Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 7 Kết nối tri thức có đáp án
57 câu hỏi
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
ĐI CÂU RẮN
“Má nuôi tôi là một người thuộc khá nhiều chuyện cổ tích và biết hầu hết mọi cung cách làm ăn của những người nông dân nghèo ở khắp mọi vùng Nam Bộ. Có điều là trong tất cả những mẩu chuyện bà kể, chuyện nào cũng pha đượm ít nhiều tính chất thần bí, và bà tin tưởng một cách ngây thơ ở "mệnh trời". Dù vậy tôi cũng thích nghe, thích gợi cho má nuôi tôi kể để tôi nghe say mê...
Tía nuôi tôi hiền lành, ít nói. Ông thường ngồi lặng lẽ đánh những sợi dây gai hoặc giũa lưỡi câu, miệng không rời cái tẩu thuốc lá hình thù kỳ dị làm bằng một gốc ớt hiểm rừng.
[…]
Tía nuôi tôi đi cà nhắc đến ngồi trên một gốc cây cắt ngang giống như một cái đòn sù sì đặt bên cạnh bếp lửa, xem chúng tôi chuẩn bị mồi câu. Thằng Cò muốn chứng minh lời khen của má, hay cố biểu diễn" cho tôi phục nó thì không biết, mà nó làm coi thạo lắm. Nó dùng hai ngón tay banh họng con cá, nhét vào họng mỗi con một quả ớt hiểm chín.
- Ê nướng đi mậy, An? - nó bảo tôi.
- Làm sao nướng đây?
- Lấy cái que xiên bụng nó, kê lên than nướng chứ còn làm sao? Nướng mồi mà cũng không biết!
Nó vót nhọn đầu cái que, xóc ngang con cá mồi, trao cho tôi. Tôi đặt lên than hồng một chốc, con thòi lòi ngậm quả ớt bèn nhe mồm ra, lưng vểnh cong; từ trong họng con cá vàng rộp đó mỡ bắt đầu chảy ra, nhiểu xuống than cháy nghe xèo xèo. Tôi nuốt nước miếng đánh ực một cái:
- Eo ôi, thơm quá!
Thằng Cò cười lớn:
- Mình ngửi mùi cá nướng còn phát thèm, huống gì con rắn?
- Ừ thứ mồi này nhậy lắm. Đêm nay, hai đứa bay ít ra cũng kiếm được năm bẩy con cỡ bắp chân... Cái thứ mồi nhái sống gặp nước bơi lom xom thì chỉ tổ quện cá lóc tới phá mất? - tía nuôi tôi cười hà hà. Khói thuốc lá vón quanh đôi mắt to, sáng lóng lánh. Ông vui vẻ nói tiếp:
- Thằng An mới ra nghề đêm đầu tiên, đừng có xách giỏ về không đấy, con ạ.”
Ông kéo thúng gai đến bên chân, cầm lên vuốt từng sợi gai, sau đó lại rút cái giũa giắt bên vách ra giũa lại những chiếc lưỡi câu lụt. Tôi hỏi:
- Tía không đánh gai lại cho săn à, tía?
Thằng Cò cười hì hì:
- Vậy mà mày cái gì cũng khoe giỏi? Tưởng cái gì trong sách của mày cũng có hử? Tía ơi, đừng bày cho nó nghe tía!
Tía nuôi tôi vỗ vỗ đầu thằng Cò:
- Nó không biết thì phải bảo cho nó chứ. Có ai mẹ đẻ ra không học mà biết được!
Ông cầm một cuộn gai ước chừng bốn năm mươi sợi, to như cổ tay tôi, toàn là những sợi gai rời nhau, dài hơn thước, thong thả buộc chùm hai đầu lại, một đầu buộc vào chiếc lưỡi câu có ngạnh rất sắc. Ông vừa cuốn chùm gai vòng quanh cổ tay làm như bộ con rắn quấn, vừa giảng giải:
- Rắn không có tay có chân, nhưng nó khỏe nhờ sức quấn của xương sống. Con trăn bắt nai, quấn con mồi siết chặt mãi, bao giờ mềm, giập hết xương, nó mới nuốt. Thứ rắn rằn ri cóc, có con to cỡ bắp vế, ở dưới nước nó còn khỏe hơn con trăn! Khi mắc câu, nó cuốn dây câu và vặn mình xoay vòng siết lại mãi, dây to đến mấy cũng phải đứt. Nhưng loài vật làm sao khôn hơn người được! Đây An, con xem đây! Toàn là những sợi gai rời. Hễ bắt đầu quấn thì gai mới bắt đầu săn. Càng quấn càng săn một lúc, thấy chưa đứt, nó bèn xoay ngược lại. Tức thời cuộn gai lại tháo ra. Cứ thế quấn và tháo ra suốt đêm, chùm gai câu vẫn trơ nguyên, không đứt một sợi?
Khi tía nuôi tôi kiểm tra tất cả những cuộn gai và ướm xong từng lưỡi câu rồi, ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm. Chúng tôi ăn cơm xong thì má nuôi tôi đã ôm nõ, đèn soi, mác và một cái giờ tre to tướng bỏ xuống xuồng rồi.
Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa. Xuồng chúng tôi lướt qua một quãng sông, hai bên bờ lau sậy mọc rậm rịt. trước mắt tôi dần dần mở ra một mảng trời vàng rực. Ánh sáng lấp lánh màu bụi vàng kim loại tỏa thành những đường dài rẽ quạt chạy tháng lên không. Một bầy cò nối đuôi nhau bay theo hình mũi tên, trông mệt mỏi vội vàng, những đầu cánh trắng nặng nề nhún lên nhún xuống quạt gió lướt đi cứ như vương vướng những tia vàng hấp hối khiến chúng không bay mau được. Xuồng vẫn trôi băng băng.
Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang. Trời đã tối, những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít, không để một tia sáng nhỏ lờ mờ của một bóng sao nào lọt xuống được. Tối như bưng mắt. Cái mẻ hun đặt trước mũi xuồng cứ phả khói mù mịt khiến tôi gần như ngạt thở. Tôi khom người chồm tới, thổi phù phù mấy cái vào những dầu củi ngún lem nhem. Lửa phụt nháy lên những ngọn mảng như lụa đỏ, chao qua chao lại. Ánh lửa soi sáng hai bên cành lá rậm rịt, vụt kéo trở về những mảng màu xanh lục, đỏ, vàng, lốm đốm của những hình hoa lá bị nhấn chìm trong bóng tối đen ngòm.”
(Trích Chương 8, Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi – NXB Kim Đồng 2019)
Đề tài của văn bản trên là
những đặc trưng của vùng đất phương Nam.
đặc điểm của con người Nam Bộ.
con người và thiên nhiên đất rừng phương Nam.
cách thức sinh tồn của người Nam Bộ.
C. con người và thiên nhiên đất rừng phương Nam.
Chủ đề của văn bản trên là
con người Nam Bộ chất phác, mộc mạc, phóng khoáng, hiểu và sống gần gũi với thiên nhiên; thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ, trù phú, hào phóng với con người.
cuộc sống mưu sinh vất vả, lối sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, tình yêu và niềm tự hào tha thiết của người phương Nam với quê hương xứ sở.
cuộc sống mưu sinh vất vả, lối sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên của người dân Nam Bộ; thiên nhiên Nam Nộ hoang dã, luôn thử thách con người bằng sự hung bạo, hùng vĩ của nó.
con người Nam Bộ vất vả, trung thực và sống gần gũi với thiên nhiên, nương tựa vào sự hào phóng của thiên nhiên.
A. con người và thiên nhiên đất rừng phương Nam.
Đâu là phương án nói đúng về tính cách của nhân vật “má nuôi” trong đoạn trích trên?
Là người phụ nữ Nam Bộ tần tảo, ít nói nhưng rất yêu thương gia đình.
Là người phụ nữ nông dân nghèo khó, luôn chắt chiu tần tảo để chăm lo đủ đầy cho gia đình.
Là người phụ nữ Nam Bộ giàu tình yêu thương, luôn biết quan tâm, chăm sóc mọi người.
Là người phụ nữ nông dân Nam Bộ mộc mạc, hồn hậu, am hiểu mọi cách thức sinh sống ở đất rừng phương Nam.
Đâu là phương án nói KHÔNG ĐÚNG về tính cách của nhân vật “tía nuôi” trong đoạn trích trên?
Là người nông dân Nam Bộ điển hình, chân chất, mộc mạc, chăm chỉ và thành thạo mọi sinh kế.
Là người nông dân Nam Bộ điển hình, sống gắn bó với đất rừng quê hương, am hiểu sâu sắc về những sinh kế gắn liền với sự hào phóng của thiên nhiên.
Là người nông dân Nam Bộ sống nghĩa tình nồng hậu khi dành tình yêu thương, sự quan tâm cho đứa trẻ lang thang (An) mình nhận về làm con nuôi.
Là người nông dân Nam Bộ kiên cường, bản lĩnh, chiến thắng sự hung dữ và bạo tàn của thiên nhiên.
D. Là người nông dân Nam Bộ kiên cường, bản lĩnh, chiến thắng sự hung dữ và bạo tàn của thiên nhiên.
Đâu là phương án chính xác nhận xét về tính cách của nhân vật Cò trong đoạn trích trên?
Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam nên quen thuộc và khá am hiểu những sinh kế gắn với thiên nhiên nơi đây, đồng thời cậu bé cũng rất hiếu thắng, thích ganh đua với An.
Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam, sớm phải mưu sinh vất vả, cực nhọc nêncó sự trầm tư không đúng với tuổi thật.
Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam, khỏe khoắn, tinh nghịch và thích trêu chọc, ganh đua với bạn.
Cả A, B, C đều đúng.
A. Là cậu bé lớn lên giữa đất rừng phương Nam nên quen thuộc và khá am hiểu những sinh kế gắn với thiên nhiên nơi đây, đồng thời cậu bé cũng rất hiếu thắng, thích ganh đua với An.
Đâu là phương án chính xác nhận xét về tính cách của nhân vật An thể hiện trong đoạn trích trên?
Là cậu bé hồn nhiên trong sáng, có kiến thức rộng mở, am hiểu nhiều lĩnh vực đời sống, đặc biệt là thiên nhiên và con người đất rừng phương Nam.
Là cậu bé hồn nhiên, luôn thích thú, tò mò trước những điều mới lạ, có khả năng tập trung quan sát và cái nhìn tinh tế với vẻ đẹp thiên nhiên rừng phương Nam.
Là cậu bé hồn nhiên trong sáng, luôn tò mò thích thú và muốn khám phá thiên nhiên xung quanh, thể hiện vốn sống và sự am hiểu của cậu về thiên nhiên.
Là cậu bé không được sinh ra ở đất rừng phương Nam nhưng lại gắn bó máu thịt với nơi đây nên có sự am hiểu sâu sắc với thiên nhiên và con người nơi đây.
B. Là cậu bé hồn nhiên, luôn thích thú, tò mò trước những điều mới lạ, có khả năng tập trung quan sát và cái nhìn tinh tế với vẻ đẹp thiên nhiên rừng phương Nam.
Đâu là câu văn có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng một cụm từ?
Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa.
Trời đã tối, những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít, không để một tia sáng nhỏ lờ mờ của một bóng sao nào lọt xuống được.
Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang.
Khi tía nuôi tôi kiểm tra tất cả những cuộn gai và ướm xong từng lưỡi câu rồi, ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm.
Cho câu văn sau. “Bây giờ, mặt trời đã lặn vào những đám mây đỏ thẫm cuối dải rừng xa”. Hãy chỉ ra thành phần được mở rộng bằng một cụm từ và tác dụng của việc mở rộng thành phần đó bằng cụm từ?
Thành phần chủ ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. khiến cho chủ thể được miêu tả chi tiết và cụ thể hơn.
Thành phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. bổ sung thông tin về đặc điểm và phương hướng của đối tượng “những đám mây” dưới tác động của động từ trung tâm “lặn”.
Thành phần chủ ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. khiến cho chủ thể “mặt trời” được miêu tả sinh động và chi tiết.
Thành phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. bổ sung thông tin về số lượng và mức độ của đối tượng chịu tác động từ động từ trung tâm “lặn”.
B. Thành phần vị ngữ được mở rộng bằng cụm từ; tác dụng. bổ sung thông tin về đặc điểm và phương hướng của đối tượng “những đám mây” dưới tác động của động từ trung tâm “lặn”.
Cho câu văn sau. “những cành lá dại đan nhau thành một tấm trần kín mít”. Thành phần chủ ngữ trong câu văn trên được cấu tạo là
cụm danh từ.
cụm tính từ
cụm chủ - vị.
cụm động từ.
Cho câu văn sau. “Một bầy cò nối đuôi nhau bay theo hình mũi tên, trông mệt mỏi vội vàng, những đầu cánh trắng nặng nề nhún lên nhún xuống quạt gió lướt đi cứnhư vương vướng những tia vàng hấp hối khiến chúng không bay mau được”. Câu văn trên sử dụng biện pháp tu từ nào?
So sánh và ẩn dụ.
Ẩn dụ và hoán dụ.
Nhân hóa và so sánh.
Liệt kê và so sánh.
Đâu là phương án nhận xét chính xác về tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau. “Một lúc lâu, qua khỏi cánh đồng ngập tím một màu hoa lục bình, chúng tôi bắt đầu chui vào vòm cây đen thẳm như một cái hang”.
Miêu tả thiên nhiên sinh động và hấp dẫn vẻ đẹp của thiên nhiên đất rừng phương Nam khi chiều muộn và đêm tối sắp đến.
Thể hiện sự quan sát tinh tế và cách hình dung đầy sinh động, cuốn hút của nhân vật An trước thiên nhiên đất rừng phương Nam.
Cho thấy cậu bé An thích thú và tò mò trước thiên nhiên đất rừng phương Nam hoang sơ, kì vĩ.
Miêu tả sinh động độ cao và sự rộng lớn của vòm cây (được ví với cái hang), qua đó cho thấy vể đẹp hoang sơ, hùng vĩ của thiên nhiên đất rừng phương Nam.
D. Miêu tả sinh động độ cao và sự rộng lớn của vòm cây (được ví với cái hang), qua đó cho thấy vể đẹp hoang sơ, hùng vĩ của thiên nhiên đất rừng phương Nam.
Câu văn nào KHÔNG sử dụng từ ngữ đặc trưng của địa phương Nam Bộ?
Ê nướng đi mậy, An?
Má nuôi tôi là một người thuộc khá nhiều chuyện cổ tích.
Ông bèn bảo chúng tôi đi dằn bụng cho no, kẻo thức khuya mau đói lắm.
Tưởng cái gì trong sách của mày cũng có hử?
Má nuôi An biết rất nhiều chuyện cổ tích và rành hầu hết “cung cách làm ăn của những người nông dân nghèo” ở vùng Nam Bộ. Còn tía nuôi là người hiền lành, ít nói, thành thạo mọi nghề. Để chuẩn bị cho chuyến đi câu rắn, Cò đã giục An đi nướng cá làm mồi câu, mùi cá nướng thơm phức khiến An “phát thèm”. Tía nuôi thành thạo “đánh gai” cho dây câu, trong lúc đó ông còn chỉ dạy chi tiết cho An nghe về ngón nghề câu rắn của người Nam Bộ. Trước khi trời tối, An và Cò “dằn bụng cho no” và chuẩn bị lên đường. Xuồng của An và Cò “trôi băng băng” qua dải kênh giữa hai bờ lau sậy dưới ánh hoàng hoang vàng rực. Cuối cùng xuồng trôi đến một “vòm cây đen thẳm như một cái hang” và trời chính thức tối hẳn, ngọn lửa được An thắp lên đã giúp cậu soi rõ những cành lá rậm rịt hai bên.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
THI THỔI XÔI, NẤU CƠM
“Đây là một trong những môn thi để tuyển nữ quan ở thôn Hạc Đỉnh, Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Cuộc thi bắt đầu từ sáng tinh mơ ngày giáp tết. Hằng năm, dân làng phải tuyển 48 (trong số hàng trăm) trinh nữ cho đội đến Mã Cương. Sau tiếng trống lệnh, mỗi nữ sinh xuống một thuyền thúng (thúng trên đầm Giang Đỉnh, mang theo kiềng, nồi, chõ, gạo nếp, gạo tẻ cùng rơm ướt và bã mía tươi). Các cô chèo ra giữa đầm, chuẩn bị bếp, vo gạo để chờ lệnh bắt đầu cuộc thi. Sau tiếng trống lệnh mới được nhóm lửa, các cô thổicơm hay đồ xôi trước tùy ý, miễn là xong sớm để chèo thuyền vào nộp cơm và xôi cho Ban giám khảo. Nếu xong trước, xôi vẫn phải ngon, dẻo thì mới được điểm cao.
Khó khăn với các cô là ở chỗ nhóm bếp, thổi lửa. Phải giữ sao cho thuyền khỏi chòng chành, bếp lửa hướng ra phía gió dễ tắt. Các bà mẹ đã dạy các cô cách thức nhóm lửa bằng mồi ướt, thổi lửa mỗi khi bếp tắt, cách chọn hướng kê bếp theo chiều gió, giữ lửa cháy điều hòa, cách ước lượng thời gian. Các cô đốt những nén hương và trông theo những đoạn hương cháy để biết nồi cơm, chõ xôi đã vừa chín chưa.
Nếu gặp mưa phùn gió bấc, các cô sẽ trải qua một cuộc thi vất vả, còn nếu như mưa nặng hạt thì các cô sẽ được đưa lên bãi Giang Đỉnh trổ tài dưới những mái tranh. Cuộc thi diễn ra suốt buổi sáng.”
Văn bản trên sử dụng phương thức biểu đạt gì? Dựa vào đâu để nhận ra phương thức ấy?
- Văn bản trên sử dụng phương thức thuyết minh.
- Dấu hiệu để nhận biết: văn bản giới thiệu đầy đủ về địa danh, thời gian, thành phần, nguyên vật liệu và các bước tiến hành một hội thi.
Đây là trò chơi dân gian truyền thống hay trò chơi hiện đại? Câu văn nào cho biết điều ấy? Kể tên các đồ dùng, vật liệu mà các cô gái tham gia thi thổi xôi nấu cơm mang theo? Trong những thứ ấy, có thứ gì khác thường?
- Hội thi thổi xôi nấu cơm là một trò chơi dân gian truyền thống.
- Dấu hiệu nhận biết: Câu “Ðây là một trong những môn thi để tuyển nữ quan ở thôn Hạc Ðỉnh, Hoằng Hoá, Thanh Hoá” cho ta biết điều đó.
- Những đồ dùng mà các cô gái mang theo khi thi thổi xôi nấu cơm gồm: kiềng, nồi, chõ, gạo nếp, gạo tẻ cùng rơm ướt và bã mía tươi. Trong những thứ ấy, rơm ướt, bã mía – nhiên liệu dùng để đun bếp là thứ khác thường.
Những khó khăn mà các cô gái tham gia thi thổi xôi nấu cơm gặp phải là gì? Điều đó đòi hỏi ở các cô gái những đức tính gì?
- Những khó khăn mà các cô gái gặp phải trong trò chơi này là: một mình nổi lửa đun bếp trong một chiếc thuyền thúng chòng chành giữa đầm lộng gió, phải đun bếp bằng rơm ướt và bã mía là những thứ rất khó cháy.
- Những điều đó đòi hỏi ở các cô gái sự thông minh, khéo léo, kiên trì, chịu khó.
Viết đoạn văn ngắn nêu suy nghĩ của em về việc phục hồi một số trò chơi dân gian trong những năm gần đây (khoảng 8 -10 câu).
Với sự phát triển nhanh như vũ bão hiện nay của xã hội thì một số trò chơi dân gian dần bị mai một và lãng quên. Việc hồi một số trò chơi dân gian trong những năm gần đây dường như chưa thực sự tốt. Sự hình thành của các thiết bị điện tử, các trò chơi điện tử,... đã khiến mỗi cá nhân từ trẻ em cho tới người lớn không còn bận tậm và muốn chơi các trò chơi dân gian. Không gian để chơi cũng dẫn bị thu hẹp bởi các công trình xây dựng ngày một nhiều hơn. Muốn phục hồi trò chơi dân gian, trước hết cần sự quan tâm của chính quyền các địa phương với nhận thức công việc này góp phần chấn hưng văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở cần đưa nó vào chương trình hoạt động của nhà văn hóa, trung tâm văn hóa một cách bài bản, thường xuyên. Ðầu tư cho trò chơi dân gian không cần nhiều chi phí tốn kém. Ở vùng nông thôn, miền núi, khi kinh tế chưa dồi dào, khi trò chơi hiện đại chưa xuất hiện nhiều thì việc phục hồi trò chơi dân gian là rất cần thiết để sinh hoạt văn hóa cộng đồng phát triển. Tết cổ truyền là dịp tốt để phục hồi các trò chơi dân gian không những làm cho không khí ngày Tết sôi nổi, vui tươi mà còn tạo ra những nét đẹp văn hóa của dân tộc. Đừng quên đi những nét đẹp truyền thống vốn có của dân tộc.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
BÀN VỀ NHÂN VẬT THÁNH GIÓNG
Truyện Thánh Gióng là tác phẩm lớn đầu tiên về đề tài giữ nước chống xâm lược. Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lí tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc cứu nước. Sự phi thường của nhân vật Gióng thể hiện qua những chi tiết về sự thụ thai thần kì của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu mang thai Gióng sau khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng mười hai tháng mới sinh,...). Ở Gióng có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm sao Thánh Gióng có thể nhổ từngbụi tre đằng ngà để tiếp tục truy kích và đánh tan giặc Ân xâm lược? Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục đích đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
Nhìn chung, những yếu tố kì diệu khác thường trong nhân vật Gióng tuy khá nổi bật nhưng cũng không thể lấn át và thay thế được cái bình thường của con người trần thế. Nguồn gốc, lai lịch của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và xác định. Căn bản và trước hết, Gióng là một Con Người, một người con của làng Phù Đổng, nước Văn Lang, đời Hùng Vương thứ sáu. Quá trình ra đời, trưởng thành và chiến thắng giặc ngoại xâm của Gióng đều gắn với những người dân bình dị. Dù có siêu nhiên kì ảo đến đâu, Gióng vẫn phải “nằm trong bụng mẹ” (dù là mấy tháng), vẫn phải “uống nước, ăn cơm với cà” (dù là mấy nong), vẫn phải mặc quần áo bằng vải của dân làng Phù Đổng (dù là cỡ rộng đến đâu). Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nên.
Nhân vật Thánh Gióng thể hiện sức mạnh của nhân dân trong công cuộc giữ nước. Lực lượng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của dân tộc bình thường tiềm ẩn trong nhân dân, tương tự như chú bé làng Gióng nằm im không nói, không cười. Nhưng khi có giặc thi tiếng gọi ấy đã tập hợp, thức tỉnh tất cả các lực lượng tiềm ẩn ấy của dân tộc và làm nên Thánh Gióng.
Khi chưa có giặc, Gióng là đứa trẻ nằm im không biết nói. Khi nghe tiếng gọi của non sông, Gióng vụt lớn lên và cất lời nhận nhiệm vụ đánh tan giặc, Thánh Gióng bay về trời. Quá trình phát triển của nhân vật Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh và nên thơ, nên họa biết bao!
(Theo Hoàng Tiền Tựu, Bình giảng truyện dân gian, NXB Giáo dục, 2003)
Nghị luận
Biểu cảm
Tự sự
Miêu tả
Văn bản trên làm em nhớ đến truyền thuyết nào?
Truyền thuyết Con rồng cháu tiên
Truyền thuyết Bánh chưng, bánh giầy
Truyền thuyết Thánh Gióng
Truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm
C. Truyền thuyết Thánh Gióng
Nhận xét của người viết về nhân vật Thánh Gióng là:
Thánh Gióng có sức mạnh.
Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục địch đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
Cả ba đáp án đều sai.
B. Nhân vật Thánh Gióng được xây dựng rất đặc sắc, vừa là một anh hùng phi thường với vẻ đẹp lí tưởng, vừa là một con người trần thế với những vẻ đẹp giản dị, gần gũi.
Phó từ trong câu “Và ngay cả ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt của Gióng cũng là do vua Hùng tập hợp những người thợ rèn tài giỏi ở trong nước đúc nên.” là:
Và
Là
Những
Của
C. Những
Tác giả đã đưa ra bằng chứng thể hiện đặc điểm phi thường của Thánh Gióng qua câu văn nào?
Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lí tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc cứu nước.
Ở Gióng có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí.
Sự phi thường của nhân vật Gióng thể hiện qua những chi tiết về sự thụ thai thần kì của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu mang thai Gióng sau khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng mười hai tháng mới sinh,...).
Tất cả những chi tiết ấy đều nhằm mục đích đề cao người anh hùng, làm cho người anh hùng có nguồn gốc siêu nhiên, thần thánh khác thường.
Từ Hán Việt trong câu “Trước hết, Thánh Gióng hội tụ những đặc điểm phi thường, thể hiện lí tưởng của nhân dân về người anh hùng đánh giặc cứu nước.” là:
Trước hết
Đặc điểm
Nhân dân
Phi thường
D. Phi thường
Tác giả đã đưa ra bằng chứng thể hiện đặc điểm “là một con người trần thế” của Thánh Gióng qua câu văn nào?
Nguồn gốc, lai lịch của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và xác định.
Khi chưa có giặc, Gióng là đứa trẻ nằm im không biết nói.
Khi nghe tiếng gọi của non sông, Gióng vụt lớn lên và cất lời nhận nhiệm vụ đánh tan giặc, Thánh Gióng bay về trời.
Quá trình phát triển của nhân vật Thánh Gióng dồi dào ý nghĩa nhân sinh và nên thơ, nên hoa biết bao!
A. Nguồn gốc, lai lịch của Gióng thật rõ ràng, cụ thể và xác định.
Phó từ “những” trong cụm danh từ “Tất cả những chi tiết ấy” bổ sung ý nghĩa gì?
Bổ sung ý nghĩa về thời gian
Bổ sung ý nghĩa về mức độ
Bổ sung ý nghĩa về số lượng
Bổ sung ý nghĩa phủ định
Khi nói về sự phi thường của nhân vật Gióng, người viết đã đưa ra những bằng chứng nào?
Khi nói về sự phi thường của nhân vật Gióng, người viết đã đưa ra những bằng chứng:
Chi tiết về sự thụ thai thần kì của bà mẹ Gióng (như bà bắt đầu mang thai Gióng sau khi bà ướm thử bàn chân mình vào vết chân khổng lồ, bà mang thai Gióng mười hai tháng mới sinh,...). Ở Gióng có cả sức mạnh của thể lực và sức mạnh của tinh thần, ý chí. Không có thể lực và ý chí chiến đấu phi thường, làm sao Thánh Gióng có thể nhổ từng bụi tre đằng ngà để tiếp tục truy kích và đánh tan giặc Ân xâm lược.
Để viết bài nghị luận này, người viết cần trang bị những kiến thức và kĩ năng gì?
Để viết bài nghị luận này, người viết cần trang bị những kiến thức và kĩ năng:
+ Kiến thức về văn bản Thánh Gióng, hiểu nội dung, nghệ thuật của truyện Thánh Gióng
+ Kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học. Biết đưa ra ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng để làm rõ ý kiến của mình.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
THỜI GIAN LÀ VÀNG
Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.
Thật vậy, thời gian là sự sống. Bạn vào bệnh viện mà xem, người bệnh nặng, nếu kịp thời chạy chữa thì sống, để chậm là chết.
Thời gian là thắng lợi. Bạn hỏi các anh bộ đội mà xem, trong chiến đấu, biết nắm thời cơ, đánh địch đúng lúc là thắng lợi, để mất thời cơ là thất bại.
Thời gian là tiền. Trong kinh doanh, sản xuất hàng hóa đúng lúc là lãi, không đúng lúc là lỗ.
Thời gian là tri thức. Phải thường xuyên học tập thì mới giỏi. Học ngoại ngữ mà bữa đực, bữa cái, thiếu kiên trì, thì học mấy cũng không giỏi được.
Thế mới biết, nếu biết tận dụng thời gian thì làm được bao nhiêu điều cho bản thân và cho xã hội. Bỏ phí thời gian thì có hại và về sau hối tiếc cũng không kịp.
(Phương Liên - Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục)
Văn bản “Thời gian là vàng” thuộc loại văn bản nào?
Văn bản biểu cảm
Văn bản nghị luận
Văn bản tự sự
Văn bản thuyết minh
B. Văn bản nghị luận
Văn bản trên bàn về vấn đề gì?
Bàn về giá trị của sự sống.
Bàn về giá trị của sức khỏe.
Bàn về giá trị của thời gian.
Bàn về giá trị của tri thức
C. Bàn về giá trị của thời gian.
Theo tác giả văn bản trên, thời gian có những giá trị nào?
thời gian là sự sống, thời gian là thắng lợi, Thời gian là vô giá.
thời gian là tiền, thời gian là tri thức, thời gian là quý hiếm.
thời gian là vàng, thời gian là sự sống, thời gian là thắng lợi, thời gian là tiền, thời gian là tri thức.
thời gian là vàng, thời gian là sự sống, thời gian là thắng lợi, thời gian là tiền, thời gian là sức mạnh.
C. thời gian là vàng, thời gian là sự sống, thời gian là thắng lợi, thời gian là tiền, thời gian là tri thức.
Nội dung chính trong văn bản trên là gì?
Khẳng định giá trị của vàng đối với con người
Khẳng định giá trị của thời gian đối với con người
Phải biết tận dụng thời gian trong công việc.
Ý nghĩa của thời gian trong kinh doanh, sản xuất
B. Khẳng định giá trị của thời gian đối với con người
Thành ngữ “Bữa đực, bữa cái” trong văn bản có nghĩa là?
Bữa học, bữa nghỉ
Học tập chăm chỉ
Kiên trì trong học tập
Chịu khó học tập.
A. Bữa học, bữa nghỉ
Nhận định nào không đúng khi nói văn bản “Thời gian là vàng” là bàn về một vấn đề đời sống?
Bài viết ngắn gọn súc tích, thể hiện rõ tình cảm của người viết
Người viết thể hiện rõ ý kiến dối với vấn đề cần bàn bạc
Trình bày những ý kiến, lí lẽ, bằng chứng cụ thể
Ý kiến, lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp theo trình tự hợp lí.
Nêu tác dụng của phép điệp ngữ “thời gian” trong văn bản trên?
Nhấn mạnh giá trị quý báu của thời gian đối với con người.
Nói lên giá trị quý báu của thời gian đối với con người.
Nhấn mạnh giá trị quý báu của thời gian
Nói lên giá trị quý báu của thời gian đối với con người và sự vật.
Từ ngữ in đậm trong đoạn văn dưới đây được sử dung theo hình thức liên kết nào?
“Ngạn ngữ có câu: Thời gian là vàng. Nhưng vàng thì mua được mà thời gian không mua được. Thế mới biết vàng có giá mà thời gian là vô giá.”
Phép thế
Phép lặp
Phép liên tưởng
Phép nối.
Đọc văn bản, em tâm đắc thông điệp nào nhất? Vì sao?
Em tâm đắc nhất với thông điệp “Thời gian là sự sống” vì: với mỗi con người, sự sống là điều đáng giá nhất. Có sự sống chúng ta sẽ có cơ hội làm được tất cả mọi thứ mình mong muốn. Vì vậy, có thể nói, thời gian là điều quý giá vô cùng. Có thời gian, chúng ta sẽ có cơ hội quyết định và thực hiện hoài bão của mình.
Bài học về việc sử dụng thời gian:
- Cần sử dụng thời gian một cách hợp lí, có kế hoạch cho từng việc.
- Không nên lãng phí thời gian vì thời gian đã qua thì không thể lấy lại được.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
Đọc sách là sinh hoạt và nhu cầu trí tuệ thường trực của con người có cuộc sống trí tuệ. […] Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa. Và khi không còn nhu cầu đó nữa, thì đời sống tinh thần của con người nghèo đi, mòn mỏi đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng. Đây là một câu chuyện nghiêm túc, lâu dài và cần được trao đổi, thảo luận một cách cũng rất nghiêm túc, lâu dài. Tôi chỉ muốn thử nêu lên ở đây một đề nghị: Tôi đề nghị các tổ chức thanh niên của chúng ta, bên cạnh những sinh hoạt thường thấy hiện nay, nên có một cuộc vận động đọc sách trong thanh niên cả nước; và vận động từng nhà gây dựng tủ sách gia đình.
Gần đây có một nước đã phát động phong trào trong toàn quốc mỗi người mỗi ngày đọc lấy 20 dòng sách. Chúng ta cũng có thể làm như thế, hoặc vận động mỗi người trong mỗi năm đọc lấy một cuốn sách. Cứ bắt đầu bằng việc rất nhỏ, không quá khó. Việc nhỏ đấy nhưng rất có thể là việc nhỏ khởi đầu một công cuộc lớn.
(Theo Nguyên Ngọc, Một đề nghị, tạp chí Điện tử Tiasang.com.vn, ngày 19-7-2007)
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
Vì sao tác giả cho rằng: “Không đọc sách tức là không còn nhu cầu về cuộc sống trí tuệ nữa”?
Lí do vì không đọc sách thì đời sống tinh thần của con người sẽ nghèo đi, cuộc sống đạo đức cũng mất luôn nền tảng.
Theo anh/ chị việc nhỏ và công cuộc lớn mà tác giả đề cập đến trong đoạn văn là gì?
- Việc nhỏ là vận động đọc sách và gây dựng tủ sách trong mỗi gia đình, mỗi người có thể đọc từ vài chục dòng mỗi ngày đến một cuốn sách trong một năm.
- Công cuộc lớn: Đọc sách trở thành ý thức, thành nhu cầu của mỗi người, mỗi gia đình trong xã hội, phấn đấu đưa việc đọc sách trở thành văn hóa quốc gia, dân tộc.
Thông điệp mà tác giả gửi gắm qua đoạn trích?
- Thông điệp: Từ việc khẳng định đọc sách là biểu hiện của con người có cuộc sống trí tuệ, không đọc sách sẽ có nhiều tác hại tác giả đã đưa ra lời đề nghị về phong trào đọc sách và nâng cao ý thức đọc sách ở mọi người.
Xác định phép thế trong những đoạn trích sau:
a. Sách tất nhiên là đáng quý, nhưng cũng chỉ là một thứ tích lũy. Nó có thể làm trở ngại cho nghiên cứu học vấn. (Chu Quang Tiềm, Bàn về đọc sách)
b. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. (Thanh Tịnh, Tôi đi học)
c. Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. (Thanh Tịnh, Tôi đi học)
d. Hoạ sĩ nào cũng đến Sa Pa! Ở đấy tha hồ vẽ.
Phép thế là:
a. Nó thay thế cho sách.
b. Con đường này thay thế cho con đường làng dài và hẹp.
c. Họ thay thế cho mấy cậu học trò mới.
d. đấy thay thế cho Sa Pa
Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
Trong mỗi dịp tết, các vùng miền trên cả nước đều tổ chức rất nhiều trò chơi dân gian. Chúng tôi xin được giới thiệu một trò chơi khá phổ biến ở Bắc Bộ - đó là trò chơi đập niêu.

Đập niêu là một trò chơi mang đậm nét dân gian. Luật chơi của nó khá đơn giản. Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là phải đập vỡnó với một chiếc gậy. Tuy nhiên, người chơi phải bịt mắt, đứng cách xa chiếc niêu vài mét trước khi tiến lại gần để đập vỡ niêu. Cái khó của người chơi chính là bị bịt mắt và không xác định được đúng vị trí treo chiếc niêu. Mặc dù có sự hỗ trợ rất nhiệt tình của các khán giả đứng xung quanh nhưng không phải ai cũng đến được đúng chỗ cần đến. Tuy vậy, đối với những người chơi và khán giả, đập trúng niêu hay không đập trúng đều không quan trọng. Điều quan trọng nhất khi tham gia trò chơi là sự vui vẻ.
Người ta chỉ biết đập niêu là một trò chơi dân gian khá phổ biến ở rất nhiều làng quê Bắc Bộ trong mỗi dịp xuân về. Nhưng chắc hẳn nhiều người chưa biết tường tận vềnguồn gốc xuất xứ và ý nghĩa của những người nghĩ ra nó.
Trong những ngày diễn ra Tết Việt ở Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, đập niêu luôn là trò chơi thu hút được số lượng người dân thủ đô tham gia đông đảo nhất. Điều này cho thấy việc tổ chức trò chơi có ý nghĩa rất tích cực, nhất là trong việc gìn giữ một nét truyền thống văn hoá của dân tộc ta.
(Theo Tùng Anh, báo Hànộimới)
Văn bản trên giới thiệu trò chơi gì và của dân tộc nào?
Trò chơi đập niêu ở Bắc Bộ
Trò chơi đập niêu của người Khmer
Trò chơi đập niêu của người Khmer
Trò chơi đập niêu của người Chăm
A. Trò chơi đập niêu ở Bắc Bộ
Theo văn bản, trò chơi thường tổ chức vào thời điểm nào trong năm?
Trong dịp tết nguyên tiêu
Trong các ngày lễ lớn.
Trong dịp tết trung thu
Ở nhiều làng quê Bắc Bộ trong mỗi dịp xuân về
Người dân thủ đô thường tham gia trò chơi đập niêu đông đảo nhất ở đâu?
Ở Sân vận động quốc gia Mỹ Đình
Ở các công viên lớn.
Ở các khu vực có diện tích lớn
Ở các bãi đất rộng ngoại đô.
Người tham gia chơi đập niêu cần làm gì?
Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là tìm được chiếc niêu để đập vỡ nó.
Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là phải đập vỡ nó với một chiếc gậy.
Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là lấy được đồ vật trong chiếc niêu sau khi đập vỡ.
Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là dùng tay, lấy chiếc niêu xuống và đập vỡ nó.
B. Những người tổ chức trò chơi treo một chiếc niêu đất lên và nhiệm vụ của người chơi là phải đập vỡ nó với một chiếc gậy.
Trong văn bản, trò chơi có quy định luật chơi tạo tình hấp dẫn, hồi hộp là gì?
Người chơi làm theo sự trợ giúp của khán giả
Người chơi không xác định được vị trí niêu
Người chơi phải bịt mắt, đứng cách xa chiếc niêu vài mét trước khi tiến lại gần để đập vỡ niêu.
Phải đập vỡ được chiếc niêu trong thời gian qui định.
C. Người chơi phải bịt mắt, đứng cách xa chiếc niêu vài mét trước khi tiến lại gần để đập vỡ niêu.
Điều quan trọng nhất của trò chơi được nói đến trong văn bản là gì?
Sự vui vẻ
Có sự hỗ trợ rất nhiệt tình của các khán giả
Đập trúng niêu
Nhận được phần thưởng từ ban tổ chức.
A. Sự vui vẻ
Nhận xét về cách trình bày thôn tin về trò chơi trong văn bản?
Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể
Thông tin cụ thể, chính xác, dễ tiếp nhận
Miêu tả chi tiết động tác của người chơi.
Kể lại diễn biến một hội thi đập niêu
Theo văn bản, trò chơi đập niêu được tổ chức rộng rãi có có ý nghĩa gì?
Điều quan trọng nhất khi tham gia trò chơi là sự vui vẻ.
Tạo không khí vui vẻ, trẻ trung sau những ngày lao động vất vả.
Phát triển thể lực của người tham gia trò chơi.
Việc tổ chức trò chơi có ý nghĩa rất tích cực, nhất là trong việc gìn giữ một nét truyền thống văn hoá của dân tộc ta.
D. Việc tổ chức trò chơi có ý nghĩa rất tích cực, nhất là trong việc gìn giữ một nét truyền thống văn hoá của dân tộc ta.
Câu nào sau đây có trạng ngữ được mở rộng?
Mặc dù có sự hỗ trợ rất nhiệt tình của các khán giả đứng xung quanh nhưng không phải ai cũng đến được đúng chỗ cần đến.
Người ta chỉ biết đập niêu là một trò chơi dân gian khá phổ biến ở rất nhiều làng quê Bắc Bộ trong mỗi dịp xuân về.
Trong những ngày diễn ra Tết Việt ở Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, đập niêu luôn là trò chơi thu hút được số lượng người dân thủ đô tham gia đông đảo nhất
Điều quan trọng nhất khi tham gia trò chơi là sự vui vẻ.
C. Trong những ngày diễn ra Tết Việt ở Sân vận động quốc gia Mỹ Đình, đập niêu luôn là trò chơi thu hút được số lượng người dân thủ đô tham gia đông đảo nhất
Ghi lại câu văn mang thông điệp của tác giả bài viết? Theo em, mỗi học sinh cần làm gì để giữ nét đẹp văn hóa trong các trò chơi dân gian ?
- Câu văn: “Điều này cho thấy việc tổ chức trò chơi có ý nghĩa rất tích cực, nhất là trong việc gìn giữ một nét truyền thống văn hoá của dân tộc ta”.
- Theo em, học sinh có thể hành động để giữ nét đẹp văn hóa trong các trò chơi dân gian:
+ Tham gia tích cực các trò chơi dân gian.
+ Chủ động tổ chức và tham gia các trò chơi dân gian trong phạm vi trường học: nhảy dây, ô ăn quan, đá cầu, bịt mắt bắt dê…
+ Viết bài, vẽ tranh tuyên truyền về cách chơi các trò chơi dân gian.
Em hãy viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến tán thành).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định rằng: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Có thể thấy rằng, đoàn kết là một truyền thống tốt đẹp, nên điều đó đã được ông cha ta nhắc nhở qua câu:
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Câu tục ngữ mượn hình ảnh mang tính biểu tượng để khẳng định tầm quan trọng của đoàn kết trong cuộc sống. “Một cây” chỉ số ít, thể hiện cho con người đang ở vào thế riêng lẻ và đơn độc. Còn “ba cây” chỉ số nhiều, thể hiện cho một tập thể mạnh mẽ. “Chụm lại” là hành động thể hiện của sự đoàn kết, đồng lòng. Chỉ khi có sự đoàn kết ấy, chúng ta mới “nên hòn núi cao” tức là vươn tới đích đến, vươn tới thành công. Tóm lại, con người biết đồng lòng, chung sức để tạo nên sức mạnh to lớn có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách và hoàn thành mọi việc dễ dàng, nhanh chóng hơn.
Lời răn dạy được gửi gắm qua câu tục ngữ là hoàn toàn đúng đắn. Tinh thần đoàn kết đã được thể hiện từ trong cuộc sống lao động hàng ngày đến những năm tháng chiến đấu bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Trong những năm chiến tranh, sức mạnh đoàn kết của nhân dân đã tạo nên chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chiến thắng quân Nguyên - Mông, cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mĩ… Ngày hôm nay, tinh thần đoàn kết còn gắn liền với tấm lòng tương thân tương ái. Đại dịch Covid-19 xảy ra khiến cho thế giới phải gánh chịu nhiều đau thương, trong đó có cả Việt Nam. Nhưng dù trong hoàn cảnh đó, con người Việt Nam vẫn đoàn kết một lòng để vượt qua. Đảng và Nhà nước đã ban hành các quy định để ứng phó với dịch bệnh. Các y bác sĩ xung phong lên tuyến đầu chống dịch không quản ngại cả đều đã thể hiện được tinh thần đoàn kết. Mọi người dân đều nghiêm túc chấp hành những quy định về phòng chống dịch bệnh… Để rồi chúng ta đã chiến thắng đại dịch, trở về với cuộc sống bình thường.
Bên cạnh đó, nhiều người vẫn còn một số những cá nhân, tập thể sống vô trách nhiệm. Họ luôn xa rời với lợi ích của tập thể, sống vị kỉ và không có tinh thần đoàn kết. Những hành vi đó sẽ gây ra những hậu quả khôn lường. Còn đối với một học sinh, chúng ta cần ý thức được trách nhiệm của bản thân khi sống trong một tập thể.
Có người đã từng nói: “Muốn đi nhanh hãy đi một mình, muốn đi xa hãy đi cùng nhau”. Câu tục ngữ “Một cây làm chẳng nên non” đã giúp chúng ta hiểu ơn ý nghĩa của đoàn kết trong cuộc sống.
Em hãy viết bài văn kể lại sự việc có thật liên quan đến một nhân vật lịch sử.
Quốc ca Việt Nam - một bài hát từ lâu đã trở thành một phần linh thiêng trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam. Bài hát đã được sáng tác trong một hoàn cảnh rất đặc biệt.
Theo lời kể của nhạc sĩ Văn Cao, khi còn trẻ, ông là một thanh niên khá nổi. Bạn bè thường khen ngợi ông là tài hoa, am hiểu cả thơ ca và hội họa. Nhưng ít ai biết răng, ông cũng đã có một khoảng thời gian khá dài chìm trong tuyệt vọng, không tìm thấy lẽ sống cho cuộc đời mình. Cho đến khi đã gặp được anh Ph.D. Qua anh Ph.D., ông lại biết được anh Vũ Quý. Sau khi trò chuyện với Vũ Quý ông như được giác ngộ, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình. Không còn sa vào những buồn chán, thất vọng, ông khao khát được tham gia cách mạng, mong muốn vào chiến khu cùng những người anh em đứng lên cầm súng giết quân thù. Nhưng nhiệm vụ ông nhận được là sáng tác nghệ thuật.
Lúc mới bắt đầu sáng tác “Tiến quân ca”, nhạc sĩ Văn Cao chưa một lần cầm súng cũng chưa từng được gia nhập đội vũ trang nào, tôi chỉ biết đang làm một bài. Ông chưa từng biết chiến khu, chỉ biết đến những con đường ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Ông chưa gặp các chiến sĩ trong khóa quân chính đầu tiên để biết họ hát như thế nào. Nhưng bằng nhiệt huyết tuổi trẻ, trên căn gác nhỏ phố Nguyễn Thượng Hiền, ông đã hoàn thành bài hát “Tiến quân ca” trước sự chứng kiến của Ph.D. - người chứng kiến sự ra đời của Tiến quân ca,anh Vũ Quý - người đầu tiên biết đến bài hát và ông Nguyễn Đình Thi - người xướng âm ca khúc đã rất xúc động.
Bài hát ra đời và nhận được sự ủng hộ của mọi người. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, bài hát lần đầu tiên được công bố rộng rãi trong một cuộc mít tinh của công chức Hà Nội. Trước Quảng trường Nhà hát lớn, hàng ngàn người cất cao tiếng hát, hòa vang đầy khí thế hào hùng. Những tờ truyền đơn in Tiến quân ca được phát đến tay mọi người trong hàng ngũ các công chức tham dự buổi mít tinh. Lần thứ hai Tiến quân ca được xuất hiện là trong một cuộc mít tinh diễn ra vào ngày 19 tháng 8. Hôm đó, hàng ngàn người cùng những em thiếu nhi cất cao lời ca, tiếng hát; thét lên tiếng căm hờn bè vào mặt lũ đế quốc tàn bạo với niềm tự hào về chiến thắng của cách mạng.
Tiến quân ca - Quốc ca Việt Nam đã ra đời như vậy, trong thời đại lịch sử đánh dấu buổi bình minh mới của đất nước. Tác phẩm mang một giá trị lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam.
Em hãy viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống mà em quan tâm (trình bày ý kiến phản đối).
Nhiều người cho rằng thời gian là vô hạn. Từ đó, họ không biết trân trọng mà sử dụng thời gian một cách lãng phí. Thời gian đúng là vô hạn, nhưng thời gian của con người là hữu hạn.
Thời gian là một khái niệm trừu tượng. Con người không thể cảm nhận được bằng cách cầm nắm hay nhìn thấy. Mà chỉ cảm nhận được sự chảy trôi của thời gian theo sự thay đổi của vạn vật xung quanh. Nó không đứng yên mà luôn chuyển động không ngừng. Bởi vậy, nếu thời gian đã qua đi, sẽ không thể quay lại. Và cho dù có rất nhiều tiền bạc cũng không thể mua được thời gian. Bởi vậy, chúng ta cần học cách trân trọng thời gian.
Mỗi khoảng thời gian qua đi, con người sẽ có thêm nhiều trải nghiệm. Chúng ta có thể tích lũy thêm được nhiều giá trị tốt đẹp: kiến thức, kĩ năng sống, kinh nghiệm, cách sống… Nhưng cũng có thể phải đối mặt với những đau khổ, mất mát hay chia ly. Nhờ đó mà con người thêm trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn giữa cuộc đời nhiều chông gai. Có ai đó đã từng nói rằng: “Thời gian có thể chữa lành mọi vết thương” quả là không sai. Đôi khi, thời gian cũng giúp con người quên đi những sai lầm, mất mát trong quá khứ.
Những người trẻ tuổi là những người có được nhiều thời gian nhất - nghĩa là có được cơ hội để sửa chữa những sai lầm. Và ngày một hoàn thiện bản thân trở nên tốt đẹp hơn. Người xưa có câu: “Thời gian là vàng, là bạc”. Cách so sánh này đã cho thấy vai trò to lớn của thời gian. “Vàng, bạc” vốn là những thứ vật chất quý hiếm và có giá trị mà con người luôn mong muốn được sở hữu. So sánh “thời gian” - một khái niệm vô hình, trừu tượng với “vàng, bạc” để giúp chúng ta cảm thấy dễ hình dung hơn về thời gian cũng như tầm quan trọng của nó trong cuộc sống.
Quý trọng thời gian nhưng không có nghĩa là sống gấp gáp bị cuốn theo sự chảy trôi của thời gian. Mà phải hiểu rằng cần phải sống trọn vẹn từng giây, từng phút - mỗi khoảng thời gian đều là tận hưởng và tận hiến. Vậy mà hiện nay vẫn còn không ít người sống lãng phí thời gian. Họ chỉ biết chạy theo những cuộc ăn chơi, sa ngã vào các tệ nạn xã hội. Mà không chịu cố gắng làm những điều có ý nghĩa. Đặc biệt là đối với giới trẻ - những con người được coi là “không có gì ngoài thời gian”.
Đối với một học sinh như tôi - khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, việc ý thức được giá trị của thời gian là vô cùng quan trọng. Qua đây, có thể thấy rằng quan điểm của thời gian là vô hạn, không cần trân trọng thời gian là sai lầm.
Hãy biết quý thời gian - một lời khuyên ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc. Cũng như Benjamin Franklin - một chính trị gia người Mỹ đã từng khẳng định rằng: “Nếu thời gian là thứ đáng giá nhất, phí phạm thời gian hẳn phải là sự lãng phí ngông cuồng nhất”.
Đập niêu đất là trò chơi không biết có từ bao giờ nhưng đến nay, nó đã trở thành hoạt động không thể thiếu trên quê hương em trong những ngày đầu xuân năm mới.
Đập niêu đất là một trò chơi thú vị. Vì vậy, nó đã thu hút sự tham gia cổ vũ của rất nhiều người. Trò chơi thường được làng em tổ chức vào mồng 4 Tết hàng năm. Trong làng lại có các thôn, xóm nhỏ nên các thôn, xóm sẽ cử ra hai người làm thành một đội chơi tham gia tranh tài.
Để chơi trò chơi, người ta dựng đoạn tre to, chắc khỏe cao khoảng hai mét xuống đất. Sau đó, nối hai cây lại với nhau bằng một đoạn tre nằm ngang. Lúc này ba đoạn tre đã tạo thành hình giống như một cái cổng nhà. Trên thanh tre nằm ngang, ban tổ chức sẽ treo khoảng năm, sáu niêu đất lủng lẳng. Nhiệm vụ của các đội chơi là phải cầm gậy gỗ đập hết các niêu đất đó trong thời gian sớm nhất để giành chiến thắng. Để cho cuộc chơi thêm phần hấp dẫn, ban tổ chức đã yêu cầu một đội chơi phải có một người cõng một người trên lưng, cả hai người sẽ cùng bị bịt mắt và dựa vào trí nhớ của mình để đập niêu đất.
Để công bằng, các đội chơi sẽ lần lượt chơi và có trọng tài bấm giờ. Mỗi khi có hiệu lệnh xuất phát, các đội chơi sẽ phải dựa vào trí nhớ của mình và sự chỉ dẫn của dân làng để xác định và tiến đến vị trí của niêu đất; người được cõng trên lưng sẽ cố gắng đập vỡ niêu đất, còn người cõng sẽ cố gắng đứng vững và di chuyển theo sự chỉ dẫn của dân làng. Vì thế, mỗi khi một đội chơi xuất phát là tiếng hò reo, cổ vũ lại vang lên tạo thành một bầu không khí rất vui nhộn.
Sau khi các đội chơi của các thôn, xóm đã chơi xong, người dân trong làng và du khách có thể trực tiếp tham gia trò chơi để tự mình trải nghiệm cảm giác đập niêu đất.
Em rất yêu thích và mong chờ trò chơi đập niêu đất. Trò chơi đã trở thành niềm vui, thành nét văn hóa độc đáo trên quê hương em. Nó giúp cho mọi người cảm thấy vui vẻ hơn khi tết đến, xuân về và nó cũng làm cho con người ở làng quê trở nên gần gũi, thân thuộc với nhau hơn.
Em hãy viết bài văn phân tích một nhân vật văn học yêu thích trong cuốn sách đã đọc.
“Lão Hạc” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Nam Cao viết về số phận người nông dân trước cách mạng mà em được đọc và cảm thấy vô cùng ấn tượng. Nổi bật lên trong truyện là hình ảnh lão Hạc đã trở thành một trong những biểu tượng cho người nông dân Việt Nam.
Đầu tiên, lão Hạc cũng sống trong hoàn cảnh chung giống như biết bao người nông dân trước cách mạng - phải đối mặt với cuộc sống nghèo đói khổ cực. Nhưng lão cũng có hoàn cảnh riêng của mình. Vợ lão mất sớm. Con trai lão bỏ đi đồn điền cao su vì không có đủ tiền cưới vợ. Lão chỉ có con Vàng là kỷ vật của con bầu bạn. Không chỉ vậy, thiên tai còn đẩy lão vào cảnh đói nghèo. Lão phải đối mặt với: cái đói, giàu yếu, và sự cô đơn. Để rồi cuối cùng lão phải bán con chó trong niềm khổ đau tột cùng: “Mặt co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra, cái đầu ngoẹo về một bên, cái miệng móm mém mếu như con nít”, “lão hu hu khóc”...
Sống trong hoàn cảnh đó, nhưng lão Hạc vẫn có những phẩm chất tốt đẹp. Lão Hạc là một người cha hết mực yêu thương con. Vì thương con, lão chấp nhận đối mặt với cô đơn, với tuổi già để con ra đi cho thỏa chí. Con đi rồi, lão dồn cả yêu thương vào con chó Vàng. Bởi đó con chó là kỉ vật duy nhất mà con trai lão để lại. Nhìn con chó, lão tưởng như được thấy con mình. Lão thương con đến mức chấp nhận cái đói, rồi cả cái chết chứ không chịu bán đi mảnh vườn là của hồi môn của con. Nếu lão bán mảnh vườn, ắt lão sẽ đủ ăn tiêu để vượt qua thời khốn khó. Nhưng lão lại lo khi con trai về không có đất sinh sống làm ăn.
Đói nghèo như thế, khổ đau như thế nhưng lão không vì vậy mà tha hóa về nhân phẩm. Lão quyết không nhận sự giúp đỡ của ông giáo, bởi lão nghĩ hoàn cảnh của ông giáo có khá hơn mình đâu. Ban đầu là “luôn mấy hôm lão chỉ ăn khoai”, “khoai cũng hết, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy. Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộc, hôm thì ăn rau má, với thỉnh thoảng một vài củ ráy hay bữa trai, bữa ốc”. Rồi đến mức chẳng còn gì để ăn, để sống. Trong hoàn cảnh này, con người ta rất dễ đánh mất đi sự trong sạch của mình. Nhưng lão Hạc thì không như vậy. Lão quyết định tìm đến cái chết. Lão đến xin Binh Tư một ít bả chó.Binh Tư đã nghi ngờ lão. Ông giáo cũng vậy. Nhưng không, Lão Hạc vẫn giữ được vẹn nguyên tâm hồn dào dạt yêu thương đáng quý, đáng trọng của người nông dân và cả sự tự trọng cao đẹp của mình.
Lòng tự trọng của lão Hạc rực sáng nhất ngay khi thân xác lão đau đớn nhất. Lão Hạc đã chọn cái chết, một cái chết khốc liệt để tâm hồn mình được trong sạch, được trọn vẹn tình nghĩa với tất thảy mọi người - kể cả với con chó Vàng tội nghiệp.
Với ngòi bút xây dựng nhân vật độc đáo, qua nhân vật lão Hạc, người đọc mới thấm thía được số phận bất hạnh của người nông dân Việt Nam trước cách mạng, cũng như nổi bật lên cả là phẩm chất tốt đẹp của họ.


