Đề kiểm tra Bài tập cuối chương 6 lớp 12 (có lời giải) - Đề 1
22 câu hỏi
Cho hai biến cố \(A\) và \(B\) bất kì với \(P(B) > 0\). Khẳng định nào dưới đây đúng?
\[P\left( {A|B} \right) = \frac{{P(A \cap B)}}{{P(A)}}\].
\[P\left( {A|B} \right) = \frac{{P(A)}}{{P(A \cap B)}}\].
\[P\left( {A|B} \right) = \frac{{P(B)}}{{P(A \cap B)}}\].
\[P\left( {A|B} \right) = \frac{{P(A \cap B)}}{{P(B)}}\].
Với hai biến cố \(A\) và \(B\) bất kì với \(P(B) > 0\). Ta có\[P\left( {A|B} \right) = \frac{{P(A \cap B)}}{{P(B)}}\].
Cho hai biến cố \[A\] và \[B\]. Chọn mệnh đề đúng?
\[P\left( {A \cap B} \right) = P\left( B \right).P\left( {B|A} \right)\].
\[P\left( {A|B} \right) = P\left( {A|\bar B} \right)\].
\[P\left( B \right) = P\left( {B|\bar A} \right)\].
\[P\left( {A \cap B} \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)\].
Ta có: \[P\left( {A \cap B} \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) = P\left( B \right).P\left( {A|B} \right)\].
Cho hai biến cố \[A\] và \[B\], công thức tính xác suất toàn phần là
\[P\left( A \right) = P\left( B \right).P\left( {A|\overline B } \right) + P\left( {\bar B} \right).P\left( {A|B} \right)\].
\[P\left( B \right) = P\left( A \right).P\left( {A|\overline B } \right) + P\left( {\overline A } \right).P\left( {A|B} \right)\].
\[P\left( A \right) = P\left( B \right).P\left( {A|B} \right) + P\left( {\bar B} \right).P\left( {A|\bar B} \right)\].
\[P\left( B \right) = P\left( {\overline A } \right).P\left( {A|\overline B } \right) + P\left( A \right).P\left( {A|B} \right)\].
Ta có: \[P\left( A \right) = P\left( B \right).P\left( {A|B} \right) + P\left( {\bar B} \right).P\left( {A|\bar B} \right)\]
Cho hai biến cố \[A\] và \[B\]là hai biến cố ngẫu nhiên mà\(P(A) > 0\),\(P(B) > 0\), công thức Bayes là
\[P\left( {B|A} \right) = \frac{{P\left( B \right).P\left( {A|B} \right)}}{{P\left( A \right)}}\].
\[P\left( {B|A} \right) = \frac{{P\left( A \right).P\left( {A|B} \right)}}{{P\left( B \right)}}\].
\[P\left( {B|A} \right) = \frac{{P\left( B \right).P\left( {B|A} \right)}}{{P\left( A \right)}}\].
\[P\left( {B|A} \right) = \frac{{P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)}}{{P\left( B \right)}}\].
Ta có: \[P\left( {B|A} \right) = \frac{{P\left( B \right).P\left( {A|B} \right)}}{{P\left( A \right)}}\].
Cho hai biến cố \(A,\,B\) có \({\rm{P}}(B) = 0,8;{\rm{P}}(A \cap B) = 0,1\). Kết quả của xác suất sau \({\rm{P}}(A\mid B)\) bằng bao nhiêu?
\(\frac{1}{6}\).
\(\frac{3}{7}\).
\(\frac{3}{5}\).
\(\frac{1}{8}\).
Ta có: \({\rm{P}}(A \cap B) = P\left( B \right).{\rm{P}}(A\mid B) \Leftrightarrow {\rm{P}}(A\mid B) = \frac{{{\rm{P}}(A \cap B)}}{{{\rm{P}}(B)}} = \frac{{0,1}}{{0,8}} = \frac{1}{8}.\)
Cho hai biến cố \(A,\,B\) có \({\rm{P}}(A) = \frac{7}{{15}};{\rm{P}}(AB) = \frac{{23}}{{145}}\). Kết quả của xác suất sau \[{\rm{P}}(B\mid A)\] bằng bao nhiêu?
\(\frac{{69}}{{203}}\).
\(\frac{{19}}{{135}}\).
\(\frac{9}{{23}}\).
\(\frac{{41}}{{105}}\).
Ta có: \[{\rm{P}}(AB) = P\left( A \right).{\rm{P}}(B\mid A) \Leftrightarrow {\rm{P}}(B\mid A) = \frac{{{\rm{P}}(AB)}}{{{\rm{P}}(A)}} = \frac{{23}}{{145}}:\frac{7}{{15}} = \frac{{69}}{{203}}.\]
Một trường trung học phổ thông có 600 học sinh, trong đó có 245 học sinh nam và 355 học sinh nữ. Tổng kết học kỳ I, có 170 học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi, trong đó có 80 học sinh nam và 90 học sinh nữ. Chọn ra ngẫu nhiên một học sinh trong số 600 học sinh đó. Tính xác suất để học sinh được chọn có danh hiệu học sinh giỏi và là nam (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).
\(\frac{5}{{19}}\).
\(\frac{{12}}{{31}}\).
\(\frac{{11}}{{45}}\).
\(\frac{{16}}{{49}}\).
Xét hai biến cố sau:
A: "Học sinh được chọn ra đạt điểm giỏi";
\(B\): "Học sinh được chọn ra là học sinh nam".
Khi đó, xác suất để học sinh được chọn ra đạt danh hiệu học sinh giỏi và là nam, chính là xác suất của \(A\) với điểu kiện \(B\).
\({\rm{P}}(A \cap B) = \frac{{80}}{{600}} = \frac{2}{{15}}{\rm{. }}\)
Do có 245 học sinh nam nên \({\rm{P}}(B) = \frac{{245}}{{600}} = \frac{{49}}{{120}}\). Vì thế, ta có;
\({\rm{P}}(A\mid B) = \frac{{{\rm{P}}(A \cap B)}}{{{\rm{P}}(B)}} = \frac{{\frac{2}{{15}}}}{{\frac{{49}}{{120}}}} = \frac{{16}}{{49}}.\)
Vậy xác suất để học sinh được chọn ra đạt danh hiệu học sinh giỏi và là nam bằng \(\frac{{16}}{{49}}\).
Trong một hộp kín có 10 viên bi vàng và 6 viên bi đỏ, các viên bi có cùng kích thước và khối lượng. Bạn Phong lấy ngẫu nhiên một viên bi từ trong hộp, không trả lại. Sau đó bạn Trung lấy ngẫu nhiên một trong 15 viên bi còn lại. Tính xác suất để Phong lấy được viên bi đỏ và Trung lấy được viên bi vàng.
\(\frac{3}{{17}}\).
\(\frac{1}{2}\).
\(\frac{1}{4}\).
\(\frac{2}{5}\).
Gọi \(A\) là biến cố: "Bạn Phong lấy được viên bi đỏ ";
\(B\) là biến cố: "Bạn Trung lấy được viên bi vàng ".
Vì \(n\left( A \right) = 6\) nên \(P\left( A \right) = \frac{6}{{16}} = \frac{3}{8}\).
Nếu \(A\) xảy ra tức là bạn Phong lấy được viên bi đỏ thì trong hộp có \(15\) viên bi với 10 viên bi vàng.
Vậy \(P\left( {B\mid A} \right) = \frac{{10}}{{15}} = \frac{2}{3}\).
Theo công thức nhân xác suất: \(P\left( {AB} \right) = P\left( A \right) \cdot P\left( {B\mid A} \right) = \frac{3}{8} \cdot \frac{2}{3} = \frac{1}{4}\).
Vậy xác suất để Phong lấy được viên bi đỏ và Trung lấy được viên bi vàng bằng \(\frac{1}{4}.\)
Một nhóm học sinh có 20 học sinh, trong đó có 12 em thích học môn Toán, 10 em thích học môn Văn, 2 em không thích học cả hai môn Toán và Văn. Chọn ngẫu nhiên 1 học sinh, xác xuất để học sinh đó thích học môn Toán biết rằng học sinh đó thích học môn Văn là
\(\frac{1}{5}\).
\(\frac{3}{{10}}\).
\(\frac{3}{5}\).
\(\frac{2}{5}\).
Gọi \(A\) là biến cố “học sinh đó thích học môn Toán”,
\(B\) là biến cố “học sinh đó thích học môn Văn”
Xác suất để học sinh được chọn thích học môn Toán, biết học sinh đó thích học môn Văn chính là \(P\left( {A|B} \right)\).
Ta có \(P\left( A \right) = \frac{{12}}{{20}} = \frac{3}{5}\), \(P\left( B \right) = \frac{{10}}{{20}} = \frac{1}{2}\), \(P\left( {\overline A \,\overline B } \right) = \frac{2}{{20}} = \frac{1}{{10}}\)
\(P\left( {A \cup B} \right) = 1 - P\left( {\overline A \,\overline B } \right) = 1 - \frac{1}{{10}} = \frac{9}{{10}}\)
Ta có \(P\left( {AB} \right) = P\left( A \right) + P\left( B \right) - P\left( {A \cup B} \right) = \frac{3}{5} + \frac{1}{2} - \frac{9}{{10}} = \frac{1}{5}\)
\(P\left( {A|B} \right) = \frac{{P\left( {AB} \right)}}{{P\left( B \right)}} = \frac{1}{5}:\frac{1}{2} = \frac{2}{5}\)
Một hộp gồm một số viên bi cùng loại, chỉ khác màu, trong đó có 6 bi xanh, còn lại là bi màu đỏ. Minh lấy ngẫu nhiên 1 viên bi trong hộp (không bỏ lại), sau đó Minh lại lấy ngẫu nhiên tiếp 1 viên bi trong hộp. Biết xác suất để Minh lấy được cả hai viên bi màu xanh là…..Hỏi ban đầu trong túi có số viên bi đỏ là bao nhiêu?
1.
2.
3.
4.
Gọi \(A\) là biến cố “Lần 1 Minh lấy được bi màu xanh”,
\(B\) là biến cố “Lần 2 Minh lấy được bi có màu xanh”
Khi đó \(AB\) là biến cố “Cả hai lần Minh lấy được bi màu xanh”. Ta có \(P\left( {AB} \right) = \frac{5}{7}\)
Gọi \(x\) là số kẹo ban đầu trong túi \(\left( {x > 0} \right)\)
Ta có \(P\left( A \right) = \frac{6}{n}\), \(P\left( {B|A} \right) = \frac{5}{{n - 1}}\).
Theo công thức nhân xác suất, ta có \(P\left( {AB} \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)\)
Hay \(\frac{6}{n} \cdot \frac{5}{{n - 1}} = \frac{5}{7}\)\( \Rightarrow n = 7\).
Vậy số bi đỏ trong túi ban đầu là \(7 - 6 = 1\) bi
Bạn Tuấn hằng ngày ăn sáng bằng xôi hoặc bún. Nếu hôm nay bạn ăn sáng bằng xôi thì xác suất để hôm sau bạn ăn sáng bằng bún là \(0,7\). Xét một tuần mà thứ ba bạn ăn sáng bằng xôi. Biết xác suất để thứ năm tuần đó, bạn Tuấn ăn sáng bằng bún là \(0,63\). Hỏi nếu hôm nay bạn ăn sáng bằng bún thì xác suất để hôm sau bạn ăn sáng bằng xôi là
\(0,1\).
\(0,2\).
\(0,3\).
\(0,4\).
Giả sử nếu hôm nay bạn ăn sáng bằng bún thì xác suất để hôm sau bạn ăn sáng bằng xôi là \(x\) \(\left( {x < 1} \right)\).
Gọi \(A\) là biến cố “Thứ tư, bạn Tuấn ăn sáng bằng bún”,
\(B\) là biến cố “Thứ năm, bạn Tuấn ăn sáng bằng bún”, khi đó \(P\left( B \right) = 0,63\)
Ta cần tính \(P\left( {\overline B \backslash A} \right)\)
Ta có thứ ba bạn Tuấn ăn sáng bằng xôi nên \(P\left( A \right) = 0,7\), \(P\left( {\overline A } \right) = 1 - 0,7 = 0,3\)
Vì nếu hôm nay bạn ăn sáng bằng bún thì xác suất để hôm sau bạn ăn sáng bằng xôi là \(x\) và ăn sáng bằng bún là \(1 - x\) hay \(P\left( {B|A} \right) = 1 - x\).
Ta có \(P\left( {B|\overline A } \right) = 0,7\)
Theo công thức xác suất toàn phần: \(P\left( B \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) + P\left( {\overline A } \right).P\left( {B\backslash \overline A } \right)\)
\( \Rightarrow 0,63 = 0,7.\left( {1 - x} \right) + 0,3.0,7\)
\( \Rightarrow x = 0,4\)
Vậy nếu hôm nay bạn ăn sáng bằng bún thì xác suất để hôm sau bạn ăn sáng bằng xôi là \(0,4\).
Giả sử có một loại bệnh mà tỉ lệ người mắc bệnh là \(0,1\% \). Giả sử có một loại xét nghiệm, mà ai mắc bệnh khi xét nghiệm thì có \(95\% \) phản ứng dương tính, nhưng tỉ lệ phản ứng dương tính giả là \(8\% \) (tức là trong số những người không bị bệnh có \(8\% \) số người xét nghiệm lại có phản ứng dương tính). Biết khi một người xét nghiệm có phản ứng dương tính thì khả năng mắc bệnh của người đó là \(a\,\% \). Hỏi \(a\) gần số nào nhất trong các số sau?
\(1,07\).
\(1,12\).
\(1,17\).
\(1,22\).
Gọi \(A\) là biến cố “Người được chọn ra không mắc bệnh”, khi đó \(P\left( A \right) = 1 - 0,1\% = 0,999\), \(P\left( {\overline A } \right) = 0,001\).
\(B\) là biến cố “Người được chọn ra có phản ứng dương tính”, khi đó \(P\left( {B|A} \right) = 8\% = 0,08\) và \(P\left( {B|\overline A } \right) = 0,95\)
Khả năng mắc bệnh của một người xét nghiệm có phản ứng dương tính là \(P\left( {\overline A |B} \right)\)
Theo công thức Bayes, ta có \(P\left( {\overline A |B} \right) = \frac{{P\left( {\overline A } \right).P\left( {B|\overline A } \right)}}{{P\left( {\overline A } \right).P\left( {B|\overline A } \right) + P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)}} = \frac{{0,001.0,95}}{{0,001.0,95 + 0,999.0,08}} = \frac{{95}}{{8087}} \approx 1,17\% \)
Vậy khả năng mắc bệnh của một người xét nghiệm có phản ứng dương tính là \(1,17\% \).
Cho hai biến cố \(A\)và \(B\)là hai biến cố độc lập, với \(P\left( {\overline A } \right) = 0,4\) và \(P\left( B \right) = 0,7\).
\[P\left( A \right) = 0,6\].
\[P\left( {\left. A \right|\overline B } \right) = 0,7\].
\[P\left( {\overline {\left. A \right|} B} \right) = 0,4\].
\[P\left( {\overline {\left. B \right|} \overline A } \right) = 0,6\].
a) Đ Vì \(P\left( {\overline A } \right) = 0,4\)nên \[P\left( A \right) = 1 - P\left( {\overline A } \right) = 1 - 0,4 = 0,6\].
b) S Vì \[A\] và \[B\] độc lập nên \[A\] và \[\overline B \] độc lập.
Do đó, \[P\left( {\left. A \right|\overline B } \right) = P\left( A \right) = 1 - P\left( {\overline A } \right) = 1 - 0,6 = 0,4 \ne 0,7\].
c) Đ Vì \[A\] và \[B\] độc lập nên \[B\] và \[\overline A \] độc lập.
Do đó, \[P\left( {\overline {\left. A \right|} B} \right) = P\left( {\overline A } \right) = 0,4\].
d) S Vì \[A\] và \[B\] độc lập nên \[\overline B \] và \[\overline A \] độc lập.
Do đó, \[P\left( {\overline {\left. B \right|} \overline A } \right) = P\left( {\overline B } \right) = 0,7 \ne 0,6.\]
Một hộp có \(10\) bi xanh và \(8\)bi đen, các viên bi đều có cùng hình dáng, kích thước và khối lượng. Bạn Nam lấy ngẫu nhiên một viên trong hộp, không trả lại. Sau đó Bạn Lan lấy ngẫu nhiên một trong \(17\) viên bi còn lại. Gọi \(A\) là biến cố bạn Nam lấy được một viên bi xanh và \(B\)là biến cố bạn Lan lấy được một viên bi đen.
\[n\left( A \right) = 10\].
\(P\left( A \right) = \frac{5}{9}\)
\[P\left( {\left. B \right|A} \right) = \frac{4}{9}\].
\[P\left( {A.B} \right) = 0,8\].
Giải chi tiết( giải thích)
a) Đ Vì hộp có \(10\) bi xanh nên số phần tử của biến cố \(A\)là \[n\left( A \right) = 10\].
b) Đ Vì bạn Nam lấy ngẫu nhiên 1 viên bi từ hộp chứa \(10\) bi xanh và \(8\) bi đen nên \(n\left( \Omega \right) = 18\)
Do đó, \(P\left( A \right) = \frac{{n\left( A \right)}}{{n\left( \Omega \right)}} = \frac{{10}}{{18}} = \frac{5}{9}\).
c) S Nếu \(A\) xảy ra tức là bạn Nam lấy được bi xanh thì trong hộp có \(17\)viên bi với \(8\)bi đen
Do đó, \[P\left( {\left. B \right|A} \right) = \frac{8}{{17}} \ne \frac{4}{9}\].
d) S Áp dụng công thức nhân xác suất, ta có:
\[P\left( {A.B} \right) = P\left( A \right).P\left( {\left. B \right|A} \right) = \frac{5}{9}.\frac{8}{{17}} = \frac{{40}}{{153}} \approx 0,3 \ne 0,8.\]
Một cửa hàng bán hai loại bóng đèn, trong đó có \(65\% \) bóng đèn là màu trắng và \(35\% \) bóng đèn là màu đỏ, các bóng đèn có kích thước như nhau. Các bóng đèn màu trắng có tỉ lệ hỏng là \(2\% \) và các bóng đèn màu xanh có tỉ lệ hỏng là \(3\% \). Một khách hàng chọn mua ngẫu nhiên \(1\) bóng đèn từ cửa hàng đó. Xét các biến cố:
\(A:\)“Khách hàng chọn được bóng màu trắng”;
\(B:\)“Khách hàng chọn được bóng không hỏng”;
Khi đó:
\(P\left( {\overline A } \right) = 0,65\).
\(P\left( {B|A} \right) = 0,02\).
\(P\left( {B|\overline A } \right) = 0,3\).
\(P\left( B \right) = 0,9765\).
a) S Ta có \(P\left( A \right) = 0,65\) nên \(P\left( {\overline A } \right) = 0,35\).
b) S Vì các bóng đèn màu trắng có tỉ lệ hỏng là \(2\% \) nên \(P\left( {\overline B |A} \right) = 0,02\), suy ra \(P\left( {B|A} \right) = 1 - P\left( {\overline B |A} \right) = 1 - 0,02 = 0,98\).
c) S Vì các bóng đèn màu xanh có tỉ lệ hỏng là \(3\% \) nên \[P\left( {\overline B |\overline A } \right) = 0,03\], suy ra \[P\left( {B|\overline A } \right) = 1 - P\left( {\overline B |\overline A } \right) = 1 - 0,03 = 0,97\].
d) Đ Theo công thức xác suất toàn phần ta có:
\(P\left( B \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) + P\left( {\overline A } \right).P\left( {B|\overline A } \right) = 0,65.0,98 + 0,35.0,97 = 0,9765\).
Một kho hàng chứa \(85\% \) sản phẩm loại I và \(15\% \) sản phẩm loại II, trong đó có \(1\% \) sản phẩm loại I bị hỏng, \(4\% \) sản phẩm loại II bị hỏng. Các sản phẩm có kích thước và hình dạng như nhau. Một khách hàng chọn ngẫu nhiên \(1\) sản phẩm. Xét các biến cố:
\(A:\)“Khách hàng chọn được sản phẩm loại I”;
\(B:\)“Khách hàng chọn được sản phẩm không bị hỏng”;
Khi đó:
\(P\left( A \right) = 0,85\).
\(P\left( {B|A} \right) = 0,99\).
\(P\left( B \right) = 0,9855\).
\(P\left( {A|B} \right) = 0,95\).
a) Đ Ta có \(P\left( A \right) = 0,85\) và \(P\left( {\overline A } \right) = 0,15\).
b) Đ Vì có \(1\% \) sản phẩm loại I bị hỏng nên \(P\left( {\overline B |A} \right) = 0,01\), suy ra\(P\left( {B|A} \right) = 1 - P\left( {\overline B |A} \right) = 1 - 0,01 = 0,99\).
c) Đ Vì có \(4\% \) sản phẩm loại II bị hỏng nên \[P\left( {\overline B |\overline A } \right) = 0,04\], suy ra \[P\left( {B|\overline A } \right) = 1 - P\left( {\overline B |\overline A } \right) = 1 - 0,04 = 0,96\].
Theo công thức xác suất toàn phần ta có
\(P\left( B \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) + P\left( {\overline A } \right).P\left( {B|\overline A } \right) = 0,85.0,99 + 0,15.0,96 = 0,9855\).
d) S Theo công thức Bayes ta có \(P\left( {A|B} \right) = \frac{{P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)}}{{P\left( B \right)}} = \frac{{0,85.0,99}}{{0,9855}} \approx 0,854\).
Cho hai biến cố \(A,B\) thỏa mãn \(P\left( A \right) = 0,21;\,\,P\left( B \right) = 0,52;\,\,P\left( {B|A} \right) = 0,6\). Khi đó \(P\left( {A|B} \right) = \frac{a}{b}\) với \(\frac{a}{b}\) là phân số tối giản, giá trị của \(D = a + b\) là bao nhiêu?
Ta có: \(P\left( {AB} \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) = 0,21.0,6 = 0,126\).
\(P\left( {AB} \right) = P\left( B \right).P\left( {A|B} \right) \Rightarrow P\left( {A|B} \right) = \frac{{P\left( {AB} \right)}}{{P\left( B \right)}} = \frac{{0,126}}{{0,52}} = \frac{{63}}{{260}}\).
Suy ra: \(a = 63\) và \(b = 260\).
Vậy \(D = a + b = 63 + 260 = 323\).
Một hộp có \[20\] viên bi trắng và \[10\] viên bi đen, các viên bi có cùng kích thước và khối lượng. Bạn Bình lấy ngẫu nhiên một viên bi trong hộp, không trả lại. Sau đó bạn An lấy ngẫu nhiên một viên bi trong hộp đó. Gọi \[A\] là biến cố: “An lấy được viên bi trắng”; \[B\] là biến cố: “Bình lấy được viên bi trắng”. Khi đó \(P\left( {A|\bar B} \right) = \frac{a}{b}\), với phân số \(\frac{a}{b}\) là tối giản. Tính giá trị của \(C = a - b\).
Bình có \[30\] cách chọn, An có \[29\] cách chọn một viên bi trong hộp.
Do đó, \(n\left( \Omega \right) = 30.29\).
Bình có \[10\] cách chọn một viên bi đen, An có \[29\] cách chọn từ \[29\] viên bi còn lại.
Do đó, \(n\left( {\bar B} \right) = 10.29\) và \(P\left( {\bar B} \right) = \frac{{n\left( {\bar B} \right)}}{{n\left( \Omega \right)}}\).
Bình có \[10\] cách chọn một viên bi đen, An có \[20\] cách chọn một viên bi trắng trong \[20\] viên bi trắng còn lại.
Do đó \(n\left( {A\bar B} \right) = 10.20\) và \(P\left( {A\bar B} \right) = \frac{{n\left( {A\bar B} \right)}}{{n\left( \Omega \right)}}\).
Khi đó, \(P\left( {A|\bar B} \right) = \frac{{P\left( {A\bar B} \right)}}{{P\left( {\bar B} \right)}} = \frac{{n\left( {A\bar B} \right)}}{{n\left( {\bar B} \right)}} = \frac{{10.20}}{{10.29}} = \frac{{20}}{{29}}\).
Suy ra \(a = 20\) và \(b = 29\).
Vậy \(C = a - b = 20 - 29 = - 9\).
Lớp 11A1 của một trường THPT A có 20% học sinh tham gia Câu lạc bộ Tiếng Anh của trường, trong số đó có 85% học sinh có chứng chỉ IELTS từ 5.5 điểm trở lên. Ngoài ra trong lớp có 10% học sinh không tham gia Câu lạc bộ Tiếng Anh cũng có chứng chỉ IELTS từ 5.5 trở lên. Chọn ngẫu nhiên một học sinh của lớp 11A1. Tính xác suất để chọn được một học sinh có chứng chỉ IELTS từ 5.5 trở lên.
Xét các biến cố: \(A\): "Chọn được học sinh thuộc Câu lạc bộ Tiếng Anh ở lớp 11A1";
\(B\): “Chọn được học sinh trong lớp 11A1 có chứng chỉ IELTS từ 5.5 trở lên”.
Khi đó, \[P\left( A \right) = 0,2;\,\,P\left( {\overline A } \right) = 0,8;\,\,P\left( {B|A} \right) = 0,85;\,\,P\left( {B|\overline A } \right) = 0,1\].
Theo công thức xác suất toàn phần ta có:
\(P\left( B \right) = P\left( A \right).P\left( {B|A} \right) + P\left( {\overline A } \right).P\left( {B|\overline A } \right) = 0,2.0,85 + 0,8.0,1 = 0,25\).
Một kho hàng có \(85\% \) sản phẩm loại I và \(15\% \)sản phẩm loại II, trong đó có \(99\% \)sản phẩm loại I chất lượng tốt, \(96\% \)sản phẩm loại II chất lượng tốt. Các sản phẩm có kích thước và hình dạng như nhau. Một khách hàng chọn ngẫu nhiên 1 sản phẩm. Tính xác suất để khách hàng chọn được sản phẩm loại I và có chất lượng tốt (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).
Xét các biến cố \(A\): "Khách hàng chọn được sản phẩm loại I ";
\(B\): "Khách hàng chọn được sản phẩm chất lượng tốt".
Ta có:
\(P\left( A \right) = 0,85;\) \(P\left( {\overline A } \right) = 0,15;\,P\left( {B|A} \right) = 0,99\); \(P\left( {B|\overline A } \right) = 0,96.\)
Theo công thức xác suất toàn phần, ta có:
\(P\left( B \right) = P\left( A \right)P\left( {B|A} \right) + P\left( {\overline A } \right)P\left( {B|\overline A } \right) = 0,85.0,99 + 0,15.0,96 = 0,9855\)
Theo công thức Bayes, ta có: \(P\left( {A|B} \right) = \frac{{P\left( A \right).P\left( {B|A} \right)}}{{P\left( B \right)}} = \frac{{0,85.0,99}}{{0,9855}} \approx 0,85\).
Trong một kì thi Tốt nghiệp trung học phổ thông, một trường \(X\) có \(60{\rm{\% }}\) học sinh lựa chọn tổ hợp\(D00\) (gồm các môn Toán, Văn, Ngoại ngữ). Biết rằng, nếu một học sinh chọn tổ hợp \(D00\) thì xác suất để học sinh đó đỗ Đại học là \(0,7\); còn nếu một học sinh không chọn tổ hợp \(D00\) thì xác suất để học sinh đó đỗ Đại học là \(0,5\). Chọn ngẫu nhiên một học sinh của trường \({\rm{X}}\) đã Tốt nghiệp trung học phố thông trong kì thi trên. Biết rằng học sinh này đã đỗ Đại học. Tính xác suất để học sinh đó chọn tổ hợp \(D00\) (làm tròn kết quả đến hàng phần trăm).
Phần giải chi tiết
Gọi \(A\) là biến cố: "Học sinh đó chọn tổ hợp \(D00\) "; \(B\) là biến cố: "Học sinh đó đỗ Đại học".
Ta cần tính \(P\left( {A\mid B} \right)\). Theo công thức Bayes, ta cần biết: \(P\left( A \right),P\left( {\overline A } \right),P\left( {B\mid A} \right)\) và \(P\left( {B\mid \overline A } \right)\). Ta có:
\(P\left( A \right) = 0,6;P\left( {\overline A } \right) = 1 - P\left( A \right) = 1 - 0,6 = 0,4\).
\(P\left( {B\mid A} \right)\) là xác suất đế một học sinh đỗ đại học với điều kiện học sinh đó chọn tổ hợp \(D00\) \( \Rightarrow P\left( {B\mid A} \right) = 0,7\)
\(P\left( {B\mid \overline A } \right)\) là xác suất để một học sinh đỗ đại học với điều kiện học sinh đó không chọn tổ hợp
\(D00\)là \(P\left( {B\mid \overline A } \right) = 0,5\)
Thay vào công thức Bayes ta được:
\(P\left( {A\mid B} \right) = \frac{{P\left( A \right) \cdot P\left( {B\mid A} \right)}}{{P\left( A \right) \cdot P\left( {B\mid A} \right) + P\left( {\overline A } \right) \cdot P\left( {B\mid \overline A } \right)}} = \frac{{0,6 \cdot 0,7}}{{0,6 \cdot 0,7 + 0,4 \cdot 0,5}} \approx 0,68.\)
Một cuộc thi có \(36\) bộ câu hỏi, trong đó có \(16\) bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên và \(20\) bộ câu hỏi về chủ đề xã hội. Bạn Hạnh lấy ngẫu nhiên \(1\) bộ câu hỏi (lấy không hoàn lại), sau đó bạn Phúc lấy ngẫu nhiên 1 bộ câu hỏi. Xác suất bạn Phúc lấy được bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên bằng \(\frac{a}{b}\) với \(\frac{a}{b}\) là phân số tối giản. Giá trị \(100a - 99b\) bằng bao nhiêu?
Phần giải chi tiết
Xét các biến cố:
A: "Bạn Hạnh lấy được bộ câu hỏi về chủ đề xã hội";
B: "Bạn Phúc lấy được bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên".
Khi đó, \({\rm{P}}\left( A \right) = \frac{{20}}{{36}} = \frac{5}{9};{\rm{P}}\left( {\overline {A\,} } \right) = 1 - {\rm{P}}\left( A \right) = 1 - \frac{5}{9} = \frac{4}{9}\).
Nếu bạn Hạnh chọn được một bộ câu hỏi về chủ đề xã hội thì sau đó còn 35 bộ câu hỏi, trong đó có 16 bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên, suy ra \({\rm{P}}\left( {B\mid A} \right) = \frac{{16}}{{35}}\).
Nếu bạn Hạnh chọn được một bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên thì sau đó còn 35 bộ câu hỏi, trong đó có 15 bộ câu hỏi về chủ đề tự nhiên, suy ra \({\rm{P}}\left( {B\mid \overline {A\,} } \right) = \frac{{15}}{{35}}\).
Theo công thức xác suất toàn phần, xác suất bạn Phúc lấy được bộ câu hỏi về chủ đề
tự nhiên là: \({\rm{P}}\left( B \right) = {\rm{P}}\left( A \right).{\rm{P}}\left( {B\mid A} \right) + {\rm{P}}\left( {\overline {A\,} } \right).{\rm{P}}\left( {B\mid \overline {A\,} } \right) = \frac{5}{9} \cdot \frac{{16}}{{35}} + \frac{4}{9} \cdot \frac{{15}}{{35}} = \frac{4}{9}\).
Suy ra \(a = 4,b = 9\) và \(100a - 99b = - 491\).





