Đề cương ôn tập cuối kì 2 Tiếng Việt lớp 4 có đáp án - Đề thi tham khảo số 2
10 câu hỏi
- GV cho học sinh đọc đoạn văn bản “Cây đa quê hương” (Trang 80 - SGK Tiếng Việt 4 tập 2 - Kết nối tri thức với cuộc sống). Đảm bảo đọc đúng tốc độ, thời gian 3 - 5 phút/ HS.
- Dựa vào nội dung bài đọc, HS trả lời câu hỏi: Nghĩ về quê hương, tác giả nhớ nhất hình ảnh nào?
- Đọc trôi chảy, lưu loát, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tốc độ đạt yêu cầu đạt 4 điểm. Tùy theo mức độ đọc của học sinh mà giáo viên cho điểm.
- Trả lời câu hỏi: Nghĩ về quê hương, tác giả nhớ nhất hình ảnh cây đa trước xóm.
Đọc đoạn văn sau:
SƯ TỬ VÀ CHUỘT
Trời nóng bức, một con Sư Tử mệt mỏi, chán nản nằm ngủ dưới bóng cây. Một đàn Chuột chạy ngang qua chỗ Sư Tử nghỉ ngơi, trèo cả lên lưng nó để vui đùa. Sư Tử tỉnh dậy, thò vuốt bắt ngay được một con Chuột. Chuột biết chắc mình không có cơ may trốn thoát, liền chắp tay xin lỗi Sư Tử vì sự thô lỗ táo tợn của mình, và bảo rằng mình không đáng bõ bèn gì cho cơn giận của Sư Tử. Nghe lời phân trần nhũn nhặn đó, Sư Tử quyết định thả Chuột ra, vì thấy rằng một con vật tầm thường lại không có khả năng tự vệ như thế quả là không đáng cho mình ra tay giết hại.
Thế rồi một hôm Sư Tử không may bị rơi vào bẫy của những người thợ săn trong rừng. Nó cố hết sức vùng vẫy gầm vang nhưng không thể nào thoát ra được. Chuột nghe tiếng gầm thì biết đây chính là con Sư Tử đã tha mạng sống cho mình bèn chạy tới cứu. Nó bò quanh gặm đứt dây lưới, giúp Sư Tử thoát được ra khỏi chiếc bẫy.
Truyện thai giáo
Con gì chạy qua chỗ Sư Tử đang nghỉ ngơi?
Con Thỏ.
Con Nai.
Con Khỉ.
Con Chuột.
D. Con Chuột.
Chuột đã cứu Sư Tử ra bằng cách nào?
Chuột bò quanh gặm đứt dây lưới.
Chuột đã lừa thợ săn thả Sư Tử.
Chuột gọi Sóc ra giúp mình cắn.
Chuột đổi mạng của mình để cứu Sư Tử.
A. Chuột bò quanh gặm đứt dây lưới.
Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học gì?
Không nên làm ồn ào gây ảnh hưởng đến người khác.
Không nên chơi đùa với những con vật nguy hiểm.
Không nên tha thứ cho người khác khi họ sai.
Cần yêu thương và biết ơn những người đã giúp đỡ mình.
D. Cần yêu thương và biết ơn những người đã giúp đỡ mình.
Viết lại một câu trong bài đọc trên có sử dụng biện pháp nhân hóa:
Chuột biết chắc mình không có cơ may trốn thoát, liền chắp tay xin lỗi Sư Tử vì sự thô lỗ táo tợn của mình.
Điền dấu ngoặc đơn vào vị trí thích hợp trong đoạn văn sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội.
(Sưu tầm)
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) và mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội.
Hãy sắp xếp các từ sau vào bảng thích hợp và cho biết cách viết hoa của tên người khác gì so với cách viết hoa của tên cơ quan tổ chức:
Lê Văn Hữu, Bộ Y tế, Tổ chức Thương mại Thế giơi, Qũy Nhi đồng Liên hợp quốc, Lê Linh, Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh |
Tên người | Tên cơ quan, tổ chức |
………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. | ………………………………………… …………………………………………. …………………………………………. |
Tên người | Tên cơ quan, tổ chức |
Lê Văn Hữu, Lê Linh, Phạm Văn Đồng, Hồ Chí Minh. | Bộ Y tế, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc. |
à Khi viết tên người cần viết hoa các chữ cái đầu trong tên. Còn khi viết tên cơ quan, tổ chức cần viết hoa chữ cái đầu của từng bộ phận tạo thành tên.
Viết đoạn văn ngắn về một người mà em yêu quý, trong đó có sử dụng dấu ngoặc kép để đánh dấu lời đối thoại:
Trong gia đình, người mà em yêu quý nhất là bà ngoại. Hàng ngày, bà vẫn thường đi chợ và nấu cơm cho cả gia đình em ăn. Trước khi đi chợ, bà hay hỏi em: “Hôm nay Linh muốn ăn muốn gì để bà mua nào?”. Và mỗi lần như thế, em sẽ lại được bà nấu cho món ăn yêu thích. Em rất yêu quý bà ngoại và ước gì bà sống với em mãi mãi.
TÂY TIẾN
(trích)
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi.
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Quang Dũng
- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):
· 0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.
· 0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.
- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):
· Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm
· 2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;
· Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.
- Trình bày (0,5 điểm):
· 0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.
· 0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa vài chỗ.
Viết đoạn văn tưởng tượng câu chuyện “Đôi cánh của ngựa trắng” (SGK Tiếng Việt 4 - Kết nối tri thức Tập 1), về sự khôn lớn, trưởng thành của ngựa trắng sau chuyến đi xa cùng đại bàng.
Bài làm tham khảo
Trong các câu chuyện em đã đọc, câu chuyện em thích nhất là “Đôi cánh của ngựa trắng”. Câu chuyện kể rằng hai mẹ con ngựa trắng quấn quýt bên nhau. Ngựa trắng ước ao có cánh như đại bàng núi, đại bàng bảo ngựa trắng muốn có cánh phải đi tìm, đừng suốt ngày quanh quẩn bên mẹ. Ngựa trắng xin phép mẹ đi cùng đại bàng. Trên đường đi ngựa trắng gặp sói muốn ăn thịt ngựa, may mắn đại bàng đã đến cứu kịp thời. Ngựa trắng muốn có đôi cánh của đại bàng làm theo lời đại bàng “chồm” lên phi nước đại, lúc này nó thật sự cảm thấy bốn chân mình có thể bay giống như cánh của đại bàng. Sau chuyến đi cùng đại bàng, ngựa trắng đã khôn lớn hơn rất nhiều. Ngựa trắng nhận ra mỗi người sẽ có những điểm mạnh riêng. Nó hiểu ra không thể bên mẹ mãi được, mình phải tự kiếm ăn và trải nghiệm mọi thứ xung quanh. Nên rèn luyện thêm các kĩ năng để có thể bảo vệ cho mình và cho mẹ cũng như những người xung quanh. Khi đi xa sẽ học được nhiều điều hay, lẽ phải. Em cảm thấy đây là cái kết đẹp, cho ngựa trắng những bài học và trải nghiệm quý giá.








