(Ngữ liệu ngoài sgk) Phân tích bài Giữ gìn và bảo vệ Tiếng Việt
19 câu hỏi
Văn bản ngữ liệu
GIỮ GÌN VÀ BẢO VỆ TIẾNG VIỆT
(Vũ Quỳnh Trang)
“Trong thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, tiếng Việt đang có nguy cơ bị lai tạp, với nhiều xu hướng sử dụng thiếu chuẩn mực.
Khi công nghệ số phát triển, xóa nhòa biên giới các quốc gia trên các nền tảng mạng, con người dù ở đâu cũng dễ dàng giao lưu, kết nối qua các công cụ hỗ trợ. Không khó để nhận ra các ứng dụng trên điện thoại, máy tính, mạng xã hội đang ngày một ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi ngôn ngữ của mỗi người. Đáng quan tâm hiện nay là xu thế giao tiếp ngắn gọn, tối giản lược bỏ các thành phần câu, pha tạp ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh.
Một thói quen sử dụng tiếng Việt đã hình thành không chỉ trên mạng mà ngay trong đời sống hằng ngày. Việc nói tiếng Việt có xen từ tiếng Anh ngày càng được nhiều người coi là bình thưởng. Một số từ thuần Việt đang dần mất đi, nhường chỗ cho các từ tiếng Anh, thậm chí những từ ghép thuần Việt cũng bị biến thành “nửa nạc nửa mỡ” kiểu như “Thứ high” (Thứ 2), “Thứ bar” (Thứ ba), “xỉu up, xỉu down” (xỉu lên, xỉu xuống)... Từng có một Giáo sư ngôn ngữ phải thốt lên: “Tìm một người trẻ giao tiếp bằng từ ngữ thuần Việt không còn dễ”.
Không chỉ chuyện pha tạp tiếng Anh trong việc sử dụng tiếng Việt, một hiện tượng khác cũng rất đáng lưu tâm, là cách các cư dân mạng dùng tiếng Việt trên mạng xã hội theo những cách thức có chiều hướng làm méo ngôn ngữ mẹ đẻ. Hiện tượng nói lái, viết chệch tiếng Việt trở thành “cơm bữa”, gần như không mấy ai băn khoăn. Chẳng hạn, từ “chị” biến thành “chế”, “vâng” biến thành “vưng”, “tình yêu” thành “tìn iu”, “ngon” biến thành “nhon”, “yêu thể” biến thành “iu xế”, “không” thành “khum”... Tất nhiên việc nói/viết chệch đi như vậy chỉ nhằm mục đích làm cho không gian chuyện trò dễ thương, vui vẻ thân mật hơn, nhưng nếu không ý thức sâu sắc về điều này thì rất có thể dẫn đến sự méo mó của tiếng Việt, khi thói quen nói và viết như vậy ngày càng trở nên phổ biến.
Có ý kiến cho rằng, việc sử dụng ngôn ngữ lai tạp, có phần thiếu chuẩn mực hiện nay là do tâm lí thích khoe khoang của một số cá nhân tỏ ra mình giỏi ngoại ngữ. Tuy nhiên nếu chỉ nói như vậy là phiến diện, bởi vì ngày nay, việc sử dụng ngoại ngữ (tiếng Anh) đã trở nên bình thường do nhu cầu của đời sống hội nhập.
Ở một số ngành nghề, lĩnh vực, việc đọc tài liệu, xử lí thư từ hay giao tiếp bằng tiếng Anh là yêu cầu hằng ngày. Có những từ tiếng Anh mang tính chất chuyên môn thực ra chỉ áp dụng trong phạm vi công việc ở mức độ hẹp. Điều này là dễ hiểu và có thể chấp nhận được. Nhưng một lí do cơ bản khác đến từ các ứng dụng công nghệ hiện nay khuyến khích người sử dụng viết và nói ngắn gọn để tiết kiệm thời gian cũng như dung lượng. Vì thế, người ta không quan tâm đến các câu đầy đủ thành phần cũng như diễn đạt sao cho thuần Việt.
Hành văn không được người sử dụng quan tâm đến sắc thái biểu cảm, chủ yếu là thông tin, dễ dàng chấp nhận câu tối giản. Điều này thoạt nhìn có thể thấy sự tiện lợi, nhưng thực chất, chúng ta đang dung túng cho hành vi làm mất đi sự phong phú, tinh tế, uyển chuyển và khoa học của ngôn ngữ mẹ đẻ. Sự nguy hại này cũng đã bộc lộ ít nhiều trong một số sáng tác văn học nghệ thuật gần đây, cũng như trên các tác phẩm báo chí, truyền thông.
Dễ thấy như những cách giật tít sai ngữ pháp, lập lờ ngữ nghĩa nhằm tạo ra một sự chú ý không còn là hiếm. Hoặc trên các nền tảng âm nhạc trực tuyển, xuất hiện ngày càng nhiều những bài hát với lời lẽ pha tạp, tùy tiện, lùng củng trong diễn đạt, thậm chí phản cảm. Thực tế đó phần nào cho thấy cách diễn đạt tiếng Việt tối nghĩa, kiểu văn nói vỉa hè, thô thiển, thể hiện người sáng tạo không có ý thức trân trọng giữ gìn, làm giàu đẹp thêm cho tiếng Việt.”
(Trích Giữ gìn và bảo vệ tiếng Việt - Vũ Quỳnh Trang, theo nhandan.vn)
23.2. Câu hỏi đọc hiểu và viết
23.2.1. Câu hỏi đọc hiểu
Xác định vấn đề chính mà tác giả nêu ra trong đoạn trích.
Đoạn trích gồm mấy phần? Chỉ ra nội dung chính của từng phần.
Tác giả đã triển khai luận đề thành các luận điểm lớn nào?
Luận điểm nào đóng vai trò mấu chốt trong lập luận của tác giả? Vì sao?
Văn bản có đưa ra luận điểm phản đề không? Nếu có, đó là gì?
Tác giả đã sử dụng những bằng chứng nào để minh hoạ cho hành vi sử dụng tiếng Việt pha tạp tiếng Anh?
Tác giả sử dụng thao tác lập luận chính nào xuyên suốt văn bản?
Ngoài thao tác chính, tác giả còn sử dụng những thao tác lập luận nào khác?
Vì sao thao tác phân tích lại phù hợp với mục tiêu văn bản?
Dẫn chứng trong văn bản có tính thời sự không? Giải thích.
Chỉ ra và nêu tác dụng của sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng trong đoạn trích.
Cách dùng câu hỏi tu từ “Tìm một người trẻ giao tiếp bằng từ ngữ thuần Việt không còn dễ” có tác dụng gì?
Văn bản được triển khai theo trình tự lập luận nào?
Đoạn trích bộc lộ thái độ nào của người viết trước vấn đề bàn luận?
Bài học rút ra về cách viết nghị luận xã hội từ văn bản này là gì?
Anh/Chị hãy chia sẻ một vài kinh nghiệm để có thể nói đúng, viết đúng, nói hay, viết hay khi sử dụng tiếng Việt.
23.2.2. Câu hỏi viết
Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày quan điểm của mình về vai trò của mỗi cá nhân trong việc bảo vệ tiếng Việt.
Từ văn bản “Giữ gìn và bảo vệ tiếng Việt” – Vũ Quỳnh Trang, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thể hiện suy nghĩ về mối quan hệ giữa “ngôn ngữ” và “bản sắc văn hóa dân tộc”.
