Bộ 10 đề thi giữa kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều cấu trúc mới có đáp án - Đề 3
12 câu hỏi
I. Đọc thành tiếng: (2 điểm)
- GV cho học sinh đọc văn bản bài “Những hạt gạo ân tình” (trang 9) Tiếng Việt 4 Tập 2 - (Cánh diều)
- Dựa vào nội dung bài đọc, HS thực hiện yêu cầu: Tìm những chi tiết cho thấy người dân Cam-pu-chia rất tin tưởng và yêu quý bộ đội Việt Nam.
I. Đọc thành tiếng (2 điểm)
- Đọc trôi chảy, lưu loát, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, tốc độ đạt yêu cầu đạt 2 điểm. Tùy theo mức độ đọc của học sinh mà giáo viên cho điểm.
- Trả lời câu hỏi: Những chi tiết cho thấy người dân Cam-pu-chia rất tin tưởng và yêu quý bộ đội Việt Nam là: Thấy bộ đội Việt Nam, hơn 200 người cả già, trẻ, gái, trai chạy ra đón, họ vừa khóc vừa níu tay các anh, nói: “Bộ đội đừng về! Pôn Pốt sẽ giết hết dân mất. Bộ đội có đi, cho dân đi cùng với!”
TIẾNG HÁT GIỮA BIỂN TRỜI
Ngoài khơi xa, nơi sóng gió quanh năm, những người lính hải quân vẫn ngày đêm canh giữ biển đảo quê hương. Đảo nhỏ chỉ có gió, nắng và màu xanh bất tận của biển, nhưng trong tim các anh luôn cháy bỏng tình yêu Tổ quốc.
Mỗi buổi tối, sau giờ tuần tra, tiếng hát của các chiến sĩ vang lên giữa biển trời mênh mông. Đó là những bài ca về quê hương, về đất nước, tiếp thêm sức mạnh để họ vượt qua gian khổ.
Dù xa gia đình, các anh vẫn vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió, bảo vệ từng tấc biển thiêng liêng của Tổ quốc.
(Sưu tầm)

Những người lính hải quân làm nhiệm vụ gì? (0,5 điểm)
Đánh cá
Du lịch
Canh giữ biển đảo
Xây nhà
chọn C
Tiếng hát của các chiến sĩ thể hiện điều gì? (0,5 điểm)
Nỗi buồn
Sự yếu đuối
Tinh thần lạc quan
Sợ hãi
chọn C
Hoàn cảnh sống trên đảo như thế nào? (0,5 điểm)
Sung túc
Đầy đủ tiện nghi
Gian khổ
Đông vui
chọn C
Em hãy cho biết công dụng của dấu ngoặc đơn trong đoạn trích sau: (1 điểm)
Đùng một cái, họ (những người bản xứ) được phong cho cái danh hiệu tối cao là “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do”.
(Nguyễn Ái Quốc, Thuế máu)
- Dấu ngoặc đơn trong đoạn trên dùng để đánh dấu phần chú thích trong câu.
Dùng dấu “/” để ngăn cách các thành phần trong câu và ghi “CN” dưới chủ ngữ, “VN” dưới vị ngữ, “TN” dưới trạng ngữ: (1 điểm)
a) Cuối tuần trước, tôi được thả diều cùng anh hai và đám bạn của anh ấy.
.................................................................................................................
b) Con chim gáy hiền lành, béo núc.
.................................................................................................................
a) Cuối tuần trước/, / tôi / được thả diều cùng anh hai và đám bạn của anh ấy.
TN CN VN
b) Con chim / gáy hiền lành, béo núc.
CN VN
Em hãy chỉ ra các tính từ có trong đoạn văn sau: (1 điểm)
Con chim gáy hiền lành, béo núc. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa, cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh.
(Theo Tô Hoài)
- Các tính từ: hiền lành, béo núc, nâu, trầm ngâm, ngơ ngác, xa, mịn mượt, đầy, lấp lánh.
Lựa chọn câu chủ đề cho đoạn văn sau? (0,5 điểm)
Bồ cát xây tổ trên cây sung cao chót vót. Tổ bồ cát xây ở đầu cành, trông trống trải. Chim ổ dộc xây tổ trên cành vông, tổ như treo lơ lửng trên cành. Đôi chim cu chọn chỗ xây tổ trên cây thị - nơi có nhiều mầm non vừa nhú. Lúc đầu quanh tổ trông trống trải, nhưng đến khi ấp trứng, những mầm non đã bật dậy tốt tươi, che chung quanh kín đáo.
Mỗi loài chim lựa chọn xây tổ ở trên cao.
Mùa xuân đến, chim bắt đầu xây tổ.
Các loài chim hối hả, vội vã xây tổ ấm mới.
Tất cả các đáp án trên đều được.
D. Tất cả các đáp án trên đều được
Điền danh từ phù hợp vào chỗ trống để hoàn thành các câu văn sau: (1 điểm)
a) Nhân dịp sinh nhật, mẹ tặng em một chiếc mới.
b) kéo dài khiến cho các con sông cạn kiện nước.
c) Hôm sau, mang lễ vật đến trước và lấy được .
d) Mới sáng sớm, đã bay rập rờn quanh những khóm hoa hồng
a) Nhân dịp sinh nhật, mẹ tặng em một chiếc áo mới.
b) Hạn hán kéo dài khiến cho các con sông cạn kiện nước.
c) Hôm sau, Sơn Tinh mang lễ vật đến trước và lấy được Mị Nương.
d) Mới sáng sớm, bướm đã bay rập rờn quanh những khóm hoa hồng nhung.
Xác định công dụng của dấu gạch ngang được sử dụng trong đoạn dưới đây? (1 điểm)
Dưới đây là một số loài được cho là lớn nhất trong thế giới động vật:
- Cá voi xanh.
- Voi Châu Phi.
- Hươu cao cổ.
- Lạc đà một bướu.
- Dấu gạch ngang được sử dụng trong đoạn văn có công dụng: đánh dấu các ý trong đoạn liệt kê.
Dựa vào bức tranh sau dưới đây, em hãy đặt một câu có sử dụng trạng ngữ và cho biết công dụng của trạng ngữ đó: (1 điểm)

- Đặt câu: “Bằng đôi bàn tay khéo léo, bà đã đan xong chiếc khăn quàng cổ cho cô cháu gái.”
- Công dụng của trạng ngữ trên là: bổ sung thông tin về phương tiện thực hiện hoạt động.
B. PHẦN KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn tả con lợn mà em yêu thích.
- Trình bày dưới dạng một bài văn, tả con lợn mà em yêu thích, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 10 điểm.
- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bài xấu, không đúng nội dung yêu cầu.
Gợi ý chi tiết:
Mở đầu:
- Giới thiệu về con lợn mà em muốn tả.
Triển khai:
- Tả bao quát: (1) Đó là một chú lợn khoang đã sáu tháng tuổi. (2) Thân hình vừa phải, dài khoảng hơn một mét và nặng khoảng năm mươi ki lô gam.
- Tả chi tiết từng bộ phận: (1) Chú lợn có làn da rất đẹp, với phần bụng trắng và phần khoang đen vắt ngang lưng. (2) Bốn cái chân to, chắc khỏe nâng đỡ cả cơ thể. (3) Các móng chân màu trắng, bóng, khi đi nghe cộc cộc rất đáng yêu. (4) Cái đuôi ngắn, xoăn tít. (5) Phần bụng màu trắng hồng, mấy núm vú nhỏ xíu xíu trông rất ngộ nghĩnh. (6) Cái cổ của chú ngắn ngắn, núng nính những mỡ, lớp mỡ ấy dày, trông như một chiếc khăn quàng qua cổ của chú vậy. (7) Cái đầu lớn, nổi bật là hai chiếc tai như hai cái lá mít màu hồng hồng. (8) Đôi mắt lớn, tròn như hai viên bi luôn lờ đờ như buồn ngủ. (9) Cái mũi to, điểm một ít đốm đen. (10) Miệng rộng và hàm răng chắc khỏe.
- Tả tính tình, hoạt động: (1) Mỗi khi được em cho ăn một thứ gì là cái đuôi lại phe phẩy rối rít tỏ thái độ rất vui vẻ. (2) Khi chú vui, hai tai vẫy liên tục còn khi buồn thì chúng lại rủ xuống trông rất ngộ. (3) Cái mũi ấy mỗi khi bất bình hay muốn ăn lại vang lên tiếng “khịt khịt khịt”. (4) Mỗi khi bố em tắm cho chú, chú nhảy cẫng lên vì vui sướng, rồi đùa nghịch như một đứa trẻ ham nghịch nước.
Kết thúc
- Nêu cảm nghĩ của em về con lợn em yêu thích.
Bài làm tham khảo
Trong tất cả các loài gia súc của nhà mình, em yêu nhất là chú lợn nhà em. Chú ấy trông đáng yêu lắm.
Đó là một chú lợn khoang đã sáu tháng tuổi. Thân hình vừa phải, dài khoảng hơn một mét và nặng khoảng năm mươi ki lô gam. Chú lợn có làn da rất đẹp, với phần bụng trắng và phần khoang đen vắt ngang lưng, theo đúng chuẩn của cha ông ta ngày xưa. Bốn cái chân to, chắc khỏe nâng đỡ cả cơ thể. Các móng chân màu trắng, bóng, khi đi nghe cộc cộc rất đáng yêu. Cái đuôi ngắn, xoăn tít mỗi khi được em cho ăn một thứ gì là lại phe phẩy rối rít tỏ thái độ rất vui vẻ. Cái bụng căng tròn trông như chiếc trống nhỏ. Phần bụng màu trắng hồng, mấy núm vú nhỏ xíu xíu trông rất ngộ nghĩnh. Cái cổ của chú ngắn ngắn, núng nính những mỡ, lớp mỡ ấy dày, trông như một chiếc khăn quàng qua cổ của chú vậy. Cái đầu lớn, nổi bật là hai chiếc tai như hai cái lá mít màu hồng hồng, thi thoảng lại vẫy vẫy. Dường như chúng cũng nghe theo tâm trạng của chú, khi chú vui, chúng vẫy liên tục còn khi buồn thì hai cái tai rủ xuống trông rất ngộ. Đôi mắt lớn, tròn như hai viên bi luôn lờ đờ như buồn ngủ. Cái mũi to, điểm một ít đốm đen làm gương mặt chú có gì đó rất buồn cười. Cái mũi ấy mỗi khi bất bình hay muốn ăn lại vang lên tiếng “khịt khịt khịt”. Miệng rộng và hàm răng chắc khỏe. Mỗi khi bố em tắm cho chú, chú nhảy cẫng lên vì vui sướng, rồi đùa nghịch như một đứa trẻ ham nghịch nước. Nhìn chú như vậy, cả nhà em ai cũng phải phì cười.
Em rất yêu chú lợn của nhà mình, em đã quyết định đặt tên chú là Lu. Em nhất định sẽ chăm sóc chú thật tốt để chú mãi là nguồn vui của cả nhà em.






