Bộ 10 đề thi cuối kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều có đáp án - Đề 9
Đề thi

Bộ 10 đề thi cuối kì 2 Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều có đáp án - Đề 9

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 454 lượt thi
9 câu hỏi
Đoạn văn

Đọc đoạn văn sau:

VIẾNG LÊ-NIN

Mát-xcơ-va, tháng 1 năm 1924, giữa mùa đông nước Nga. Khí trời lạnh dưới 40 độ âm. Lê-nin vừa mất được mấy hôm.

Một sáng, phòng số 8 khách sạn Luých có tiếng gõ cửa nhẹ. Một thanh niên gầy gò, đầu đội mũ cát-két, mình mặc chiếc áo mỏng mùa thu, tay xách một va-li bé tí bước vào nói:

– Tôi là Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam. Tôi vừa ở Pa-ri đến. Nhờ các đồng chí hướng dẫn tôi đi viếng Lê-nin.

Mấy đồng chí người Pháp và I-ta-li-a trong phòng đều khuyên anh đợi đến ngày mai có áo ấm hãy đi. Người thanh niên thở dài, ngồi uống nước chè rồi trở về phòng mình. Ai cũng cho rằng thế là anh chịu nghe rồi.

Ngoài trời lúc này, tuyết tạm ngừng rơi, lạnh như cắt ruột. Rét quá! Tiết trời như cũng chia buồn với lòng người.

Khoảng mười giờ đêm, phòng số 8 lại có tiếng gõ cửa nhẹ. Cửa mở. Vẫn là người thanh niên trong bộ quần áo mỏng mùa thu. Mặt anh xanh xám, ngón tay, mũi và tai thâm tím vì giá rét. Anh vừa nói vừa run cầm cập:

– Tôi vừa đi viếng Lê-nin về. Tôi không thể chờ đến ngày mai mới viếng người bạn vĩ đại của nhân dân các nước thuộc địa. Các đồng chí có nước chè nóng không?

Theo Giéc-ma-nét-tô

Chú giải:

 Lê-nin (1870 1924): lãnh tụ Cách mạng Tháng Mười Nga, người sáng lập ra liên bang Xô-viết.

 Mát-xcơ-va : thủ đô nước Nga.

 Khách sạn Luých: tên một khách sạn ở Mát-xcơ-va.

 Pa-ri : thủ đô nước Pháp.

1. Trắc nghiệm
1 điểm

 Nguyễn Ái Quốc gõ cửa phòng số 8 khách sạn Luých để làm gì?

Để nhờ các đồng chí người Pháp và I-ta-li-a hướng dẫn đi viếng Lê-nin.

Đề chào các đồng chí người Pháp và I-ta-li-a.

Để nhờ các đồng chí người Pháp và I-ta-li-a dẫn đi đọc Luận cương Lê-nin.

Để nhờ các đồng chí người Pháp và I-ta-li-a chỉ cho đường trở về Pháp.

Xem đáp án

A. Để nhờ các đồng chí người Pháp và I-ta-li-a hướng dẫn đi viếng Lê-nin.

2. Trắc nghiệm
1 điểm

 Vì sao Nguyễn Ái Quốc vẫn đi viếng Lê-nin ngày hôm ấy?

Vì ngày mai anh phải trở về Pa-ri.

Vì anh đã quen chịu đựng giá lạnh.

Vì anh sợ ngày mai người ta sẽ không cho viếng.

Vì anh rất thương tiếc Lê-nin.

Xem đáp án

D. Vì anh rất thương tiếc Lê-nin.

3. Trắc nghiệm
1 điểm

Câu chuyện giúp em hiểu thêm điều gì về người thanh niên Nguyễn Ái Quốc? 

Đó là một người yêu nước.

Đó là một người giàu tình cảm và kính trọng Lê-nin.

Đó là một người rất giản dị.

Đó là một người có nghị lực và rất ham học hỏi.

Xem đáp án

B. Đó là một người giàu tình cảm và kính trọng Lê-nin.

4. Tự luận
1 điểm

 Em hãy sử dụng dấu gạch ngang để viết lại câu sau:

Tối nay sẽ có cầu truyền hình nối ba điểm Hà Nội Huế Thành phố Hồ Chí Minh.

Xem đáp án

Tối nay sẽ có cầu truyền hình nối ba điểm Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Tự luận
1 điểm

 Dùng dấu “/” để ngăn cách các thành phần câu và ghi “CN” dưới chủ ngữ, “VN” dưới vị ngữ, “TN” dưới trạng ngữ

a) Tháng Chạp, cam chín vàng tươi.

b) Vì có vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng, Tây Bắc đã trở thành điểm đến của nhiều

khách du lịch trong và ngoài nước.

Xem đáp án

a) Tháng Chạp/, /cam/ chín vàng tươi.

         TN             CN            VN

b) Vì có vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng/, /Tây Bắc/ đã trở thành điểm đến của nhiều

                          TN                                  CN                               VN

khách du lịch trong và ngoài nước.

6. Tự luận
1 điểm

Em hãy tìm danh từ trong các câu sau và xếp chúng vào hai nhóm: danh từ riêng và danh từ chung: 

Bố mẹ và chị xuống Phiêng Quảng làm ruộng. Hôm nay, A Lềnh chở ngô xuống cho bố mẹ.

(Theo Tô Hoài)

Danh từ chung

Danh từ riêng

 

 

Xem đáp án

Danh từ chung

Danh từ riêng

bố mẹ, chị, ruộng, hôm nay, ngô

Phiêng Quảng, A Lềnh

7. Tự luận
1 điểm

Gạch chân vào từ không cùng nhóm và đặt câu với từ đó:

a) ôm, bao la, hùng vĩ, thênh thang.

b) trâu, gà, cười, mèo.

Xem đáp án

a) ôm, bao la, hùng vĩ, thênh thang.

Ngày đầu chị Lan lên Hà Nội học, tôi đã chạy đến ôm chặt chị, không cho chị đi.

b) trâu, gà, cười, mèo.

Được cô giáo thưởng tận hai phiếu bé ngoan, cu Tí cười tít mắt.

8. Tự luận
1 điểm

Nghe – viết

ĐÁNH TAM CÚC

(Trích)

– Quân này mày được

Quân này tao chui!

Mèo ta phổng mũi 

“Ngoao ngoao” một hồi.

 

– Quân này mày chui

Quân này tao được!

Mèo bỗng dỏng tai

Mắt xanh như nước. 

Trần Đăng Khoa

Xem đáp án

Chính tả 

 - Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):

0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.

0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.

- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):

Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm

2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;

Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.

- Trình bày (0,5 điểm):

0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.

0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa vài chỗ.

9. Tự luận
1 điểm

Tập làm văn 

Em hãy viết bài văn tả chú trâu mà em yêu thích.

Xem đáp án

Luyện tập 

- Trình bày dưới dạng một bài văn, tả chú trâu mà em yêu thích, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.

- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bày xấu, không đúng nội dung yêu cầu.

Gợi ý chi tiết:

Mở đầu:

- Giới thiệu về chú trâu mà em muốn tả.

Triển khai:

- Tả bao quát: Cũng như bao chú trâu khác, chú trâu nhà em có thân hình to khỏe với nước da đen sẫm trông thật lực lưỡng.

- Tả chi tiết từng bộ phận: (1) Chú trâu có cái đầu rất to, lúc nào cũng chúi về phía trước. (2) Hai cái tai lớn lúc nào cũng dựng ngược lên như để nghe ngóng tin tức từ mọi nơi. (3) Cặp mắt to, tròn, lúc nào cũng nhìn đi muôn nơi. (4) Cái miệng rộng. (5) Đặc biệt, chú trâu có bốn cái chân rất to, chừng bằng cái cột nhà. (6) Phía sau là cái đuôi dài luôn ngoe nguẩy.

- Tả tính tình, hoạt động: (1) Cái miệng lúc nào cũng nhai nhồm nhoàm. (2) Mặc dù có thân hình to lớn, vạm vỡ nhưng chú trâu nhà em lại rất hiền lành.

- Tả lợi ích: (1) Những ngày mùa tới, chú trâu lại giúp gia đình em cày ruộng, kéo lúa.

Kết thúc

- Nêu tình cảm, cảm nghĩ của em về chú trâu đó.

Bài làm tham khảo

Từ xa xưa đến nay, trâu vẫn luôn là người bạn, là người đồng hành hiền lành và dễ mến của người nông dân Việt Nam. Và cũng như bao gia đình ở nông thôn khác, nhà em cũng có nuôi một chú trâu đang vào độ trưởng thành.

Cũng như bao chú trâu khác, chú trâu nhà em có thân hình to khỏe với nước da đen sẫm trông thật lực lưỡng. Chú trâu có cái đầu rất to, lúc nào cũng chúi về phía trước. Trên đầu của chú có rất nhiều bộ phận, mỗi bộ phận đều có những nét độc đáo riêng. Hai cái tai lớn lúc nào cũng dựng ngược lên như để nghe ngóng tin tức từ mọi nơi. Cặp mắt to, tròn, lúc nào cũng nhìn đi muôn nơi. Cái miệng rộng, lúc nào cũng nhai nhồm nhoàm. Đặc biệt, chú trâu có bốn cái chân rất to, chừng bằng cái cột nhà. Chính những cái chân này đã giúp chú có những bước đi thật khoan thai nhưng cũng rất dũng mãnh. Phía sau là cái đuôi dài luôn ngoe nguẩy.

Mặc dù có thân hình to lớn, vạm vỡ nhưng chú trâu nhà em lại rất hiền lành, vì vậy nó luôn nhận được sự yêu mến của mọi người trong gia đình em. Hằng ngày, bố em thường dắt chú ra cánh đồng gần nhà để gặm cỏ. Còn em, em rất thích được cưỡi trên lưng của chú vào mỗi buổi chiều trên những nẻo đường quê. Những ngày mùa tới, chú trâu lại giúp gia đình em cày ruộng, kéo lúa.

Em rất yêu quý chú trâu nhà em. Em sẽ cố gắng chăm sóc chú thật tốt để chú trâu ấy sẽ ngày càng lớn nhanh.