20 câu Trắc nghiệm Toán 7 Chân trời sáng tạo Bài 3. Đại lượng tỉ lệ nghịch (Đúng sai - Trả lời ngắn) có đáp án
20 câu hỏi
Cho biết \(x\) và \(y\) tỉ lệ nghịch với nhau. Khi \(x = - 6\) thì \(y = 8\). Vậy khi \(y = 12\) thì \(x\) bằng
\( - 4.\)
\(4.\)
\(16.\)
\( - 16.\)
Đáp án đúng là: A
Ta có hệ số tỉ lệ là \( - 6.8 = - 48\).
Do đó, khi \(y = 12\) thì \(x\) bằng \( - 48:12 = - 4\).
Công thức nào cho ta quan hệ tỉ lệ nghịch giữa \(x\) và ?
\(x.y = 25\).
\(x + y = - 9\).
\(\frac{x}{y} = 15\).
\(x - y = 2\).
Đáp án đúng là: A
Công thức liên hệ tỉ lệ nghịch giữa \(x\) và \(y\) là \(x.y = 25\).
Biết đại lượng \(y\) tỉ lệ nghịch với đại lượng \(x\) theo hệ số tỉ lệ \(a\) và khi \(x = 6\) thì \(y = 5,\) hệ số \(a\) là
\(\frac{6}{5}\).
\(\frac{5}{6}\).
\(30\).
\(\frac{1}{{30}}\).
Đáp án đúng là: C
Ta có đại lượng \(y\) tỉ lệ nghịch với đại lượng \(x\) theo hệ số tỉ lệ \(a\) nên \(xy = a\).
Khi \(x = 6\) thì \(y = 5\), suy ra \(a = xy = 5.6 = 30\).
Cho biết đại lượng \(x\) và \(y\) tỉ lệ nghịch với nhau khi \(x = 4\) thì \(y = 20\). Giá trị của \(y\) khi \(x = 8\) là
\[ - 40\].
\[ - 10\].
40.
10.
Đáp án đúng là: D
Ta có đại lượng \(x\) và \(y\) tỉ lệ nghịch với nhau nên \(xy = a\).
Mà khi \(x = 4\) thì \(y = 20\) nên \(a = xy = 4.20 = 80.\)
Do đó, khi \(x = 8\) thì \(y = \frac{a}{x} = \frac{{80}}{8} = 10\).
Bạn Hùng mua 10 chiếc bút bi ngòi nhỏ với giá 4 nghìn đồng/chiếc. Cùng với số tiền như bạn Hùng, bạn Duy mua được 8 chiếc bút bi ngòi to. Vậy giá một chiếc bút bi ngòi to là
5 nghìn đồng.
6 nghìn đồng.
10 nghìn đồng.
2 nghìn đồng.
Đáp án đúng là: A
Gọi số tiền một chiếc bút bi ngòi to là \(x\,\,\left( {x > 0} \right)\).
Ta có: \(10 \cdot 4 = 8x\) suy ra \(x = \frac{{4 \cdot 10}}{8} = 5\) (nghìn đồng).
Bạn Minh mua 18 cái kẹo mút gồm 2 loại. Loại I giá 2 nghìn đồng/ chiếc, loại II giá 4 nghìn đồng/chiếc. Biết rằng số tiền Bình mua mỗi loại là như nhau. Khi đó:
Bình đã mua 6 cái kẹo mút loại II.
Bình đã mua 8 cái kẹo mút loại II.
Bình đã mua 9 cái kẹo mút loại II.
Bình đã mua 12 cái kẹo mút loại II.
Đáp án đúng là: A
Gọi số kẹo mút loại I và loại II Bình đã mua lần lượt là \(x,\,\,y\,\,\left( {0 < x,\,y < 18} \right)\).
Theo đề, ta có: \(x + y = 18\).
Vì số tiền Bình mua mỗi loại kẹo là như nhau nên ta có: \(2x = 4y\) hay \(\frac{x}{4} = \frac{y}{2}\).
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có: \(\frac{x}{4} = \frac{y}{2} = \frac{{18}}{{4 + 2}} = \frac{{18}}{6} = 3\).
Suy ra \(x = 12,\,\,y = 6\).
Do đó, Bình mua 6 cái kẹo mút loại II.
Để cày xong một cánh đồng trong 5 giờ thì người ta cần 4 máy cày. Vậy nếu người ta dùng 5 máy cày thì cày xong cánh đồng trong bao lâu? Biết công suất các máy cày là như nhau.
5 giờ.
6 giờ.
4 giờ.
2 giờ.
Đáp án đúng là: C
Gọi thời gian để 5 máy cày cày xong cánh đồng là \(x\,\,\left( {x > 0} \right)\).
Vì số máy cày và thời gian cày là hai đại lượng tỉ lệ nghịch nên theo đề, ta có:
\(\frac{5}{4} = \frac{5}{x}\) suy ra \(x = \frac{{5 \cdot 4}}{5} = 4\) (giờ).
Vậy 5 máy cày thì cày xong cánh đồng trong 4 giờ.
Bạn Dương mua 20 cái kẹo với giá 2 nghìn đồng một cái. Cũng với số tiền đó bạn Tuấn mua được 8 cái bánh. Vậy giá mỗi cái bánh là
5 nghìn đồng.
6 nghìn đồng.
10 nghìn đồng.
8 nghìn đồng.
Đáp án đúng là: A
Gọi giá mỗi cái bánh là \(x\,\,\left( {x > 0} \right)\).
Theo đề, ta có: \(20 \cdot 2 = 8 \cdot x\) nên \(x = \frac{{20 \cdot 2}}{8} = 5\) (nghìn đồng).
Nếu 10 vòi nước có công suất như cùng chảy vào một bể thì sau 6 giờ sẽ đầy bể. Vậy cần bao nhiêu vòi nước cùng công suất để sau 5 giờ thì đầy bể?
5 vòi nước.
6 vòi nước.
12 vòi nước.
10 vòi nước.
Đáp án đúng là: C
Gọi số vòi nước cần dùng để bơm đầy bể sau 5 giờ là \(x\) (giờ, \(x > 0\))
Vì số lượng vòi càng lớn thì thời gian bơm đầy bể cảng ít do đó đây là hai đại lượng tỉ lệ nghịch.
Theo đề, ta có: \(6 \cdot 10 = 5 \cdot x\) nên \(x = \frac{{6 \cdot 10}}{5} = 12\) (vòi)
Bà Minh đã mua 10 quả dưa gồm hai loại: loại I giá 90 nghìn đồng một quả, loại II giá 60 nghìn đồng một quả. Bà Minh đã mua bao nhiêu quả dưa loại I và bao nhiêu quả dưa loại II? Biết rằng số tiền bà Minh mua mỗi loại quả dưa là như nhau.
Bà Minh đã mua 6 quả dưa loại I và 4 quả dưa loại II.
Bà Minh đã mua 2 quả dưa loại I và 8 quả dưa loại II.
Bà Minh đã mua 8 quả dưa loại II và 2 quả dưa loại I.
Bà Minh đã mua 4 quả dưa loại I và 6 quả dưa loại II.
Đáp án đúng là: D
Gọi số dưa loại I và loại II bà Minh mua lần lượt là \(x,\,\,y\,\,\left( {x,\,y > 0} \right)\).
Theo đề, ta có: \(x + y = 10\) và \(90x = 60y\) hay \(\frac{x}{{60}} = \frac{y}{{90}}\).
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có: \(\frac{x}{{60}} = \frac{y}{{90}} = \frac{{x + y}}{{60 + 90}} = \frac{{10}}{{150}} = \frac{1}{{15}}\).
Suy ra \(x = 4;\,\,y = 6\).
Vậy bà Minh mua 4 quả dưa loại I và 6 quả dưa loại II.
Anh Lâm mua 12 chiếc bánh nướng, 8 chiếc bánh dẻo, 17 chiếc bánh cốm hết \(1\,\,284\,\,000\) đồng. Biết giá của 3 chiếc bánh nướng bằng giá của 4 chiếc bánh dẻo và bằng giá 15 chiếc bánh cốm. Gọi \(x,\,\,y,\,\,z\) (chiếc, \(x,\,y,\,\,z \in {\mathbb{N}^*}\)) lần lượt là giá tiền của mỗi chiếc bánh nướng, bánh dẻo và bánh cốm. Khi đó:
\(12x + 8y + 17z = 1\,\,284\,\,000\).
\(\frac{x}{{12}} = \frac{y}{8} = \frac{z}{{17}}\).
Giá tiền mỗi chiếc bánh cốm là \(12\,\,000\) đồng.
Giá tiền của mỗi chiếc bánh dẻo là cao nhất.
a) Đúng.
Theo đề, anh Lâm mua 12 chiếc bánh nướng, 8 chiếc bánh dẻo và 17 chiếc bánh cốm nên ta có:
\(12x + 8y + 17z = 1\,\,284\,\,000\).
b) Sai.
Do giá của
Vì giá của 3 chiếc bánh nướng bằng giá của 4 chiếc bánh dẻo và bằng giá 15 chiếc bánh cốm nên ta có: \(3x = 4y = 15z\) hay \(\frac{x}{{20}} = \frac{y}{{15}} = \frac{z}{4}\).
c) Đúng.
Theo tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có:
\(\frac{x}{{20}} = \frac{y}{{15}} = \frac{z}{4} = \frac{{12x + 8y + 17z}}{{12 \cdot 20 + 8 \cdot 15 + 17 \cdot 4}} = \frac{{1\,\,284\,\,000}}{{428}} = 3\,\,000\).
Suy ra \(x = 60\,\,000;\,\,y = 45\,\,000;\,\,z = 12\,\,000\).
Do đó, tiền mỗi chiếc bánh cốm là \(12\,\,000\) đồng.
d) Sai.
Tiền một cái bánh nướng là \(60\;000\) đồng, tiền một cái bánh dẻo là \(45\,\,000\) đồng và tiền một cái bánh cốm là \(12\,\,000\) đồng.
Do đó, tiền một chiếc bánh nướng là lớn nhất.
Bác An mua \(74\) chiếc bút bi gồm ba loại. Loại I giá \(6\) nghìn đồng một bút, loại II giá \(5\) nghìn đồng một bút, loại III giá \(4\) nghìn đồng một bút. Biết rằng số tiền bác An mua mỗi loại bút là như nhau. Gọi \[x,y,z\] lần lượt là số bút bi bác An mua loại I, II, III.
Điều kiện của \[x,y,z\] là \[x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\] và \[x,y,z < 74\].
Phương trình biểu diễn số bút mà bác An mua là \[x + y + z = 74.\]
Vì số tiền bác An mua mỗi loại bút là như nhau nên ta có tỉ lệ thức \[\frac{x}{6} = \frac{y}{5} = \frac{z}{4}\].
Số bút loại I nhiều hơn số bút loại II là \[4\] chiếc.
a) Đúng.
Gọi \[x,y,z\] lần lượt là số bút bi bác An mua loại I, II, III.
Điều kiện của \[x,y,z\] là \[x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\] và \[x,y,z < 74\].
b) Đúng.
Phương trình biểu diễn số bút mà bác An mua là \[x + y + z = 74.\]
c) Sai.
Vì số tiền bác an mua mỗi loại bút là như nhau, nên số bút và giá tiền mỗi loại bút là hai đại lượng tỉ lệ nghịch.
Do đó, ta có: \[6x = 5y = 4z\] hay \[\frac{x}{{10}} = \frac{y}{{12}} = \frac{z}{{15}}\].
d) Sai.
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có: \[\frac{x}{{10}} = \frac{y}{{12}} = \frac{z}{{15}} = \frac{{x + y + z}}{{10 + 12 + 15}} = \frac{{74}}{{37}} = 2\].
Do đó, suy ra \[x = 20,{\rm{ }}y = 24,{\rm{ }}z = 30\].
Vậy số bút loại I, loại II, loại III lần lượt là 20 chiếc, 24 chiếc, 30 chiếc.
Do đó, số bút loại I ít hơn số bút loại II là 4 chiếc.
Bác Cường mua \(39\) mớ rau gồm ba loại: rau muống giá \(6\) nghìn đồng một mớ, rau cải giá \(8\) nghìn đồng một mớ, rau đay giá \(4\) nghìn đồng một mớ. Biết rằng số tiền bác Cường mua mỗi loại rau là như nhau. Gọi \(x,y,z\) lần lượt là số mớ rau bác Cường mua gồm rau muống, rau cải và rau đay.
Điều kiện của \(x,y,z\) là \(x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\) và \(x,y,z < 39.\)
Phương trình biểu diễn tổng số rau bác Cường mua là \(x + y + z = 39\).
Số tiền bác Cường mua mỗi loại rau là như nhau nên ta có tỉ lệ thức \(6x = 8y = 4z\)
Loại rau bác Cường mua nhiều nhất là rau đay với \(12\) mớ.
a) Đúng.
Gọi \(x,y,z\) lần lượt là số mớ rau bác Cường mua gồm rau muống, rau cải và rau đay.
Điều kiện của \(x,y,z\) là \(x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\) và \(x,y,z < 39.\)
b) Đúng.
Phương trình biểu diễn tổng số rau bác Cường mua là \(x + y + z = 39\).
c) Đúng.
Số tiền bác Cường mua mỗi loại rau là như nhau nên ta có tỉ lệ thức \(6x = 8y = 4z\) hay
\(\frac{x}{{\frac{1}{6}}} = \frac{y}{{\frac{1}{8}}} = \frac{z}{{\frac{1}{4}}}.\)
d) Sai.
Theo tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có:
\(\frac{x}{{\frac{1}{6}}} = \frac{y}{{\frac{1}{8}}} = \frac{z}{{\frac{1}{4}}} = \frac{{x + y + z}}{{\frac{1}{6} + \frac{1}{8} + \frac{1}{4}}} = \frac{{39}}{{\frac{{13}}{{24}}}} = 72\).
Suy ra \(x = \frac{1}{6}.72 = 12;y = \frac{1}{8}.72 = 9;z = \frac{1}{4}.72 = 18\).
Do đó, bác Cường mua số mớ rau muống, rau cải, rau đay lần lượt là \(12\) mớ, \(9\) mớ và \(18\) mớ.
Ba xe chở khách từ tỉnh A về tỉnh B trên cùng một quãng đường. Xe thứ nhất đi hết 4 giờ, xe thứ hai đi hết 3 giờ và xe thứ ba đi hết 2 giờ. Biết vận tốc xe thứ ba nhanh hơn xe thứ hai là 20 km/h. Gọi \(x,\,\,y,\,\,z\) \(\left( {x,\,y,\,z > 0,\,\,\,{\rm{km}}} \right)\) lần lượt là vận tốc của xe thứ nhất, xe thứ hai và xe thứ ba. Khi đó:
Vận tốc và thời gian đi được của mỗi xe là hai đại lượng tỉ lệ thuận.
\(4x = 3y = 2z\).
\(y - z = 20.\)
Vận tốc của ba xe lần lượt là \(30\,\,{\rm{km/h, 40 km/h, 60 km/h}}{\rm{.}}\)
a) Sai.
Vận tốc và thời gian đi được của mỗi xe là hai đại lượng tỉ lệ nghịch.
b) Đúng.
Vì xe thứ nhất đi hết 4 giờ, xe thứ hai đi hết 3 giờ và xe thứ ba đi hết 2 giờ nên ta có:
\(4x = 3y = 2z\).
c) Sai.
Vì vận tốc xe thứ ba nhanh hơn xe thứ hai là 20 km/h nên ta có: \(z - y = 20.\)
d) Đúng.
Ta có: \(4x = 3y = 2z\) nên \(\frac{x}{3} = \frac{y}{4} = \frac{z}{6}\).
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có:
\(\frac{x}{3} = \frac{y}{4} = \frac{z}{6} = \frac{{z - y}}{{6 - 4}} = \frac{{20}}{2} = 10\).
Suy ra \(x = 30,\,\,y = 40,\,\,z = 60\).
Vậy vận tốc của ba xe lần lượt là \(30\,\,{\rm{km/h, 40 km/h, 60 km/h}}{\rm{.}}\)
Chị Linh bán được \(111\) chiếc áo gồm ba loại. Áo phông màu trắng giá \(100\) nghìn đồng một chiếc áo, áo phông màu đen giá \(80\) nghìn đồng một chiếc áo, áo phông màu xanh giá \(120\) nghìn đồng một chiếc. Biết rằng số tiền chị Linh bán được của ba loại áo phông là như nhau. Gọi \(x;y;z\) lần lượt là số áo phông chị Linh bán gồm áo phông màu trắng, áo phông màu đen và áo phông màu xanh.
Điều kiện của \(x;y;z\) là \(x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\) và \(x,y,z < 111.\)
Phương trình biểu diễn tổng số áo chị Linh bán được là \(x + y + z = 111\).
Vì số tiền chị Linh bán được của mỗi loại áo phông là như nhau nên ta có tỉ lệ thức \(\frac{x}{{\frac{1}{{80}}}} = \frac{y}{{\frac{1}{{100}}}} = \frac{z}{{\frac{1}{{120}}}}\).
Chị Linh bán số áo phông đen nhiều hơn số áo phông xanh là \(15\) chiếc áo.
a) Đúng.
Gọi \(x;y;z\) lần lượt là số áo phông chị Linh mua gồm áo phông màu trắng, áo phông màu đen và áo phông màu xanh.
Điều kiện của \(x;y;z\) là \(x,y,z \in {\mathbb{N}^*}\) và \(x,y,z < 111.\)
b) Đúng.
Phương trình biểu diễn tổng số áo chị Linh bán được là \(x + y + z = 111\).
c) Sai.
Vì số tiền chị Linh bán được của mỗi loại áo phông là như nhau nên ta có tỉ lệ thức \(100x = 80y = 120z\) hay \(\frac{x}{{\frac{1}{{100}}}} = \frac{y}{{\frac{1}{{80}}}} = \frac{z}{{\frac{1}{{120}}}}\).
d) Đúng.
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau ta có:
\(\frac{x}{{\frac{1}{{100}}}} = \frac{y}{{\frac{1}{{80}}}} = \frac{z}{{\frac{1}{{120}}}} = \frac{{x + y + z}}{{\frac{1}{{100}} + \frac{1}{{80}} + \frac{1}{{120}}}} = \frac{{111}}{{\frac{{37}}{{1200}}}} = 3{\rm{ }}600\).
Suy ra \(x = \frac{1}{{100}}.3{\rm{ }}600 = 36;y = \frac{1}{{80}}.3{\rm{ }}600 = 45;z = \frac{1}{{120}}.3{\rm{ }}600 = 30\).
Vậy chị Linh bán số áo phông màu trắng, đen, xanh lần lượt là \(36\) áo, \(45\) áo và \(30\) áo.
Do đó, chị Linh bán số áo phông đen nhiều hơn số áo phông xanh là \(15\) chiếc áo.
Với số tiền để mua \(60{\rm{ m}}\) vải loại I có thể mua được bao nhiêu mét vải loại II, biết rằng giá tiền vải loại II bằng \(120\% \) giá tiền vải loại I.
Gọi \(x\) là số mét vải loại II mua được (\(x > 0,\) mét)
Vì có cùng số tiền nên số mét vải mỗi loại mua được tỉ lệ nghịch với giá tiền 1 mét, ta có:
\(\frac{{60}}{x} = \frac{{120}}{{100}}\) suy ra \(x = \frac{{60.100}}{{120}} = 50\) (thỏa mãn).
Vậy số mét vải loại II mua được là \(50{\rm{ m}}{\rm{.}}\)
Một ô tô chạy từ A đến B với vận tốc \(72{\rm{ km/h}}\) thì mất \(5\) giờ. Hỏi chiếc ô tô đó chạy từ A đến B với vận tốc \({\rm{60 km/h}}\) thì mất khoảng bao nhiêu thời gian? (Đơn vị: giờ)
Gọi \(x\) là thời gian ô tô đi từ A đến B với vận tốc \({\rm{60 km/h}}\), (\(x > 0\), giờ).
Vì vận tốc tỉ lệ nghịch với thời gian, nên ta có: \(72.5 = 60.x\).
Suy ra \(x = \frac{{72.5}}{{60}} = 6\) (thỏa mãn).
Vậy thời gian ô tô đi từ A đến B với vận tốc \({\rm{60 km/h}}\) là 6 giờ.
Chon biết \(4\) máy cày cày xong một cánh đồng hết \(25\) giờ. Hỏi \(5\) máy cày như thế cày xong cánh đồng đó hết bao nhiêu giờ?
Gọi \(x\) là thời gian 5 máy cày cày xong cánh đồng (\(x > 0,\) giờ)
Vì năng suất làm việc của mỗi máy cày là như nhau và số máy cày tỉ lệ nghịch với thời gian nên ta có:
\(5.x = 4.25\), suy ra \(x = \frac{{4.25}}{5} = 20\) (thỏa mãn).
Vậy 5 máy cày cày xong cánh đồng trong \(20\) giờ.
Cho biết 12 công nhân hoàn thành một công việc trong 16 ngày. Hỏi cần phải tăng thêm bao nhiêu công nhân nữa để có thể hoàn thành công việc trong 12 ngày (năng suất của các công nhân như nhau).
Vì khối lượng công việc không đổi, năng suất mỗi công nhân là như nhau nên số công nhân và số ngày là hai đại lượng tỉ lệ nghịch.
Gọi \(x\) là số công nhân hoàn thành công việc trong 12 ngày.
Khi đó, ta có: \(\frac{x}{{12}} = \frac{{16}}{{12}}\) nên \(x = 16.\)
Vậy số công nhân cần tăng thêm là \(16 - 12 = 4\) (công nhân)
Ba đội công nhân làm ba khối lượng công việc như nhau. Đội công nhân thứ nhất, thứ hai và thứ ba hoàn thành công việc với thời gian lần lượt là 8 ngày, 10 ngày và 12 ngày. Hỏi ba đội công nhân có tất cả bao nhiêu người? Biết rằng năng suất lao động của mỗi người là như nhau và đội thứ ba kém đội thứ nhất 5 công nhân.
Gọi số công nhân trong đội thứ nhất, thứ hai, thứ ba lần lượt là \(x,y,z\) người \(\left( {x,y,z \in {\mathbb{N}^*}} \right)\).
Vì khối lượng công việc như nhau nên số người tỉ lệ nghịch với thời gian.
Theo giả thiết \(x,y,z\) tỉ lệ nghịch với \(8;10;12\) nên ta có: \(8x = 12y = 10z\) và \(x - z = 5.\)
Do đó, ta có: \(\frac{{8x}}{{120}} = \frac{{12y}}{{120}} = \frac{{10z}}{{120}}\) hay \(\frac{x}{{15}} = \frac{y}{{12}} = \frac{z}{{10}}\).
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có: \(\frac{x}{{15}} = \frac{y}{{12}} = \frac{z}{{10}} = \frac{{x - z}}{{15 - 10}} = \frac{5}{5} = 1\).
Ta tìm được: \(x = 15,y = 12,z = 10.\)
Do đó, số công nhân trong đội thứ nhất, thứ hai, thứ ba lần lượt là 15, 12, 10 người.
Vậy ba đội công nhân có tất cả số người là \(15 + 12 + 10 = 37\) (người).






