
11 câu hỏi
Bán kính đường tròn đáy là: 12 : 2 = 6 (cm).
Đường sinh của hình nón là: \[l = \sqrt {{8^2} + {6^2}} = \sqrt {100} = 10\] (cm).
Diện tích xung quanh của hình nón là:
S = πrl = π.6.10 = 60π ≈ 60.3,14 = 188,4 (cm2).
Bán kính đường tròn đáy của hình nón là: 4a : 2 = 2a.
Diện tích xung quanh của hình nón là:
S = πrl = π.2a.5a = 10πa2 ≈ 10.3,14.a2 = 31,4a2 (đơn vị diện tích).
a) Gọi bán kính đường tròn đáy bằng r (cm) (r > 0).
Khi đó, diện tích xung quanh của hình nón đó là: πr.15 = 15πr (cm3).
Theo bài, diện tích xung quanh của hình nón là 135π cm2 nên ta có:
135π = 15πr, suy ra r = 9 cm.
Vậy diện tích toàn phần của hình nón đó là:
135π + π.92 = 216π (cm2).
b) Ta có công thức tính độ dài đường sinh qua chiều cao và bán kính đáy của hình nón là:
l2 = h2 + r2. Suy ra h2 = l2 – r2.
Do đó, chiều cao của hình nón đó là:
\(h = \sqrt {{{15}^2} - {9^2}} = \sqrt {225 - 81} = \sqrt {144} = 12\;\) (cm).
Ta có diện tích của tam giác OHA vuông tại H là \[\frac{1}{2}OH \cdot HA\] (cm2).
Theo bài, tam giác OHA vuông cân tại H có diện tích bằng 4 cm2 nên \[\frac{1}{2}OH \cdot HA = 4\]
Suy ra OH.HA = 8
Do đó \[OH = HA = 2\sqrt 2 \] cm (do ∆OHA vuông cân tại H).
Xét ∆OHA vuông tại H, theo định lí Pythagore, ta có:
OA2 = OH2 + HA2
Suy ra \[OA = \sqrt {{{\left( {2\sqrt 2 } \right)}^2} + {{\left( {2\sqrt 2 } \right)}^2}} = \sqrt {8 + 8} = \sqrt {16} = 4\] (cm).
Vậy diện tích xung quanh của hình nón đó là:
\(\pi \cdot HA \cdot OA = \pi \cdot 2\sqrt 2 \cdot 4 = 8\sqrt 2 \pi \approx 8\sqrt 2 \cdot 3,14 \approx 36\;\) (cm2).
Vì ABCD là hình chóp tứ giác đều nên AB = AC = AD = BC = CD = DB = a.
Vì O là tâm của đường tròn ngoại tiếp ∆BCD nên bán kính R của đường tròn tâm O là \[R = \frac{{a\sqrt 3 }}{3}.\]
Hình nón (N) có bán kính đáy là \(R = \frac{{a\sqrt 3 }}{3}\) và đường sinh là AB = a nên diện tích toàn phần của nó là:
\(\pi \cdot \frac{{a\sqrt 3 }}{3} \cdot a + \pi \cdot {\left( {\frac{{a\sqrt 3 }}{3}} \right)^2} = \frac{{\pi {a^2}\left( {1 + \sqrt 3 } \right)}}{3}.\)
Giả sử hình nón có bán kính đáy là r, chiều cao là h.
Khi đó thể tích của hình nón là: \(V = \frac{1}{3}\pi {r^2}h.\)
⦁ Nếu bán kính đáy của một hình nón tăng lên hai lần và giữ nguyên chiều cao thì thể tích của hình nón đó là: \[{V_1} = \frac{1}{3}\pi \cdot {\left( {2r} \right)^2}h = 4 \cdot \frac{1}{3}\pi {r^2}h = 4V.\]
Tức là thể tích lúc này của hình nón đã tăng lên 4 lần. Do đó phát biểu a) là sai.
⦁ Nếu chiều cao của một hình nón tăng lên hai lần và giữ nguyên bán kính đáy thì thể tích của hình nón đó là: \[{V_2} = \frac{1}{3}\pi \cdot {r^2} \cdot 2h = 2 \cdot \frac{1}{3}\pi {r^2}h = 2V.\]
Tức là thể tích lúc này của hình nón đã tăng lên 2 lần. Do đó phát biểu b) là đúng.
⦁ Nếu bán kính đáy và chiều cao của một hình nón cùng tăng lên hai lần thì thể tích của hình nón đó là: \[{V_2} = \frac{1}{3}\pi \cdot {\left( {2r} \right)^2} \cdot 2h = 8 \cdot \frac{1}{3}\pi {r^2}h = 8V.\]
Tức là thể tích lúc này của hình nón đã tăng lên 8 lần. Do đó phát biểu c) là sai.
Vậy phát biểu a) và c) là sai.
Gọi bán kính đáy của hình nón đó là r (cm) (r > 0).
Kí hiệu diện tích đáy, diện tích toàn phần và diện tích xung quanh của hình nón đó lần lượt là Sđáy, Stp, Sxq.
Diện tích đáy của hình nón đó là: Sđáy = πr2 (cm2).
Ta có Stp = Sxq + Sđáy.
Nên 115π = 65π + πr2
Suy ra πr2 = 50π
Do đó r2 = 50, từ đó suy ra \(r = \sqrt {50} = 5\sqrt 2 \;\) (m) (do r > 0).
Mặt khác, diện tích xung quanh của hình nón là 65π cm2 nên đường sinh l của nó thỏa mãn: \(\pi \cdot 5\sqrt 2 \cdot l = 65\pi .\)
Suy ra \(l = \frac{{65\pi }}{{5\sqrt 2 \cdot \pi }} = \frac{{13\sqrt 2 }}{2}\;\) (cm).
Ta có công thức tính độ dài đường sinh qua chiều cao và bán kính đáy của hình nón là:
l2 = h2 + r2. Suy ra h2 = l2 – r2.
Vậy chiều cao của hình nón đó là:
\(h = \sqrt {{l^2} - {r^2}} = \sqrt {{{\left( {\frac{{13\sqrt 2 }}{2}} \right)}^2} - {{\left( {5\sqrt 2 } \right)}^2}} = \sqrt {\frac{{169 \cdot 2}}{4} - 50} = \sqrt {\frac{{69}}{2}} \approx 6\;\) (cm).
a) Do hình nón đỉnh B và hình nón đỉnh C có cùng đáy nên ta gọi bán kính đáy của hai hình nón là: r (r > 0).
Thể tích của hình nón đỉnh B là: \[V = \frac{1}{3}\pi {r^2} \cdot BH.\]
Thể tích của hình nón đỉnh C là: \[V' = \frac{1}{3}\pi {r^2} \cdot CH.\]
Tỉ số thể tích của hình nón đỉnh B và hình nón đỉnh C là: \[\frac{V}{{V'}} = \frac{{\frac{1}{3}\pi {r^2} \cdot BH}}{{\frac{1}{3}\pi {r^2} \cdot CH}} = \frac{{BH}}{{CH}}.\]
Vậy tỉ số thể tích của hình nón đỉnh B và thể tích của hình nón đỉnh C bằng tỉ số đường cao BH và đường cao CH.
b) Theo chứng minh ở câu a) ta có phát biểu đã nêu là đúng.
Lượng kem ở phía trong cốc của một chiếc kem chính là thể tích của hình nón có bán kính là \(\frac{6}{2} = 3\) cm và chiều cao là 10 cm, và bằng:
\[\frac{1}{3} \cdot \pi \cdot {3^2} \cdot 10 = 30\pi \;({\rm{c}}{{\rm{m}}^3}).\]
Lượng kem đổ dư thêm lên phía trên miệng cốc của một chiếc kem là:
30π. 10% = 3π (cm3).
Lượng kem mà cơ sở sản xuất A cần chuẩn bị để làm ra 1 500 chiếc kem là:
(30π + 3π) .1 500 = 49 500π ≈ 49 500 . 3,14 = 155 430 (cm3).
Gọi bán kính đường tròn đáy của đống cát hình nón đó là r (m) (r > 0).
Do hình nón có chu vi đáy bằng 9,42 m nên ta có 2πr = 9,42 (m).
Suy ra: \(r = \frac{{9,42}}{{2\pi }} \approx \frac{{9,42}}{{2 \cdot 3,14}} = 1,5\;\) (m).
Thể tích đống cát có dạng hình nón là:
\(\frac{1}{3}\pi {r^2}h \approx \frac{1}{3} \cdot 3,14 \cdot 1,{5^2} \cdot 1,2 = 2,826\;\) (m3).
Thể tích thùng chứa của xe có dạng hình hộp chữ nhật là:
1,57 . 0,8 . 0,4 = 0,5024 (m3).
Mỗi chuyến xe thực chở là:
0,5024.(100% – 5%) = 0,5024 . 95% = 0,47728 (m3).
Ta có: 2,826 : 0,47728 ≈ 5,921.
Vậy để chuyển hết đống cát trên bác Hà cần sử dụng ít nhất 6 chuyến xe và phải dùng số tiền ít nhất là: 6 . 90 000 = 540 000 (đồng).
Một số hình ảnh hình nón trong thực tế:

Bạn có thích hoạt động này không?
Ý kiến của bạn sẽ giúp chúng tôi đề xuất nội dung phù hợp hơn.



























