Bộ 10 đề thi cuối kì 1 Tiếng Việt lớp 4 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 10
Đề thi

Bộ 10 đề thi cuối kì 1 Tiếng Việt lớp 4 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 10

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 496 lượt thi
9 câu hỏi
Đoạn văn

 

 

Đọc đoạn văn sau:

ÚT VỊNH

Nhà Út Vịnh ở ngay bên đường sắt. Mấy năm nay, đoạn đường này thường có sự cố. Lúc thì đá tảng nằm chềnh ềnh trên đường tàu chạy, lúc thì ai đó tháo cả ốc gắn các thanh ray. Lắm khi, trẻ chăn trâu còn ném đá lên tàu.

Tháng trước, trường của Út Vịnh đã phát động phong trào Em yêu đường sắt quê em. Học sinh cam kết không chơi trên đường tàu, không ném đá lên tàu và đường tàu, cùng nhau bảo vệ an toàn cho những chuyến tàu qua. Vịnh nhận việc khó nhất là thuyết phục Sơn một bạn rất nghịch, thường chạy trên đường tàu thả diều. Thuyết phục mãi, Sơn mới hiểu ra và hứa không chơi dại như vậy nữa.

Một buổi chiều đẹp trời, gió từ sông Cái thổi vào mát rượi. Vịnh đang ngồi học bài, bỗng nghe thấy tiếng còi tàu vang lên từng hồi dài như giục giã. Chưa bao giờ tiếng còi tàu lại kéo dài như vậy. Thấy lạ, Vịnh nhìn ra đường tàu. Thì ra hai cô bé Hoa và Lan đang ngồi chơi chuyền thẻ trên đó. Vịnh lao ra như tên bắn, la lớn:

– Hoa, Lan, tàu hỏa đến!

Nghe tiếng la, bé Hoa giật mình, ngã lăn khỏi đường tàu, còn bé Lan đứng ngây ngây người, khóc thét.

Đoàn tàu vừa réo còi vừa ầm ầm lao tới. Không chút do dự, Vịnh nhào tới ôm Lan lăn xuống mép ruộng, cứu sống cô bé trước cái chết trong gang tất.

Biết tin, cha mẹ Lan chạy đến. Cả hai cô chú ôm chầm lấy Vịnh, xúc động không nói nên lời.

(Theo Tô Phương)

1. Trắc nghiệm
1 điểm

Đoạn đường sắt gần nhà Út Vịnh mấy năm nay thường có những sự cố gì?

Đoạn đường này thường xảy ra tai nạn.

Đoạn đường này thường có những sự cố: lúc thì đá tảng nằm trên đường tàu, lúc thì ai đó tháo cả ốc của các thanh ray, trẻ chăn trâu ném đá lên tàu.

Đoạn đường này thường xảy ra nhiều sự cố làm chậm giờ tàu chạy.

Đoạn đường này mấy năm nay tàu không chạy qua nữa.

Xem đáp án

B. Đoạn đường này thường có những sự cố: lúc thì đá tảng nằm trên đường tàu, lúc thì ai đó tháo cả ốc của các thanh ray, trẻ chăn trâu ném đá lên tàu.

2. Trắc nghiệm
1 điểm

Em học tập được ở Út Vịnh điều gì? 

Ý thức trách nhiệm, tuân thủ các quy định về an toàn giao thông.

Tinh thần dũng cảm cứu các em nhỏ.

Dám liều mình vào nơi nguy hiểm.

Đáp án A và B.

Xem đáp án

D. Đáp án A và B.

3. Trắc nghiệm
1 điểm

Nội dung chính của bài văn là gì?

Nêu sự đổi mới của ngành đường sắt nước ta hiện nay.

Ca ngợi ý thức bảo về đường sắt của người dân.

Ca ngợi Út Vịnh thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ đường sắt, dũng cảm cứu em nhỏ.

Ca ngợi ý thức tuân thủ an toàn gia thông của Hoa và Lan.

Xem đáp án

C. Ca ngợi Út Vịnh thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ đường sắt, dũng cảm cứu em nhỏ.

4. Tự luận
1 điểm

Các danh từ riêng dưới đây đều chưa được viết hoa, em hãy phát hiện và viết lại cho đúng1:

Mặt trời mới ló trên hồ gươm

Đã có mặt cụ già trước những dòng chữ cổ

Đền ngọc sơn cũng trầm tư như cụ

Cảnh với người đang tâm sự cùng nhau

Xem đáp án

Sửa:

Mặt trời mới ló trên Hồ Gươm

Đã có mặt cụ già trước những dòng chữ cổ

Đền Ngọc Sơn cũng trầm tư như cụ

Cảnh với người đang tâm sự cùng nhau

5. Tự luận
1 điểm

Em hãy tìm các động từ có trong câu sau:

Đôi chim cu chọn chỗ xây tổ trên cây thị – nơi có nhiều mầm non vừa nhú.

Xem đáp án

- Các động từ: chọn, xây, có, nhú.

6. Tự luận
1 điểm

Gạch chân vào các tính từ có trong đoạn văn sau: 

Nơi đây cất lên những tiếng chim ríu rít. Chúng từ các nơi trên miền Trường Sơn bay về. Chim đại bàng chân vàng mỏ đỏ đang chao lượn, bóng che rợp mặt đất. Mỗi lần đại bàng vỗ cánh lại phát ra những tiếng vi vu vi vút từ trên nền trời xanh thẳm, giống như có hàng trăm chiếc đàn đang cùng hoà âm. Bầy thiên nga trắng muốt chen nhau bơi lội…

(Trích “Chim rừng Tây Nguyên”)

Xem đáp án

Nơi đây cất lên những tiếng chim ríu rít. Chúng từ các nơi trên miền Trường Sơn bay về. Chim đại bàng chân vàng mỏ đỏ đang chao lượn, bóng che rợp mặt đất. Mỗi lần đại bàng vỗ cánh lại phát ra những tiếng vi vu vi vút từ trên nền trời xanh thẳm,... Bầy thiên nga trắng muốt chen nhau bơi lội…

7. Tự luận
1 điểm

 Em hãy gạch chân vào từ ngữ không cùng loại với các từ còn lại và đặt câu với từ đó:

a) núi, ao, hồ, cây cối, ăn:

b) đi, đứng, chạy, mượt, chăm sóc:

Xem đáp án

a) núi, ao, hồ, cây cối, ăn:

Nhà em thường ăn cơm tối lúc 18 giờ 30 phút.

b) đi, đứng, chạy, mượt, chăm sóc:

Tóc của cậu mượt quá!

8. Tự luận
1 điểm

Nghe – viết 

TRĂNG VỀ SÁNG

Tổ quốc em đẹp lắm

Cong cong hình lưỡi liềm

Trên: núi cao trùng điệp

Dưới: biển sóng mông mênh

 

Những cánh đồng bình yên

Nằm phơi mình ở giữa

Những con sông xanh, hồng

Uống quanh trăm giải lụa

Phạm Hổ

Xem đáp án

Chính tả 

- Viết đúng kiểu chữ thường, cỡ nhỏ (0,5 điểm):

0,5 điểm: viết đúng kiểu chữ thường và cỡ nhỏ.

0,25 điểm: viết chưa đúng kiểu chữ hoặc không đúng cỡ chữ nhỏ.

- Viết đúng chính tả các từ ngữ, dấu câu (3 điểm):

Viết đúng chính tả, đủ, đúng dấu: 3 điểm

2 điểm: nếu có 0 - 4 lỗi;

Tùy từng mức độ sai để trừ dần điểm.

- Trình bày (0,5 điểm):

0,5 điểm: nếu trình bày đúng theo mẫu, chữ viết sạch và rõ ràng.

0,25 điểm: nếu trình bày không theo mẫu hoặc chữ viết không rõ nét, bài tẩy xóa vài chỗ.

9. Tự luận
1 điểm

Tập làm văn 

Em hãy viết đoạn văn nêu lí do yêu thích một câu chuyện cổ tích hoặc sự tích đã nghe, đã học.

Xem đáp án

Luyện tập 

- Trình bày dưới dạng một đoạn văn, nêu lí do em yêu thích một câu chuyện cổ tích hoặc sự tích đã nghe, đã học, câu văn viết đủ ý, trình bày bài sạch đẹp, rõ ràng: 6 điểm.

- Tùy từng mức độ bài viết trừ dần điểm nếu bài viết không đủ ý, trình bày xấu, không đúng nội dung yêu cầu.

Gợi ý chi tiết:

Mở đầu:

- Giới thiệu về sự tích đó: Sự tích: “Bánh chưng bánh giầy”.

Triển khai:

- Lí do yêu thích: Sự tích bánh chưng bánh giầy em đã đọc từ khi còn nhỏ, nhưng đến nay, các chi tiết trong câu chuyện ấy em vẫn còn ghi nhớ rất rõ bởi nó đã giải thích được nguồn gốc của thức bánh truyền thống của dân tộc ta: bánh chưng, bánh giầy.

- Dẫn chứng: (1) Câu chuyện kể về thời Vua Hùng thứ 6, sau khi đánh đuổi giặc Ân thì Vua Hùng quyết định nhường ngôi cho con của mình với thử thách tìm kiếm loại thức ăn ngon, ý nghĩa nhất. (2) Các con trai khác của vua đã đua nhau đi tìm sơn hào hải vị để dâng lên vua cha. (3) Riêng chàng Lang Liêu (người con trai thứ 18 của Vua Hùng), nhờ có vị tiên giúp báo mộng nên chỉ dùng các nguyên liệu bình thường nhất là gạo nếp, đỗ xanh, thịt heo để làm hai loại bánh: bánh chưng và bánh giầy. (4) Nhờ món bánh ấy mà Lang Liêu được chọn làm người nối ngôi, và bánh chưng bánh giầy cũng trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu được mỗi dịp xuân về Tết đến.

Kết thúc:

- Khẳng định lại ý kiến của em đối với sự tích đó.

Bài làm tham khảo

Sự tích bánh chưng bánh giầy” em đã đọc từ khi còn nhỏ, nhưng đến nay, các chi tiết trong câu chuyện ấy em vẫn còn ghi nhớ rất rõ bởi nó đã giải thích được nguồn gốc của thức bánh truyền thống của dân tộc ta: bánh chưng, bánh giầy. Câu chuyện kể về thời Vua Hùng thứ 6, sau khi đánh đuổi giặc Ân thì Vua Hùng quyết định nhường ngôi cho con của mình. Vua đưa ra thử thách rằng ai tìm kiếm loại thức ăn ngon, mang ý nghĩa nhất thì sẽ được truyền ngôi. Các con trai khác của vua đã đua nhau đi tìm sơn hào hải vị để dâng lên vua cha. Riêng chàng Lang Liêu (người con trai thứ 18 của Vua Hùng), nhờ có vị tiên giúp báo mộng nên chỉ dùng các nguyên liệu bình thường nhất là gạo nếp, đỗ xanh, thịt heo. Dù vậy, anh vẫn tạo ra được hai món bánh là bánh chưng và bánh giầy thơm ngon đến lạ. Đặc biệt, hai thức bánh ấy còn ẩn chứa những ý nghĩa to lớn cao cả về sự dung hòa của đất trời, và tình nghĩa giữa cha mẹ với con cái. Nhờ món bánh ấy mà Lang Liêu được chọn làm người nối ngôi, và bánh chưng bánh giầy cũng trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu được mỗi dịp xuân về Tết đến. Câu chuyện đã lý giải về nguồn gốc của món bánh truyền thống một cách thú vị, kết hợp với yếu tố kì ảo nên càng thêm hấp dẫn và dễ nhớ. Nhờ vậy mà năm nào, khi thức trông nồi bánh chưng với bà, em cũng đem sự tích này ra để đọc lại một lần nữa. Ấy thế mà em vẫn thấy rất hay và thú vị như mới đọc lần đầu tiên.