Giải SBT Toán 8 Cánh Diều Hình thang cân có đáp án
7 câu hỏi
Cho tứ giác ABCD có \(\widehat C = \widehat D\) và AD = BC. Chứng minh tứ giác ABCD là hình thang cân.

Gọi I là giao điểm của AD và BC.
Do \(\widehat C = \widehat D\) nên tam giác ICD cân tại I. Suy ra ID = IC.
Mà AD = BC; ID = IA + AD; IC = IB + BC
Suy ra IA = IB.
Do đó, tam giác IAB cân tại I.
Xét DICD cân tại I có \(\widehat D = \widehat C = \frac{{180^\circ - \widehat I}}{2}\).
Xét DIAB cân tại I có \(\widehat {IAB} = \widehat {IBA} = \frac{{180^\circ - \widehat I}}{2}\).
Do đó \(\widehat {IAB} = \widehat D\), mà \(\widehat {IAB}\) và \(\widehat D\) nằm ở vị trí đồng vị
Suy ra AB // CD.
Tứ giác ABCD có AB // CD và \(\widehat C = \widehat D\) nên ABCD là hình thang cân.
Cho hình thang cân ABCD có AB // CD, AB < CD, hai đường chéo AC và BD cắt nhau tại P, hai cạnh bênAD và BC kéo dài cắt nhau tại Q. Chứng minh PQ là đường trung trực của hai đáy hình thang cân ABCD.

• Xét ∆ACD và ∆BDC có:
AD = BC;
\(\widehat {ADC} = \widehat {BCD}\) (do ABCD là hình thang cân);
CD là cạnh chung
Do đó ∆ACD = ∆BDC (c.g.c).
Suy ra \(\widehat {ACD} = \widehat {BDC}\) (hai góc tương ứng)
Tam giác PCD có \(\widehat {PCD} = \widehat {PDC}\) nên là tam giác cân tại P.
Suy ra PC = PD.
Mà AC = BD (do ∆ACD = ∆BDC);
AC = AP + PC; BD = PD + BD
Suy ra PA = PB nên P nằm trên đường trung trực của AB (1)
• Do AB // CD nên \(\widehat {QAB} = \widehat {ADC};\widehat {QBA} = \widehat {BCD}\) (các cặp góc đồng vị).
Mặt khác, \(\widehat {ADC} = \widehat {BCD}\) (do ∆ACD = ∆BDC) nên \(\widehat {QAB} = \widehat {QBA}\).
Do đó, tam giác QAB cân tại Q.
Suy ra QA = QB nên Q nằm trên đường trung trực của AB (2)
Từ (1) và (2) suy ra PQ là đường trung trực của AB.
• Ta có: AD = BC và PA = PB suy ra QD = QC.
Do đó Q nằm trên đường trung trực của CD.
Mặt khác PC = PD (chứng minh trên) nên P cũng nằm trên đường trung trực của CD.
Suy ra PQ là đường trung trực của CD.
Vậy PQ là đường trung trực của cả hai đoạn AB và CD.
Cho hình thang cân ABCD có AB // CD, AB = 3 cm, CD = 6 cm, AD = 2,5 cm. Gọi M, N lần lượt là hình chiếu của A, B trên đường thẳng CD. Tính độ dài các đoạn thẳng DM, DN, AM.

• Xét ∆ADM vuông tại M và ∆BCN vuông tại N có:
AD = BC;\(\widehat {ADM} = \widehat {BCN}\)(do ABCD là hình thang cân)
Do đó ∆ADM = ∆BCN (cạnh huyền – góc nhọn).
Suy ra AM = BN; DM = CN (các cặp cạnh tương ứng)
• Do AB // CD mà BN ⊥ CD nên BN ⊥ AB, do đó tam giác ABN vuông tại B.
Xét ∆ABN vuông tại B và ∆NMA vuông tại M có:
\(\widehat {BAN} = \widehat {MNA}\)(2 góc so le trong của AB // CD);
Cạnh AN chung
Do đó ∆ABN = ∆NMA (cạnh huyền – góc nhọn).
Suy ra AB = NM (hai cạnh tương ứng)
Mà AB = 3 cm nên NM = 3 cm.
• Ta có DM + NM + CN = CD và DM = CN nên 2DM + 3 = 6.
Suy ra DM = 1,5 cm.
Mà DN = DM + NM = 1,5 + 3 = 4,5 cm.
Trong tam giác ADM vuông tại M, ta có: AD2 = AM2 + DM2.
Suy ra AM2 = AD2 ‒ DM2 = 2,52 ‒ 1,52 = 4.
Vậy \(AM = \sqrt 4 = 2\;\;\left( {{\rm{cm}}} \right)\).
Cho tam giác ABC cân tại A. Lấy điểm M, N lần lượt trên cạnh AB, AC sao cho AM = AN.
Chứng minh tứ giác BMNC là hình thang cân.

Do AM = AN nên ∆AMN cân tại A.
Xét ∆AMN cân tại A có: \[\widehat {AMN} = \widehat {ANM} = \frac{{180^\circ - \widehat A}}{2}\].
Xét ∆ABC đều hay cũng cân tại A có \[\widehat {ABC} = \widehat {ACB} = \frac{{180^\circ - \widehat A}}{2}\].
Suy ra \[\widehat {AMN} = \widehat {ABC}\,\,\left( { = \frac{{180^\circ - \widehat A}}{2}} \right)\]
Mà \(\widehat {AMN}\) và \(\widehat {ABC}\) nằm ở vị trí đồng vị, suy ra MN // BC.
Tứ giác BMNC có MN // BC và \(\widehat {MBC} = \widehat {NCB}\) nên BMNC là hình thang cân.
Cho tam giác ABC cân tại A. Lấy điểm M, N lần lượt trên cạnh AB, AC sao cho AM = AN.
Xác định vị trí các điểm M, N để BM = MN = NC.
Do BM = MN nên tam giác MBN cân tại M. Suy ra \(\widehat {MNB} = \widehat {MBN}\).
Mà MN // BC nên \(\widehat {MNB} = \widehat {NBC}\) (hai góc so le trong), suy ra \(\widehat {MBN} = \widehat {NBC}\).
Do đó, BN là tia phân giác của góc ABC.
Tương tự, ta cũng chứng minh được CM là tia phân giác của góc ACB.
Dễ thấy, nếu các điểm M, N được xác định sao cho BN, CM lần lượt là tia phân giác của góc ABC, ACB thì BN = MN = CN.
Vậy M là giao điểm của AB và tia phân giác của góc ACB, N là giao điểm của AC và tia phân giác của góc ABC thì BN = MN = CN.
Cho tam giác đều ABC có độ dài cạnh là 6 cm. Trên tia BA, CA lần lượt lấy điểm D, E sao cho AD = AE = 2 cm (Hình 12).
Tứ giác BCDE là hình gì? Vì sao?

Tam giác đều ABC có AB = BC = AC = 6 cm; \(\widehat {BAC} = \widehat {CBA} = \widehat {ACB} = 60^\circ \).
Ta có: \(\widehat {DAE} = \widehat {BAC}\) (hai góc đối đỉnh) nên \(\widehat {DAE} = 60^\circ \).
Tam giác ADE có AD = AE và \(\widehat {DAE} = 60^\circ \) nên ∆ADE là tam giác đều.
Suy ra \(\widehat {ADE} = 60^\circ \). Do đó \(\widehat {CBA} = \widehat {ADE}\) (vì cùng bằng 60°).
Mà \(\widehat {CBA}\) và \(\widehat {ADE}\) nằm ở vị trí so le trong, suy ra BC // DE.
Ta có: AB = AC và AD = AE, mà BD = AB + AD, CE = AC + AE
Suy ra BD = CE.
Tứ giác BCDE có BC // DE và BD = CE nên BCDE là hình thang cân.
Cho tam giác đều ABC có độ dài cạnh là 6 cm. Trên tia BA, CA lần lượt lấy điểm D, E sao cho AD = AE = 2 cm (Hình 12).
Tính độ dài đoạn thẳng CD (làm tròn kết quả đến hàng phần mười của centimét).

Kẻ DH vuông góc với CE tại H.

Xét ∆ADH vuông tại H và ∆EDH vuông tại H có:
ED = AD (chứng minh câu a), cạnh DH chung
Do đó ∆ADH = ∆EDH (cạnh huyền – cạnh góc vuông).
Suy ra AH = EH (hai cạnh tương ứng)
Hay H là trung điểm của AE nên \(AH = EH = \frac{{AE}}{2} = \frac{2}{2} = 1{\rm{\;}}\;\;\left( {{\rm{cm}}} \right)\).
Áp dụng định lý Pythagore cho tam giác ADH vuông tại H, ta có: AD2 = AH2 + DH2.
Suy ra DH2 = AD2 ‒ AH2 = 22 ‒ 12 = 3.
Ta có: CH = AC + AH = 6 + 1 = 7 cm.
Áp dụng định lý Pythagore cho tam giác CDH vuông tại H, ta có: CD2 = CH2 + DH2.
Suy ra CD2 = 72 + 3 = 49 + 3 = 52.
Vậy \(CD = \sqrt {52} \approx 7,2\;\;\left( {{\rm{cm}}} \right)\).


