Giải Tiếng Việt lớp 5 dành cho buổi học thứ 2 Tuần 23 có đáp án
Đề thi

Giải Tiếng Việt lớp 5 dành cho buổi học thứ 2 Tuần 23 có đáp án

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 555 lượt thi
12 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Đọc

CÁNH ĐỒNG LÀNG

Mỗi làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ có nhiều cánh đồng, dân làng gọi là các “đỗi ruộng” hay “xứ đồng, đất có thể rộng hẹp, tốt xấu khác nhau và chúng đều mang những cái tên dân dã.

Media VietJack

Ngoài các ruộng để cấy lúa, trồng màu, trên mỗi cánh đồng có khi còn có các thùng đấu, ao đầm, đìa lạch, bãi chăn thả,... đều là những thứ đất hoang hoá của chung làng xã mà mỗi người dân đều có thể khai thác được cái gì đó cho cuộc sống của mình.

Cánh đồng làng không bằng phẳng mà dày đặc các loại bờ, luống và rãnh. Bờ to cho cả cánh đồng là "bờ đỗi", bờ nhỏ cho từng thửa ruộng là "bờ con". Trong các bờ bụi có cua mà, ếch mà, hang chuột, hang rắn. Công việc nhà nông nào là phát bờ, cuốc góc, đắp vạ, be bờ, lên luống, dựng giàn.

Tuy có nhiều xứ đồng nhưng thường mỗi làng có một xứ đồng tốt nhất, gọi là "bờ xôi ruộng mật", lúa ngô, rau quả ở đây xanh tốt bời bời. Màu sắc của cánh đồng thay đổi theo mùa, mùa nào cũng đẹp. Dân làng quanh năm đầy ắp công việc:

Tháng Chạp là tháng trồng khoai

Tháng Giêng trồng đậu tháng hai trồng cà

Tháng Ba cày vỡ ruộng ra

Tháng Tư làm mạ mưa sa đấy đồng...

Hầu hết ca dao, tục ngữ của người Việt đều nảy sinh trên cánh đồng làng. Trong lúc làm ruộng, thợ cày, thợ cấy hát đối nhau. Trên cánh đồng làng, người nông dân “trông trời trông đất trông mây”, trông trăng quầng biết trời hạn, thấy trăng tán biết sắp có mưa, trông tua rua mà chuẩn bị mạ mùa sao cho kịp thời vụ.

Vừa tình yêu của con người trên cánh đồng làng cứ lớn dần theo tháng năm.

(Theo Chu Huy)

Thùng đấu: chỗ đất bị lấy đất để đắp đê, làm gạch ngói,… thành những hố sâu rộng, vuông vức.

Ao đầm, đìa lạch: chỉ những vũng nước tự nhiên nhỏ.

Cua mà, ếch mà: cua, ếch nằm trong hang, ngoài cửa hang thường có một ít đất viền cao lên.

Trông trăng quầng... có mưa: lấy ý câu tục ngữ" Trăng quảng thì hạn, trăng tán thì mưa"; trăng quáng là trăng có một vành tròn sáng nhiều màu bao quanh, có ranh giới rõ ràng (do ánh sáng khúc xạ qua các tinh thể băng); trăng tán thì gồm nhiều vành sáng nhưng yếu hơn, không có ranh giới rõ ràng (do ánh sáng khúc xạ qua các hạt nước), mặt trăng cũng mờ hơn trăng quầng.

Tua rua: một chùm sao nhỏ kết thành một đám mở, xuất hiện vào sáng sớm khoảng đầu tháng 5 âm lịch.

Xem đáp án

Em đọc văn bản. Chú ý các từ ngữ khó: thùng đấu, ao đầm, đìa lạch,…

2. Tự luận
1 điểm

Viết Đ nếu đúng, S nếu sai.

a. Làng xã nào ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có nhiều cánh đồng

 

b. Những cánh đồng của làng xã mang những cái tên dân dã.

 

c. Các cánh đồng làng đều giống nhau.

 

d. Trên các cánh đồng làng có các động vật hoang dã nhỏ sinh sống.

 

e. Ngoài đất riêng, trên mỗi cánh đồng thường có đất chung của làng xã.

 

g. Những cánh đồng làng quanh năm một màu xanh.

 

h. Người nông dân quanh năm bận rộn việc cấy trồng.

 

i. Cánh đồng quan trọng nhất đối với dân làng là cánh đồng “bờ xôi ruộng mật”.

 

k. Trên cánh đồng, người dân có thể trình diễn văn nghệ.

 

l. Trên cánh đồng, người dân có thể dự báo được thời tiết.

 

Xem đáp án

a. Làng xã nào ở đồng bằng Bắc Bộ cũng có nhiều cánh đồng

Đ

b. Những cánh đồng của làng xã mang những cái tên dân dã.

Đ

c. Các cánh đồng làng đều giống nhau.

S

d. Trên các cánh đồng làng có các động vật hoang dã nhỏ sinh sống.

S

e. Ngoài đất riêng, trên mỗi cánh đồng thường có đất chung của làng xã.

Đ

g. Những cánh đồng làng quanh năm một màu xanh.

S

h. Người nông dân quanh năm bận rộn việc cấy trồng.

Đ

i. Cánh đồng quan trọng nhất đối với dân làng là cánh đồng “bờ xôi ruộng mật”.

S

k. Trên cánh đồng, người dân có thể trình diễn văn nghệ.

Đ

l. Trên cánh đồng, người dân có thể dự báo được thời tiết.

Đ

3. Tự luận
1 điểm

Trả lời câu hỏi.

a. Em hiểu thế nào là các “đỗi ruộng”, “xứ đồng”?

b. Trên mỗi cánh đồng làng thường gồm những loại đất nào?

c. Em hiểu thế nào thành ngữ “bờ xôi ruộng mật”?

d. Trên cánh đồng làng thời xưa, thường có những hoạt động gì?

Xem đáp án

a. “Đỗi ruộng”, “xứ đồng” là cách gọi những cánh đồng ở mỗi làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ.

b. Trên mỗi cánh đồng làng thường gồm những loại đất: ruộng để cấy lúa, trồng màu; thùng đấu, ao đầm, lìa đạch, bãi chăn thả.

c. “Bờ xôi ruộng mật” ý chỉ những mảnh đất tốt, màu mỡ, phì nhiêu và dễ làm ăn.

d. Trên cánh đồng làng thời xưa, thường có những hoạt động: sáng tác ca dao, tục ngữ; hát đối đáp nhau, dự báo thời tiết.

4. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn văn và thực hiện các yêu cầu bên dưới.

Câu chuyện này có tới ba người: anh, tôi và cô em gái Đất Mũi rặt ri. Em tôi nhắn anh rằng Đất Mũi không có núi cao, không có biển xanh cát trắng, không có cung đình cổ kính, không có phố cổ đìu hiu. Đất Mũi chỉ có bùn sình, rừng thầm và biến. Biển không xanh ngằn ngặt mà đục ngầu phù sa.

Media VietJack

Nhưng biển ở đây nhiều lắm. Biển đằng trước, biển bên phải, biển bên trái. Bình minh, mặt trời từ biển quẫy nước ngoi lên. Chiều về, mặt trời chín đỏ già nua lại ngụp về biến sau một ngày tự cháy.

(Theo Nguyễn Ngọc Tư)

Đất Mũi rặt ri: mang những đặc điểm rất rõ của người Đất Mũi (Cà Mau).

Biển ở đây nhiều lắm: vùng Đất Mũi (Cà Mau) là một bán đảo, ba mặt giáp biển.

a. Tìm các điệp từ, điệp ngữ trong đoạn văn.

b. Nêu tác dụng của việc sử dụng các điệp từ, điệp ngữ đó.

Xem đáp án

a. Các điệp từ, điệp ngữ trong đoạn văn: không có, biển, mặt trời.

b. Tác dụng của việc sử dụng điệp từ, điệp ngữ: điệp ngữ giúp làm nổi vật lên những đặc điểm và vẻ đẹp của vùng Đất Mũi. Ở đây không có núi cao, biển xanh cát trắng, không có cung đình cổ kính, không có phố cổ dìu hiu nhưng nó lại mang một vẻ đẹp đặc trưng. Nơi ấy có biển khắp xung quanh, có thể ngắm nhìn mặt trời lúc bình minh và khi chiều xuống.

 

5. Tự luận
1 điểm

Viết đoạn văn (3 – 5 câu) nói về quê hương có sử dụng điệp từ, điệp ngữ.

G: Nói về cảnh sắc thiên nhiên hoặc nét riêng về con người, hoặc đặc sản (nếu có), hoặc di tích lịch sử (nếu có),… của quê hương (tỉnh, huyện, xã, làng) mình.

Xem đáp án

Giống như bao con sông khác ở làng quê Việt Nam. Con sông quê em cũng muốn lượn như một con rồng. Nó mang đậm hương vị mặn mòi của vùng đồng bằng châu thổ. Chính cái hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt.

- Điệp ngữ: con sông.

6. Tự luận
1 điểm

Đọc câu chuyện dưới đây:

“ANH GIÀ” NÔ-EN

Tôi đã đặt dịch vụ ông già Nô-en đến trao quà. Được báo trước tối hôm đó ông già Nô-en sẽ đến, lũ trẻ mặc quần áo chỉnh tề háo hức chờ. Nhưng 20 giờ, 21 giờ, rồi 22 giờ vẫn chưa thấy ông già Nô-en đâu. Gọi hàng chục cuộc cho dịch vụ cung cấp ông già Nô-en, nhân viên đều trả lời là ông già Nô-en đang tới. Thế nhưng rồi không!

Hôm sau là 25-11, lại mất hàng chục cuộc điện thoại. Tôi yêu cầu được liên hệ trực tiếp với "ông San-ta" – một "anh già" Nô-en – và được trả lời chắc chắn sẽ đến. Thế nhưng lũ trẻ vẫn phải đi ngủ trong niềm vô vọng.

24 giờ có chuông cửa. Một "anh già" Nô-en xuất hiện. Chòm râu trắng xộc xệch, ánh mắt căng thẳng mỏi mệt. Hai đứa trẻ dậy nhận quà. Trong khi chúng vẫn chưa hết ngái ngủ thì “anh già" Nô-en "khuyến mại" cho mỗi đứa một cái vuốt râu rồi vội vàng lên xe máy đi ngay.

(Theo Hồng Phúc)

Xem đáp án

Em đọc bài, chú ý đúng chính tả

7. Tự luận
1 điểm

Tìm ý cho đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về câu chuyện trên.

G: Tham khảo lời bình của người kể câu chuyện trên:

Khi nói đến ông già Nô-en bao giờ người ta cũng hình dung đó ít nhất phải là người đứng tuổi, giọng nói ấm áp, vui tính, hiền hậu, bụng to,... Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp bây giờ tạo ra những ông già Nô-en gầy gò, bụng xẹp,... Làm sao mà ông già Nô-en còn có thể đáng yêu trong bộ dạng các "anh già" mà trẻ con có thể thấy trên đường phố?

Ông già Nô-en là hiện thân của sự bí ẩn và diệu kì, vậy mà bây giờ...

Xem đáp án

* Đáp án tham khảo:

- Tên câu chuyện: “Anh già” Nô en

- Nội dung hoặc cảm nhận chung: Câu chuyện thể hiện cảm xúc về dịch vụ thuê ông già Nô-en hiện nay. Từ việc thuê ông già Nô-en nhưng khách hàng lại mất rất nhiều lần khiếu nại để nhận được anh già Nô-en trong sự vội vàng.

- Thể hiện tình cảm, cảm xúc về câu chuyện:

+ Mở đầu tự nhiên: Tác giả kể về việc thuê ông già Nô-en để dành bất ngờ cho các con nhưng lại gặp sự cố.

+ Nội dung thú vị: Từ việc thuê ông già Nô-en nhưng khách hàng lại mất rất nhiều lần khiếu nại để nhận được anh già Nô-en trong sự vội vàng. Câu chuyện vừa đáng thương lại vừa đáng trách đối với những người làm dịch vụ.

+ Lời kể sinh động: Câu chuyện được kể qua góc nhìn chân thực, tình cảm.

- Những điều gợi ra từ câu chuyện: câu chuyện gợi cho chúng ta suy nghĩ về hình ảnh của những ông già Nô-en trong dịp lễ hiện nay. Họ đã không còn là những ông già Nô-en như trên tivi mà lại xuất hiện khác lạ, vừa đáng thương và vừa đáng trách.

8. Tự luận
1 điểm

Đọc.

THÚ CHƠI SÁCH CỦA NGƯỜI HUẾ

Ở Huế từ lâu đã có nhiều người chơi sách.

Người chơi sách ngoài bỏ tiền ra mua sách, lập tủ sách, thư viện tại gia còn phải là nhà sưu tầm, coi sách như hiện vật được tập hợp theo chủ đề nào đó. Họ bỏ thời gian, công sức và tiền bạc để săn đuổi một bản sách mà họ thích với niềm đam mê bất tận và với giá mua không lường trước.

Người chơi sách sẵn sàng "xới tung" tất cả các hiệu sách, các chiếu sách cũ vỉa hè, các tủ sách gia đình,... để mua hay đối lấy bản sách mà họ cần.

Ở Huế từ những năm ba mươi của thế kỉ trước đã có những nhà xuất bản tiếng tăm như Đắc Lập, Anh Minh, Phúc Sinh, Tiếng Dân,... Về sau, những ấn phẩm của họ trở thành đối tượng săn lùng của những người Huế chơi sách.

Media VietJack

Người chơi sách ngoài việc đầu tư tiền bạc, thời gian và công sức còn phải nhờ vào cái “duyên” nữa. Có người từng vào Sài Gòn, ra Hà Nội để tìm mua một bản sách mà không được, nhưng một sớm mai đi ngang qua chiếu sách cũ ở vỉa hè đường Nguyễn Thái Học hay Hai Bà Trưng lại bắt gặp cuốn sách mà họ đang tìm và mua được với giá phải chăng.

Có nhiều trường phái chơi sách. Có người chơi sách theo loại – văn chương, lịch sử hay khoa học,... Có người theo tác giả. Có người theo nhà xuất bản. Có người chỉ sưu tầm sách về Huế. Có người lại chuyên săn lùng sách có thủ bút.

Trước đây người chơi sách thường là những bậc thức giả lớn tuổi. Gần đây xuất hiện thêm người chơi sách trẻ. Có bạn trẻ hiện sở hữu bộ sưu tập tới 14 000 cuốn đủ các thể loại. Có bạn trẻ có tới 6 000 cuốn chuyên về dân tộc học, văn hoá dân gian, lịch sử,... viết về Huế.

(Theo Trần Đức Anh Sơn)

Thủ bút: chữ viết tay, ở đây chỉ chữ kí và lời đề tặng của tác giả hoặc người mua sách để tặng.

Thức giả: người có kiến thức sâu rộng, được nể trọng.

Xem đáp án

Em đọc văn bản, chú ý các từ như: thủ bút, thức giả,…

9. Tự luận
1 điểm

Viết Đ nếu đúng, S nếu sai.

a. Người Huế có thú chơi sách từ lâu

 

b. Chơi sách là mua sao cho thật nhiều sách về chất đầy các tủ sách gia đình.

 

c. Chơi sách là lấy sách làm hiện vật và tập hợp sách theo một chủ đề nào đó.

 

d. Người chơi sách có thể “săn” một cuốn sách với niềm đam mê đặc biệt.

 

e. Người chơi sách luôn phải tìm kiếm sách ở mọi nơi và mất nhiều thời gian.

 

g. Người chơi sách thường tìm sách của những nhà xuất bản ở Huế thời trước.

 

h. Những người chơi sách chỉ hi vọng vào sự dày công tìm kiếm.

 

i. Người chơi sách không bao giờ hi vọng vào sự may mắn.

 

k. Ở Huế có nhiều trường phái chơi sách.

 

l. Ở Huế hiện nay có người chơi sách cao tuổi lẫn người trẻ tuổi.

 

Xem đáp án

a. Người Huế có thú chơi sách từ lâu

Đ

b. Chơi sách là mua sao cho thật nhiều sách về chất đầy các tủ sách gia đình.

S

c. Chơi sách là lấy sách làm hiện vật và tập hợp sách theo một chủ đề nào đó.

Đ

d. Người chơi sách có thể “săn” một cuốn sách với niềm đam mê đặc biệt.

Đ

e. Người chơi sách luôn phải tìm kiếm sách ở mọi nơi và mất nhiều thời gian.

Đ

g. Người chơi sách thường tìm sách của những nhà xuất bản ở Huế thời trước.

Đ

h. Những người chơi sách chỉ hi vọng vào sự dày công tìm kiếm.

S

i. Người chơi sách không bao giờ hi vọng vào sự may mắn.

S

k. Ở Huế có nhiều trường phái chơi sách.

Đ

l. Ở Huế hiện nay có người chơi sách cao tuổi lẫn người trẻ tuổi.

Đ

10. Tự luận
1 điểm

Trả lời câu hỏi:

a. Người chơi sách giống và khác người mua sách để đọc, để lập thư viện gia đình như thế nào?

b. Người chơi sách chấp nhận những sự tốn kém nào? Vì sao có sự tốn kém đó?

c. Theo em, những người chơi sách góp phần như thế nào vào việc giữ gìn và phát triển văn hóa nói chung cũng như văn hóa đọc nói riêng?

Xem đáp án

a.Người chới sách giống và khác người mua sách để đọc, để lập thư viện gia đình:

+ Ngoài bỏ tiền ra mua sách, lập tủ sách, thư viện gia đình họ còn phải sưu tầm, coi sách như hiện vật được tập hợp theo chủ đề.

+ Họ bỏ thời gian, công sức, tiền bạc để săn đuổi một bản sách mà họ thích với niềm đam mê bất tận và với giá mua không lường trước.

+ Sẵn sàng “xới tung” tất cả các thương hiệu sách, các chiếu sách cũ vỉa hè, tủ sách gia đình,… để mua hay đổi lấy sách mà họ cần.

b.

- Người chơi sách chấp nhận sự tốn kém về thời gian, công sức, tiền bạc.

- Có sự tốn kém đó để đổi lấy một bản sách mà họ thích.

c. Những người chơi sách ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát triển văn hóa nói chung cũng như văn hóa đọc nói riêng:

+ Lưu giữ và bảo tồn những cuốn sách lâu đời, khó tìm kiếm hoặc không lưu hành rộng rãi dưới dạng bản mềm.

+ Truyền cảm hứng, tình yêu sách và văn hóa đọc đối với mọi người xung quanh đặc biệt là giới trẻ.

11. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn văn và gạch dưới những từ ngữ nối để liên kết câu.

Có thể nói chơi sách là một thú tiêu khiển cao cấp. Bởi vì người chơi sách phải biết được giá trị của cuốn sách, tức là phải có học vấn sâu rộng và yêu thích văn chương, học thuật. Và người chơi sách còn phải giao thiệp rộng để được giới thiệu, mua bán, đổi chác, biếu tặng. Nhưng không chỉ có thế, người chơi sách còn phải tương đối dư giả về tiền bạc và thời gian. Nói tóm lại, chơi sách là một "nghề chơi cũng lắm công phu. Người đọc sách đã hiếm mà người chơi sách, do đó, càng hiếm hơn.

Xem đáp án

Có thể nói chơi sách là một thú tiêu khiển cao cấp. Bởi vì người chơi sách phải biết được giá trị của cuốn sách, tức là phải có học vấn sâu rộng yêu thích văn chương, học thuật. người chơi sách còn phải giao thiệp rộng để được giới thiệu, mua bán, đổi chác, biếu tặng. Nhưng không chỉ có thế, người chơi sách còn phải tương đối dư giả về tiền bạc và thời gian. Nói tóm lại, chơi sách là một "nghề chơi cũng lắm công phu. Người đọc sách đã hiếm mà người chơi sách, do đó, càng hiếm hơn.

12. Tự luận
1 điểm

Viết đoạn văn (3 – 5 câu) nói về một nét văn hóa riêng của quê em có sử dụng các từ ngữ nối để liên kết câu.

G: Nét riêng (đặc sắc) về văn hóa như mời nhau ăn trầu, uống trà xanh, lập thư viện ngoài trời cho trẻ em đọc sách, hàng xóm đến câu chuyện trò vào buổi tối với gia đình vừa có người mất,…

Xem đáp án

Tương truyền tục ăn trầu có từ thời Hùng Vương và gắn liền với câu chuyện cảm động về tình cảm anh em, vợ chồng. Rồi tục ăn trầu đã trở thành một tập quán không thể thiếu trong cuộc sống của người dân Việt Nam. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” giúp con người gần gũi, cởi mở với nhau hơn. Và hơn hết, miếng trầu nhân lên niềm vui khi khách đến chơi nhà được mời trầu; tiệc cưới có đĩa trầu để chia vui; ngày lễ tết miếng trầu mời người lạ để làm quen, kết bạn; với người quen miếng trầu là tri ân, tri kỷ. Miếng trầu cũng làm cho người ta ấm hơn trong những ngày đông giá lạnh; làm nguôi, vơi bớt nỗi buồn khi nhà có tang, được sẻ chia cảm thông bởi họ hàng, bạn bè, làng xóm. Miếng trầu còn là biểu tượng cho sự thành kính của thế hệ sau với thế hệ trước qua mâm cỗ thờ cúng gia tiên, tế lễ thần linh….

- Từ ngữ nối để liên kết câu: rồi, và hơn hết.