75 là một bài học vô cùng quý giá, thiết nghĩ chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc và vận dụng trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"./.
Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế nước ta càng trở nên khó khăn (tháng 12-1986, giá bán lẻ hàng hoá tăng 845,3%). Chúng ta không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong Đảng và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận sôi nổi, xoay quanh thực trạng của ba vấn đề lớn: cơ cấu sản xuất; cải tạo xã hội chủ nghĩa; cơ chế quản lý kinh tế. Thực tế tình hình đặt ra một yêu cầu khách quan có tính sống còn đối với sự nghiệp cách mạng là phải xoay chuyển được tình thế, tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên và như vậy phải đổi mới tư duy.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thực, nói rõ sự thật, Đại hội đã đánh giá đúng mức những thành tựu đạt được sau 10 năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đi sâu phân tích những tồn tại và nghiêm khắc tự phê bình những sai lầm, khuyết điểm trong lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng trong 10 năm (1976-1986).
Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học và đánh giá cao quá trình dân chủ hóa sinh hoạt chính trị của Đảng và nhân dân ta trong thời gian chuẩn bị và tiến hành Đại hội
Đại hội đã đánh giá những thành tựu, những khó khăn của đất nước do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra, những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm đó, đặc biệt là sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Báo cáo chính trị tổng kết thành bốn bài học kinh nghiệm lớn:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc".
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế- xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.
Mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ.
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó đặc biệt chú trọng ba ch-ương trình kinh tế lớn là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, coi đó là sự cụ thể hóa nội dung công nghiệp hoá trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ. Làm cho thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa giữ vai trò chi phối, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ, dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập cho người lao động.
Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tạo ra chuyển biến về mặt xã hội, việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương phép nước.
Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
Đại hội đã nêu ra năm phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội và đề ra hệ thống các giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế. Coi nền kinh tế có nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, dứt khoát xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; phát huy động lực của khoa học - kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
"Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống".
Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau"
Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách rộng rãi. Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững.
Có người còn cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hóa, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền-Hàng-Tiền được thay thế bằng Tiền- Tri Thức- Tiền và vai trò quyết định của Tri thức.
Vậy kinh tế tri thức là gì? Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.


