Soạn Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học hiện đại - Cánh diều - Chuyên đề 2
Đề thi

Soạn Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học hiện đại - Cánh diều - Chuyên đề 2

A
Admin
VănLớp 1259 lượt thi
46 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Mục 1. Tác phẩm văn học nêu lên những nội dung lớn nào? Vì sao trước hết cần hiểu khái niệm hình tượng nghệ thuật?

Xem đáp án

Tác phẩm văn học nêu lên những nội dung: 

  • Khái niệm: Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ, kết quả hoạt động sáng tác (lao động nghệ thuật) của cá nhân nhà văn, hoặc kết quả nỗ lực sáng tác của tập thể; đơn vị độc lập cơ bản của văn học

  • Phân loại: Tác phẩm có thể tồn tại dưới hình thức ngôn bản truyền miệng hoặc hình thức văn bản nghệ thuật (được ghi giữ bằng văn tự), có thể được tạo thành bằng văn vần hoặc bằng văn xuôi; và bao giờ cũng thuộc một loại văn học nhất định (tự sự, trữ tình, kịch), một thể tài văn học nhất định. 

  • Độ dài ngôn bản hoặc văn bản tác phẩm có thể từ một câu (tục ngữ, ca dao, cách ngôn, đề từ…) đến hàng ngàn, hàng vạn câu (sử thi, tiểu thuyết nhiều tập…)

Cần hiểu khái niệm hình tượng nghệ thuật vì cũng như các loại hình nghệ thuật khác, tác phẩm văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật. Cùng là khám phá, nhận thức cuộc sống, nếu như khoa học sử dụng những khái niệm, định nghĩa, công thức, định lí… thì văn học và các ngành nghệ thuật dùng hình tượng nghệ thuật. Đây chính là điểm thống nhất chung giữa văn học và các ngành nghệ thuật, giúp cho việc chuyển thể tác phẩm từ văn học thuận lợi.

2. Tự luận
1 điểm

“Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình,...”

Em hiểu mục đích ấy như thế nào? Hãy làm sáng tỏ:

- Văn học nhận thức và cắt nghĩa đời sống như thế nào? Cách nhận thức và cắt nghĩa đời sống của văn học có gì khác với các ngành khoa học?

- Phân tích một số tác phẩm văn học có trong sách Ngữ văn lớp 12 để làm rõ mục đích “thể hiện tư tưởng và tình cảm” của tác giả.

Xem đáp án

Câu nói “Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình...”, em hiểu mục đích của câu nói này là nói lên mục đích của việc sáng tạo nghệ thuật. Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật không chỉ để thể hiện tài năng của bản thân mà còn để phản ánh và diễn giải cuộc sống xung quanh họ. Tác phẩm nghệ thuật là cách mà nghệ sĩ thể hiện những suy nghĩ, cảm xúc và quan điểm của mình về thế giới. Điều này có thể bao gồm việc nhìn nhận về những vấn đề xã hội, những trải nghiệm cá nhân hoặc những khám phá về con người và cuộc sống. Vì vậy, mỗi tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một sản phẩm của sự sáng tạo, mà còn là một phần của chính nghệ sĩ – một cách họ nhìn nhận và cảm nhận thế giới. Văn học nhận thức và cắt nghĩa đời sống theo cách riêng của nó. Đối tượng của văn học là con người – con người trong học tập, lao động, chiến đấu, con người trong tình yêu và những mối quan hệ xã hội khác, con người trong không gian thời gian với thiên nhiên, vũ trụ. Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người mà còn phải nhận thức con người và đời sống con người, nói lên những ước mơ, khát vọng, những tâm tư, tình cảm của con người trong chiều sâu tâm hồn với sự đa dạng, phong phú. Một số tác phẩm văn học trong sách Ngữ văn 12 thể hiện rõ mục đích “tư tưởng và tình cảm” của tác giả: Tác phẩm “Tây Tiến”: Bài thơ là một bức tranh sinh động về cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tác giả đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật để tái hiện lại những khắc khoải, gian khổ của cuộc chiến, qua đó thể hiện tình yêu quê hương, nỗi nhớ nhà, lòng yêu tổ quốc và niềm tin vào chiến thắng. Tác phẩm “Đất nước”: Bài thơ là sự cảm nhận sâu sắc về đất nước Việt Nam qua những vẻ đẹp được phát hiện ở chiều sâu trên nhiều bình diện: lịch sử, địa lí, văn hóa. Tác giả đã dùng ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện tình yêu quê hương, lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.

3. Tự luận
1 điểm

Dẫn ra một số tác phẩm văn học cụ thể theo các yêu cầu sau:

- Tác phẩm tồn tại dưới hình thức truyền miệng.

- Tác phẩm tồn tại dưới hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự.

- Tác phẩm tự sự.

- Tác phẩm trữ tình.

- Tác phẩm kịch (kịch bản văn học).

Xem đáp án

Một số tác phẩm văn học cụ thể:

- Tác phẩm tồn tại dưới hình thức truyền miệng: Các tác phẩm văn học dân gian như truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, hát ru…

- Tác phẩm tồn tại dưới hình thức văn bản nghệ thuật được ghi giữ qua văn tự: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Lão Hạc của Nam Cao…

 - Tác phẩm tự sự: Những ngày thơ ấu, Tôi đi học… 

 - Tác phẩm trữ tình: Núi đôi, Lá diêu bông, Người lái đò sông Đà

- Tác phẩm kịch (kịch bản văn học): Bệnh sĩ, Trưởng giả học làm sang, Hồn Trương Ba da hàng thịt..

4. Tự luận
1 điểm

Em hiểu thế nào là "hình tượng nghệ thuật"? Hãy chỉ ra một số biểu hiện cụ thể của hình tượng nghệ thuật.

Xem đáp án

Hình tượng nghệ thuật là sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của hình tượng, hư cấu nghệ thuật. Nó không chỉ là bức tranh đời sống, những hình ảnh mà còn mang những ý nghĩa khác ngoài nó, những ý nghĩa mới, kết tinh, chứa đựng tư tưởng tình cảm của con người.

 Một số biểu hiện của hình tượng nghệ thuật: 

- Hình tượng là một khách thể mang tính tinh thần: Nghệ sĩ là người mang hồn mình thổi vào hình ảnh để tạo thành hình tượng riêng trong tác phẩm.

- Hình tượng mang tính tạo hình và biểu hiện: Hình tượng nghệ thuật thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh.

 - Tính quy ước và sáng tạo của hình tượng: Hình tượng nghệ thuật không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc.

- Hình tượng chứa đựng tình cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ: Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung các giá trị nhân học và thẩm mĩ của nghệ thuật.

- Tính nghệ thuật của hình tượng: Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ.

5. Tự luận
1 điểm

Phân tích những điểm chung và điểm khác biệt giữa hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học và hình tượng thuộc các ngành nghệ thuật khác.

Xem đáp án

Điểm chung:

- Tạo hình và biểu hiện: cả hai đều tạo ra hình tượng để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của mình.

- Tính tinh thần: hình tượng trong cả hai trường hợp đều là một khách thể mang tính tinh thần

- Tính quy ước và sáng tạo: hình tượng trong cả hai trường hợp đều có tính quy ước và sáng tạo

- Tính nghệ thuật: hình tượng trong cả hai trường hợp đều có tính nghệ thuật

Điểm khác biệt

- Chất liệu và phương tiện: hình tượng nghệ thuật trong văn học được tạo ra bằng ngôn từ, trong khi hình tượng trong các ngành nghệ thuật khác được tạo ra bằng chất liệu và phương tiện khác nhau.

- Phương thức giao tiếp: hình tượng nghệ thuật trong văn học là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độc giả

- Tính cụ thể và khái quát: hình tượng nghệ thuật trong văn học vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ.

- Tính trực quan: hình tượng nghệ thuật trong văn học không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực mà còn thưởng thức cả nét vẽ, màu sắc, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy.

6. Tự luận
1 điểm

"Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ."

Hãy phân tích một hình tượng văn học để làm rõ đặc điểm trên của hình tượng nghệ thuật.

Xem đáp án

Để minh họa cho đặc điểm của hình tượng nghệ thuật, hình tượng lão Hạc trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao là một minh chứng cho điều đó.

Trước hết hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt, không lặp lại. Lão Hạc là một hình tượng đặc sắc, không lặp lại trong văn học Việt Nam. Ông là một người nông dân già yếu, sống trong cảnh nghèo khó, bị gia đình và xã hội ruồng bỏ. Những nét cụ thể, cá biệt của lão hạc như sự cô đơn, sự tuyệt vọng, sự khốn khổ… được Nam Cao khắc họa một cách sâu sắc, tạo nên một hình tượng đầy bi kịch.

Ngoài ra, hình tượng nghệ thuật vừa có khả năng quan sát, làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của người nghệ sĩ. Mặc dù lão Hạc là một nhân vật cụ thể, nhưng qua hình tượng này, Nam Cao đã khái quát lên bức tranh đời sống khốn khổ của người nông dân thời bấy giờ. Lão Hạc không chỉ đại diện cho chính mình, mà còn đại diện cho hàng triệu người nông dân khác, sống trong cảnh nghèo khổ, bị xã hội ruồng bỏ. Qua hình tượng Lão Hạc, Nam Cao đã bộc lộ bản chất của một quá trình đời sống, một thực trạng xã hội cụ thể.

Như vậy hình tượng Lão Hạc trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao đã thể hiện rõ đặc điểm của hình tượng nghệ thuật: Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ. Đây chính là sức mạnh của nghệ thuật và sự sáng tạo của nghệ sĩ.

7. Tự luận
1 điểm

Em hiểu thế nào là hoạt động chuyển thể? Có thể chuyển thể tác phẩm giữa những ngành nghệ thuật nào?

Xem đáp án

Theo em, hoạt động chuyển thể là việc chuyển đổi một tác phẩm (thường là tác phẩm văn học, nghệ thuật) sang loại hình nghệ thuật khác trên cơ sở đảm bảo nội dung của tác phẩm gốc.

Có thể chuyển thể tác phẩm giữa những ngành nghệ thuật: điện ảnh, nhạc kịch, một bức tranh, vở kịch, một bộ phim.

8. Tự luận
1 điểm

Tác phẩm văn học có thế chuyển thể thành một tác phẩm thuộc những ngành nghệ thuật nào?

Xem đáp án

Tác phẩm văn học có thể chuyển thể thành một tác phẩm thuộc những ngành nghề nghệ thuật: điện ảnh, sân khấu, nhạc kịch, âm nhạc, mỹ thuật và nhiếp ảnh…

9. Tự luận
1 điểm

Việc chuyển thể một tác phẩm văn học thành tác phẩm nghệ thuật thuộc ngành khác nhẳm mục đích gì?

Xem đáp án

Việc chuyển thể một tác phẩm văn học thành tác phẩm nghệ thuật thuộc ngành khác nhằm mục đích trả tác phẩm văn học về với đời sống thực của nó, với nhu cầu thiết thực của người học, người đọc, người tiếp nhận.

Chuyển thể giúp tác phẩm văn học có thể được trải nghiệm qua nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau, từ đó mở rộng phạm vi tiếp cận và tạo ra nhiều trải nghiệm khác biệt cho người tiếp nhận. Ngoài ra, việc chuyển thể cũng giúp tôn vinh và giữ gìn giá trị của tác phẩm gốc, đồng thời tạo ra một sự đổi mới, sự sáng tạo trong quá trình tái hiện tác phẩm.

10. Tự luận
1 điểm

Ngoài các tác phẩm văn học chuyển thể đã dãn trong phần trên, em hãy nêu thêm một số tác phẩm văn học đã được chuyển thể thành tác phẩm nghệ thuật thuộc ngành khác.

Xem đáp án

Ngoài các tác phẩm chuyển thể đã dẫn trong phần trên, một số tác phẩm văn học đã được chuyển thể thành tác phẩm nghệ thuật thuộc ngành khác: 

- Tác phẩm văn học “Đảo của dân ngụ cư” của nhà văn Đỗ Phước Tiến đã được chuyển thể thành phim điện ảnh.

- Tác phẩm “Long Thành cầm giả ca” được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh.

- Tác phẩm “Cô gái đến từ hôm qua” của Nguyễn Nhật Ánh được chuyển thể thành bộ phim cùng tên.

11. Tự luận
1 điểm

Phần tài liệu Cứ 5 phim lại có 1 chuyển thể từ sách cung cấp cho em những thông tin nào và làm sáng tỏ thêm được vấn đề gì?

Xem đáp án

Phần tài liệu Cứ mỗi 5 phim lại có 1 chuyển thể từ sách cung cấp những thông tin và làm sáng tỏ các vấn đề:

Sự ảnh hưởng của văn hóa đọc sách trong ngành nghệ thuật điện ảnh: Tác phẩm cho thấy rằng việc chuyển thể từ sách thành phim không chỉ là một cách để tạo ra nội dung mới mà còn là một cơ hội kinh doanh lớn. Việc sách và phim kết hợp có thể tạo ra một hiện tượng văn hóa mạnh mẽ, tăng cường sự đa dạng và phong phú trong ngành giải trí. 

Sức ảnh hưởng của truyền thông đa dạng: Sự thịnh hành của các chuyển thể từ sách thành phim có thể phản ánh sự quan tâm của công chúng đối với việc tiếp cận nội dung qua nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Điều này cũng thể hiện sự quan trọng của việc kết nối văn hóa đọc với văn hóa xem phim.

Quy trình chuyển thể từ sách sang phim: Phần tài liệu này có thể cung cấp thông tin về quy trình phức tạp từ việc lựa chọn tác phẩm cần chuyển thể, viết kịch bản, casting, sản xuất và tiếp thị. Điều này giúp làm sáng tỏ quá trình sáng tạo và thương mại hóa nội dung từ sách sang phim.

Sức hấp dẫn của câu chuyện và nhân vật: Việc phân tích tại sao một số câu chuyện và nhân vật trở nên phổ biến trong cả hai định dạng có thể giúp làm sáng tỏ về những yếu tố mà khán giả thực sự đánh giá cao, từ những câu chuyện hấp dẫn đến các nhân vật sâu sắc và đa chiều.

Tầm ảnh hưởng của văn hóa đọc trong việc hình thành định kiến xã hội: Bằng cách so sánh và phân tích sự khác biệt giữa sách và phim, chúng ta có thể thấy được cách mà cả hai phương tiện này có thể tác động đến ý kiến, giá trị và quan điểm của khán giả. Điều này có thể giúp làm sáng tỏ tầm ảnh hưởng của văn hóa đọc và xem phim trong việc hình thành xã hội và văn hóa.

12. Tự luận
1 điểm

Giữa tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật chuyển thể có những điểm gì chung và khác biệt?

Xem đáp án

Giữa tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật chuyển thể có những điểm chung và khác biệt:

- Điểm chung

Nhiều tác phẩm ở các ngành nghệ thuật khác có chung cảm hứng, đề tài và chủ đề, tư tưởng với các tác phẩm văn học.

Không chỉ có chung mục đích, đề tài, chủ đề, cảm hứng sáng tạo… mà văn học và các tác phẩm nghệ thuật chuyển thể còn sử dụng một số biện pháp, thủ pháp nghệ thuật giống nhau.

Tác phẩm văn học sử dụng hệ thống từ tượng hình, từ chỉ màu sắc, đường nét, hình khối giàu tính hội họa, gần gũi với các tác phẩm hội họa.

Văn học và điện ảnh là hai loại hình nghệ thuật tư duy sử dụng chất liệu khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ gắn bó, hỗ trợ và học tập lẫn nhau: ở trong văn học có yếu tố điện ảnh, và ngược lại, ở trong điện ảnh có yếu tố của văn học.

- Điểm khác biệt

+ Điểm khác biệt đầu tiên chính là chất liệu được sử dụng để tạo nên tác phẩm của mỗi ngành nghệ thuật.

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu, vì thế, nó có thế mạnh trong việc xây dựng hình tượng “phi vật thể” với những phương pháp nghệ thuật, biện pháp tu từ phong phú mà các loại hình nghệ thuật khác khó có thể thực hiện được.

Thông qua chất liệu âm thanh, hình khối, hình vẽ, biểu tượng… con người và sự việc hiện lên sống động, cụ thể, nhất là với sân khấu, điện ảnh.

+ Điểm khác biệt thứ hai là cách thức tạo ra sản phẩm của mỗi ngành nghệ thuật. 

Tác phẩm văn học được thể hiện qua câu chữ, lời văn.

Còn tác phẩm chuyển thể thì sử dụng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, màu sắc…

+ Điểm khác biệt thứ ba là phương thức tiếp nhận và tính hiệu quả.

Người đọc tiếp nhận tác phẩm văn học thông qua quan sát trực tiếp câu chữ của văn bản, vẫn là đọc hiểu văn bản, cảm thụ, thưởng thức một văn bản ngôn từ.

Tác phẩm nghệ thuật tiếp nhận thông qua truyền bá bằng kênh nghe – nhìn, tác động trực tiếp bằng hình ảnh, âm thanh, ánh sáng tạo nên sự hấp dẫn, khiến người xem, người nghe có nhiều hứng thú, dễ tiếp nhận.

13. Tự luận
1 điểm

Phân tích, làm sáng tỏ lợi thế của tác phẩm văn học và lợi thế của các ngành nghệ thuật khác trong việc thể hiện cuộc sống, con người.

Xem đáp án

- Lợi thế của tác phẩm văn học trong việc thể hiện cuộc sống, con người

+ Văn học sử dụng ngôn ngữ như một công cụ mạnh mẽ để diễn đạt ý tưởng, cảm xúc và trạng thái tâm lí của con người. Ngôn ngữ có thể tạo ra hình ảnh, khung cảnh và cảm xúc một cách chi tiết và sâu sắc

+ Văn học kích thích trí tưởng tượng của người đọc, cho phép họ tạo ra hình ảnh riêng trong đầu dựa trên từ ngữ của tác giả

Văn học có thể khám phá những vấn đề sâu sắc và phức tạp của cuộc sống và con người, từ những mâu thuẫn nội tâm cho đến những xung đột xã hội.

- Lợi thế của các ngành nghề nghệ thuật khác trong việc thể hiện cuộc sống, con người.

+ Các ngành nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, và điện ảnh có thể tạo ra hình ảnh trực quan, giúp người xem cảm nhận cuộc sống và con người một cách trực tiếp và sinh động

+ Âm nhạc có thể truyền đạt cảm xúc một cách mạnh mẽ và trực tiếp, tạo ra một sự liên kết sâu sắc với người nghe

+ Kịch nghệ và điện ảnh kết hợp nhiều yếu tố nghệ thuật khác nhau (diễn xuất, âm nhạc, hình ảnh) để tạo ra một trải nghiệm toàn diện, giúp khán giả cảm nhận được cuộc sống và con người một cách đa chiều.

14. Tự luận
1 điểm

Từ hai tài liệu tham khảo ở trên, chỉ ra những điểm tích cực của việc chuyển thể tác phẩm văn học và những "nguy cơ" cần chú ý khi thực hiện chuyển thể tác phẩm văn học.

Xem đáp án

 - Những điểm tích cực của việc chuyển thể tác phẩm văn học


+ Việc chuyển thể tác phẩm văn học với mong muốn tạo làn gió mới cho đời sống nghệ thuật, giúp tác phẩm có thêm một diện mạo khác, mới mẻ, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, nhất là công chúng trẻ.

+ Việc chuyển thể các tác phẩm văn học mang đậm truyền thống văn hóa của dân tộc lên sàn diễn thông qua thể loại sân khấu khác nhau sẽ tạo ra các hình thức tiếp nhận mới mẻ, hấp dẫn, góp phần thu hút người xem, nhất là giới trẻ tìm đến để thưởng thức.

+ Sự phổ biến thông qua những hình thức mới này không những phù hợp thị hiếu thẩm mĩ của công chúng đương đại mà còn góp phần mở ra cơ hội giao lưu, hội nhập, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới.

 - Những “nguy cơ” cần chú ý khi thực hiện chuyển thể tác phẩm văn học

+ Có những bộ phim chuyển thể có nội dung sai lệch so với nguyên tác, gây cảm xúc tiêu cực cho khán giả và tạo nên những tranh cãi, phản ứng trong dư luận xã hội

Trong quá trình chuyển thể, làm mới tác phẩm văn học dưới hình thức khác sẽ không tránh khỏi việc cắt xén, lồng ghép ý tưởng theo chủ đích của đạo diễn. Nếu việc điều chỉnh tác phẩm chạy theo xu hướng thị trường sẽ dễ có nguy cơ làm dung tục, biến thể, mất mát giá trị thẩm mĩ, giá trị tư tưởng của tác phẩm văn học gốc.

+ Việc chuyển thể kiệt tác văn học thành kịch diễn trên sân khấu đòi hỏi sự chắc tay của đạo diễn, biên kịch để giữ trọn “hồn cốt” của tác phẩm.

15. Tự luận
1 điểm

Ngoài một số điểm khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm nghệ thuật chuyển thể từ văn học đã học, em còn thấy có những điểm khác biệt nào nữa? Hãy nêu lên và làm sáng tỏ.

Xem đáp án

+ Thời gian và không gian: Trong văn học, tác giả có thể mô tả thời gian và không gian một cách linh hoạt và chi tiết. Tuy nhiên, trong các tác phẩm nghệ thuật chuyển thể, thời gian và không gian thường bị giới hạn bởi định dạng của nó. Ví dụ, một bộ phim có thời lượng cố định, và không thể mô tả một khoảng thời gian dài hoặc một không gian rộng lớn một cách chi tiết như văn học.

+ Nhân vật: Trong văn học, nhân vật có thể được mô tả một cách sâu sắc và phức tạp, bao gồm cả suy nghĩ và cảm xúc bên trong họ. Trong khi đó, trong các tác phẩm nghệ thuật chuyển thể, việc truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật có thể khó khăn hơn và phụ thuộc nhiều vào kỹ năng diễn xuất của diễn viên.

+ Ngôn ngữ: Văn học sử dụng ngôn ngữ như một công cụ chính để truyền đạt ý tưởng và cảm xúc. Trong khi đó, các tác phẩm nghệ thuật chuyển thể thường phải dựa vào hình ảnh, âm thanh, và diễn xuất để truyền đạt ý tưởng và cảm xúc, có thể không truyền đạt được sự phong phú và sự tinh tế của ngôn ngữ.

+ Trải nghiệm của người tiếp nhận: Khi đọc văn học, người đọc có thể tạo ra hình ảnh và cảm xúc riêng dựa trên từ ngữ của tác giả. Trong khi đó, khi xem một tác phẩm nghệ thuật chuyển thể, người xem thường được cung cấp một hình ảnh và âm thanh cụ thể, có thể hạn chế sự tưởng tượng của họ.

16. Tự luận
1 điểm

Phân tích hậu quả của xu hướng văn hoá nghe - nhìn lấn át văn hoá đọc; làm rõ lợi ích của văn hoá đọc, nhất là với sách văn học.

Xem đáp án

- Hậu quả của xu hướng văn hóa nghe – nhìn lấn át văn hóa đọc

+ Giảm khả năng tư duy phản biện: khi người ta chỉ nghe nhìn, họ có xu hướng chấp nhận thông tin mà không cần phải suy nghĩ sâu sắc hay phân tích. Điều này có thể dẫn đến việc giảm khả năng tư duy phản biện

+ Thụ động trong việc tiếp thu thông tin: người ta trở nên thụ động trong việc tiếp thu thông tin, không còn sự tương tác tích cực với nguồn thông tin như khi đọc sách

+ Giảm khả năng tập trung: Việc tiếp xúc quá nhiều thông tin một cách nhanh chóng có thể làm giảm khả năng tập trung của con người.

- Lợi ích của văn hóa đọc nhất là với sách văn học

+ Phát triển tư duy phản biện: khi đọc, chúng ta phải tự mình tưởng tượng, suy nghĩ và phân tích thông tin. Điều này giúp phát triển khả năng tư duy phản biện.

+ Nâng cao khả năng tập trung: việc đọc đòi hỏi sự tập trung và kiên nhẫn, giúp nâng cao khả năng này.

+ Mở rộng kiến thức và hiểu biết: sách văn học thường chứa đựng nhiều tri thức và giá trị nhân văn sâu sắc, giúp mở rộng kiến thức và hiểu biết của người đọc.

+ Giải trí và thư giãn: Đọc sách cũng là một cách tuyệt vời để giải trí và thư giãn, nó giúp người đọc thoát khỏi thực tế và chìm đắm vào thế giới của sách.

17. Tự luận
1 điểm

So sánh lời thơ Yên tīnh (Giáng Vân) và lời bài hát Đâu phải bởi mùa thu (Phú Quang) sau đây để thấy điểm chung và điểm riêng của mỗi tác phẩm.Media VietJack

Xem đáp án

- Điểm chung

+ Cả hai tác phẩm đều sử dụng hình ảnh đá núi, biển khơi, và mùa thu để diễn tả nỗi lòng và tình cảm của nhân vật.

+ Cả hai tác phẩm đều mang đến cho người nghe, người đọc một cảm giác buồn bã, sâu lắng về cuộc sống và tình yêu.

+ Cả hai tác phẩm đều diễn đạt một nỗi niềm riêng, sự cô đơn và tâm tư của con người trong cuộc sống.

- Điểm riêng:

+ Bài thơ Yên Tĩnh tập trung vào việc diễn đạt cảm xúc và tâm trạng của nhân vật thông qua việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm và hình ảnh thiên nhiên. Bài thơ cho phép người đọc tưởng tượng và cảm nhận sự yên tĩnh, buồn bã trong từng dòng thơ

+ Lời bài hát Đâu phải mùa thu là kết hợp giữa lời và giai điệu để tạo ra một trải nghiệm nghe tổng thể. Bài hát không chỉ truyền đạt thông điệp qua lời, mà còn qua giai điệu, giọng hát và cách biểu diễn của ca sĩ. Bài hát mang đến một thông điệp sâu sắc hơn về cuộc sống, về những mất mát và niềm vui, về sự thay đổi của thời gian và mùa thu.

18. Tự luận
1 điểm

Cách chuyển thể một tác phẩm văn học thành một tác phẩm nghệ thuật khác có liên quan như thế nào với chuyên đề Sân khấu hoá tác phẩm văn học đã học ở lớp 10?

Xem đáp án

Cách chuyển thể một tác phẩm văn học thành một tác phẩm nghệ thuật khác có liên quan với chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học đã học ở lớp 10:

Sách chuyên đề Sân khấu hóa tác phẩm văn học đã học ở lớp 10 đã giúp các em có được những hiểu biết về việc chuyển thể tác phẩm văn học thành các sản phẩm nghệ thuật nghe – nhìn trên sân khấu. Nội dung chính của chuyên đề nhằm trả lời cho ba câu hỏi lớn: Thế nào là sân khấu hóa tác phẩm văn học? Quy trình sân khấu hóa tác phẩm văn học là như thế nào? Thực hành sân khấu hóa ra sao?

 - Các kĩ năng đã được cung cấp kiến thức và rèn luyện gồm:

+ Cách chuyển thể một tác phẩm văn học (truyện) thành kịch bản văn học (công việc của nhà biên kịch)

+ Từ kịch bản, nêu ý tưởng đạo diễn cho một hoạt cảnh hoặc một tiểu phẩm (công việc của nhà đạo diễn)

+ Từ kịch bản và hướng dẫn của đạo diễn, trình bày, biểu diễn trên sân khấu (công việc của diễn viên)

- Quy trình sân khấu hóa tác phẩm văn học đã được giới thiệu gồm:

+ Nghiên cứu, lựa chọn tác phẩm và hình thức chuyển thể

+ Biên kịch: xây dựng/ soạn thảo kịch bản văn học

+ Đạo diễn

+ Biểu diễn

 - Cuối cùng là việc thực hành sân khấu hóa tác phẩm văn học

Sách Chuyên đề học tập Ngữ văn 12 nêu lên cách chuyển thể tác phẩm văn học thành một tác phẩm nghệ thuật khác, cách tìm hiểu, giới thiệu và thực hành giới thiệu, thuyết trình về tác phẩm chuyển thể.

19. Tự luận
1 điểm

Trình bày các bước để chuyển thể một tác phẩm văn học. Trong nhà trường phổ thông, chủ yếu thực hiện hình thức chuyển thể nào? Vì sao?

Xem đáp án

- Các bước để chuyển thể một tác phẩm văn học:

Bước 1: Nghiên cứu, lựa chọn tác phẩm văn học và nêu ý tưởng chuyển thể.

Việc lựa chọn này dựa trên nhiều yếu tố: có thể từ yêu cầu, nhiệm vụ được giao hoặc tử sở thích á nhân khi thấy yêu thích một tác phẩm văn học nào đó…

Ý tưởng chuyển thể là những dự kiến về phương hướng, ý đồ chuyển thể. Có nhiều cơ sở để xác định: đặc trưng thể loại (thơ, truyện, kịch…), đề tài, thông điệp, tư tưởng chính của tác phẩm; dựa vào ý nghĩa thời sự hoặc bút pháp nghệ thuật nổi bật của tác phẩm văn học.

Bước 2: Lựa chọn hình thức chuyển thể. 

Chuyển tác phẩm văn học thành tác phẩm âm nhạc (bài thơ thành bài hát). Ví dụ bài thơ Mưa xuân hoặc Tây Tiến chuyển thành bài hát.

Chuyển tác phẩm văn học thành tác phẩm sân khấu điện ảnh (truyện ngắn, tiểu thuyết thành kịch bản văn học). Ví dụ từ văn bản truyện Muối của rừng, Chiếc thuyền ngoài xa, Nhật kí Đặng Thùy Trâm, Hạnh phúc của một tang gia chuyển thể thành một kịch bản văn học

Chuyển thể tác phẩm văn học thành tác phẩm hội họa, điêu khắc (truyện, thơ thành tranh vẽ, tượng, chạm khắc trên các chất liệu như gỗ, kim loại, gốm sứ…). Ví dụ tượng đài Tây Tiến (tại thị trấn Mộc Châu, tỉnh Sơn La) được lấy ý tưởng từ bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.

Chuyển tác phẩm văn học thành tác phẩm múa (truyện, thơ thành nhạc kịch, kịch múa, ba lê…). Ví dụ tác phẩm Truyện Kiều đã được tái hiện bằng vở Múa Kiều trên sân khấu Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh vào trung tuần tháng 3 năm 2018.

Bước 3: Xác định cách thức chuyển thể

Minh họa cho nội dung chính của tác phẩm bằng một hình ảnh (vẽ hoặc điêu khắc, nặn tượng, chạm khắc trên một chất liệu nào đó).

Chọn nhiều chi tiết, sự việc, hình ảnh… để vẽ minh họa hoặc chạm khắc thành nhiều bức khác nhau (tập trung) cho toàn bộ nội dung văn bản

Hai hình thức trên chuyển thể dựa vào nguyên tác. Ngoài ra, có thể chuyển thể tự do, phỏng theo tác phẩm văn học. Cách chuyển thể này cần hiểu được linh hồn của tác phẩm, từ đó thể hiện sáng tạo bằng hình ảnh riêng của mình.

Bước 4: Nghiên cứu và thực hiện chuyển thể

Từ tác phẩm văn học đã chọn, nghiên cứu chi tiết các yếu tố nội dung và hình thức để thực hiện chuyển thể thành tác phẩm nghệ thuật đã xác định ở các bước vừa nêu trên. 

Bước 5: Giới thiệu, trình diễn, thuyết trình về tác phẩm chuyển thể. 

Có những tác phẩm chuyển thể cần được trưng bày, giới thiệu như tranh, tượng, chạm khắc...

Có những tác phẩm chuyển thể cần biểu diễn, trình chiếu như kịch nói, phim ảnh, nhạc kịch, múa, ca hát…

Trong nhà trường phổ thông, hình thức chuyển thể được thực hiện chủ yếu là: tiến hành các hoạt động sân khấu hóa tác phẩm văn học như đã học ở lớp 10 vì do các điều kiện có hạn.

20. Tự luận
1 điểm

Cần chú ý những yêu cầu nào khi tìm hiểu một tác phẩm chuyến thế? Yêu cầu nào là trọng tâm của hoạt động này?

Xem đáp án

- Mục đích tìm hiểu: Tìm hiểu tác phẩm chuyển thể để giới thiệu, thuyết trình về tác phẩm ấy.

- Nội dung tìm hiểu thể hiện chủ yếu qua một số vấn đề như:

+ Tác phẩm chuyển thể thuộc ngành nghệ thuật nào, chuyển thể từ tác phẩm văn văn học nào? Tác giả của tác phẩm chuyển thể và của tác phẩm văn học là ai?

+ Cách thức chuyển thể: Tác phẩm văn học được chuyển thẻ theo hình thức trung thành với nguyên tác văn học hay chuyển thể tự do, phỏng theo? Thể hiện cụ thể qua những bằng chứng nào?

+ Nhận xét những điểm chung (giống nhau) và những điểm khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể (cả nội dung và hình thức). Đây là yêu cầu trọng tâm của việc tìm hiểu.

+ Đánh giá chung về tác phẩm chuyển thể: Tác phẩm chuyển thể đã làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm văn học như thế nào? Tác phẩm chuyển thể có những đóng góp gì mới hoặc còn hạn chế gì so với tác phẩm văn học được chuyển thể?

Yêu cầu trọng tâm của hoạt động này: Nhận xét những điểm chung (giống nhau) và những điểm khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể (cả nội dung và hình thức).

21. Tự luận
1 điểm

Giới thiệu, thuyết trình một tác phẩm chuyển thể cần chú ý những gì?

Xem đáp án

Để giới thiệu, thuyết trình một tác phẩm chuyển thể cần chú ý:

- Chuẩn bị

+ Nghiên cứu kĩ tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể từ tác phẩm văn học ấy như đã hướng dẫn ở mục 1. Cách tìm hiểu một tác phẩm chuyển thể

+ Chuẩn bị phương tiện và công cụ giới thiệu như: tác phẩm văn học (sách in hoặc sách điện tử); tác phẩm chuyển thể (bài hái, kịch bản phim, tranh vẽ…)

- Lập dàn ý cho bài giới thiệu, thuyết trình về tác phẩm chuyển thể theo ba phần:

+ Mở đầu: Giới thiệu chung về tác phẩm chuyển thể

+ Nội dung: Giới thiệu chi tiết về tác phẩm theo các nội dung đã tìm hiểu (nêu ở mục 1)

+ Kết thúc: Nêu đánh giá chung về tác phẩm chuyển thể

- Thực hành giới thiệu, thuyết trình về tác phẩm chuyển thể

+ Tiến hành giới thiệu tác phẩm chuyển thể theo dàn ý đã làm

+ Trả lời các câu hỏi của người nghe

+ Thảo luận, trao đổi những vấn đề chưa thống nhất

- Kiểm tra, chỉnh sửa

+ Xem xét các nội dung giới thiệu, thuyết trình (đã đầy đủ chưa, còn thiếu nội dung nào?).

+ Xem xét cách thức và thái độ khi giới thiệu, thuyết trình (cần điều chỉnh những gì?)

22. Tự luận
1 điểm

Văn bản giới thiệu Tượng đài Thánh Gióng cho thấy tượng đài này có điểm chung và điểm khác biệt nào so với truyền thuyết Thánh Gióng?

Xem đáp án

Tượng đài Thánh Gióng tọa lạc trên đỉnh núi Sóc, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tượng đài được xây dựng để tưởng nhớ công đức của Phù Đổng Thiên Vương – một vị thánh trong truyền thuyết Việt Nam. Tượng đài được đúc bằng đồng nguyên chất, có chiều cao tới đỉnh là 11,07m với độ vươn ra là 16m, trọng lượng ước tính 85 tấn.

- Điểm chung

+ Tượng đài Thánh Gióng và truyền thuyết Thánh Gióng đều tôn vinh Thánh Gióng – một vị thánh trong truyền thuyết Việt Nam

+ Tượng đài và truyền thuyết đều mô tả Thánh Gióng như một biểu tượng của lòng yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm.

- Điểm khác biệt

+ Trong truyền thuyết, Thánh Gióng sử dụng chiếc nón sắt, gậy sắt và ngựa sắt để chiến đấu và bảo vệ đất nước. Trong khi đó, tượng đài mô phỏng hình ảnh vị thánh trẻ tuổi tay mang tre ngà, cưỡi ngựa sắt thưng thiên về trời từ đỉnh núi Đá Chồng.

+ Truyền thuyết kể về Thánh Gióng từ khi còn là một đứa trẻ kì lạ cho đến khi trở thành một vị thánh. Tuy nhiên tượng đài Thánh Gióng chỉ mô tả một khoảnh khắc cụ thể của Thánh Gióng.

+ Truyền thuyết kết thúc bằng việc Thánh Gióng bay lên trời sau khi đánh tan giặc. Trong khi đó, tượng đài Thánh Gióng vẫn đứng vững trên đỉnh núi Sóc, như một biểu tượng vĩnh cửu.

23. Tự luận
1 điểm

Em thích nhất tác phẩm chuyển thể nào? Hãy giới thiệu về tác phẩm chuyển thể đó.

Xem đáp án

Một tác phẩm chuyển thể mà em có ấn tượng đó là bộ phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn. Tác phẩm kể về tuổi thơ của những đứa trẻ lớn lên ở một vùng quê nghèo khó, với những suy nghĩ và rung động tinh tế trong những năm đầu đời.

Tác phẩm được chuyển thể thành một bộ phim điện ảnh cùng tên bởi đạo diễn Victor Vũ, công chiếu vào tháng 10 năm 2015. Phim đã thu hút sự chú ý lớn từ công chúng và có doanh thu phòng vé rất cao. Sự thành công của bộ phim đã giúp tiểu thuyết trở thành quyển sách bán chạy nhất trong Hội sách Hà Nội năm 2015.

Truyện là những trang nhật kí về cuộc sống hàng ngày và tâm tư của cậu bé Thiều. Thiều đang là học sinh lớp 7 sống ở một vùng quê nghèo, cùng với người em trai tên là Tường. Tường là một cậu bé dễ thương, hiền lành, bao dung, rất yêu mến anh trai và thích chơi đùa với nhiều loại động vật gồm cả sâu bọ, rắn rết. Trong khi đó Thiều vốn là người hướng ngoại, khá tinh quái, đã nhiều lần vô tình để em mình chịu tai bay vạ gió sau những trò nghịch do chính mình bày ra. Thiều cũng rất nhiều lần tỏ ra hẹp hòi, nhưng trong thâm tâm cậu vẫn rất thương em mình và là một người hào hiệp.

Tác phẩm như một tập kí xoay ngang cuộc sống của những đứa trẻ ở một vùng quê Việt Nam nghèo khổ, nổi bật lên là thông điệp về tình anh em, tình làng nghĩa xóm và những tâm hồn tuổi mới lớn.

24. Tự luận
1 điểm

Từ những hiểu biết về việc chuyển thể một tác phẩm văn học, hãy làm một trong các bài tập sau:

(1) Lựa chọn một tác phẩm văn học dân gian và nêu ý tưởng chuyển thể thành một tác phẩm điêu khắc (tượng đài) hoặc hội hoạ (vẽ tranh).

(2) Nêu ý tưởng chuyển thể một tác phẩm truyện tục chọn thành một kịch bản văn học.

(3) Trong các bài thơ trong sách "Ngữ văn" cấp Trung học phổ thông, em thấy bài thơ nào có thể chuyển thể thành bài hát? Vi sao?

(4) Tù một tác phẩm văn xuôi có trong sách "Ngữ văn" cấp Trung học phổ thông, hãy nêu ý tưởng chuyển thể thành một truyện tranh.

Xem đáp án

(1) Tác phẩm văn học dân gian mà em chọn là “Sơn Tinh Thủy Tinh”. Đây là một câu chuyện dân gian Việt Nam nổi tiếng, kể về cuộc đấu tranh giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh để cầu hôn công chúa Mị Nương. Ý tưởng chuyển thể thành tác phẩm hội họa (vẽ tranh):

Tranh “Cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh”: Tranh sẽ tái hiện cảnh cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tinh sẽ được vẽ với vẻ mặt quả cảm, dũng mãnh, trong khi Thủy Tinh sẽ được vẽ với vẻ mặt oai phong, lẫm liệt. Giữa hai vị thần là hình ảnh của công chúa Mỵ Nương, với vẻ mặt lo lắng và bối rối. Phía sau là hình ảnh của cung điện hoàng gia, với những ngọn núi cao của Sơn Tinh và dòng sông dài của Thủy Tinh, tạo nên sự tương phản giữa hai thế giới.

Tranh “Công chúa Mị Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh”: Tranh sẽ tập trung vào hình ảnh công chúa Mỵ Nương, với vẻ đẹp thanh tú và tinh tế. Hai bên cạnh công chúa là hình ảnh của Sơn Tinh và Thủy Tinh, mỗi người một vẻ, tượng trưng cho sự đối lập giữa hai thế giới. Tranh sẽ tạo ra một không gian mở, với bầu trời xanh và mây trắng làm nền, tạo ra một không gian mở, tượng trưng cho sự tự do và khát khao của công chúa.

25. Tự luận
1 điểm

Chọn và tìm hiểu về một tác phẩm đã chuyển thể từ tác phẩm văn học có trong sách "Ngữ văn" cấp Trung học phổ thông.

Các em thực hành theo các bước sau:

a) Chuẩn bị

- Đọc kĩ phần II. Cách tìm hiểu, giới thiệu, thuyết trình về một tác phẩm nghệ thuật được chuyển thể, đặc biệt là các yêu cầu của việc tìm hiểu một tác phẩm chuyển thể để vận dụng vào hoạt động thực hành trong chuyên đề này.

- Xác định tác phẩm đã chuyển thể từ tác phẩm văn học.

- Đọc lại tác phẩm văn học được chuyển thể.

b) Tìm hiểu tác phẩm chuyển thể

Thực hiện việc tìm hiểu tác phẩm chuyển thể theo các yêu cầu nêu ở phần II, mục 1 (trang 47).

Xem đáp án

Trong chương trình Ngữ Văn cấp Trung học phổ thông, đã có rất nhiều tác phẩm đã được chuyển thể thành tác phẩm nghệ thuật. Một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng được chuyển thể thành phim là “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài. Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ra tại làng Nghĩa Đô, Từ Liêm thuộc phủ Hoài Đức (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Ông là một trong những cây bút tiêu biểu cho dòng văn học hiện đại Việt Nam vào thế kỉ XX. Tô Hoài đã để lại cho đời sau một khối lượng tác phẩm khổng lồ trải dài khắp các thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến bút kí. Năm 1996, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”, được tặng giải Nhất giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện kể về cuộc đời của vợ chồng A Phủ. Mị là cô gái trẻ đẹp, nhà nghèo, sống ở Hồng Ngày. Cô bị bắt cóc về làm vợ A Sử, làm con dâu gạt nợ cho nhà Thống Lí Pá Tra. Cô phải lao động quần quật, sống không khác gì con trâu, con ngựa.

Tác phẩm chuyển thể “Vợ chồng A Phủ” thuộc ngành nghệ thuật điện ảnh, được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Tô Hoài. Bộ phim “Vợ chồng A Phủ” được sản xuất vào năm 1961 và là một trong những bộ phim tiên phong cho trào lưu làm phim chuyển thể từ tác phẩm văn học Việt Nam. Bộ phim được chính tác giả của nguyên tác, nhà văn Tô Hoài, viết kịch bản, nên nội dung rất sát với câu chuyện gốc. Dù chỉ được thực hiện dưới dạng phim trắng đen, nhưng dự án này đến hiện nay vẫn được chiếu đi chiếu lại trong các giờ học tại các trường phổ thông.

Tác phẩm chuyển thể được chuyển thể theo hình thức trung thành với nguyên tác văn học. Cả nội dung và hình thức của tác phẩm chuyển thể đều giữa nguyên tinh thần của tác phẩm văn học. Về nội dung, cả hai tác phẩm đều tái hiện cuộc sống của người dân tộc vùng thiểu số ở miền núi phía Bắc, qua đó phản ánh những khó khăn, gian khổ nhưng cũng không kém phần hạnh phúc, yêu đời của họ. Cụ thể cả hai đều kẻ về câu chuyện tình yêu giữa A Phủ và Mị, một cô gái xinh đẹp nhưng bị bắt cóc về làm vợ A Sử để trả nợ. Cuộc sống đầy rẫy những khó khăn gian khổ nhưng luôn đầy tình yêu và hy vọng của họ được tái hiện một cách chân thực và sinh động. Ngoài ra, ở tác phẩm chuyển thể còn có thêm một số yếu tố khác như hình ảnh, âm thanh, diễn xuất… giúp khán giả có thể cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống của người dân tộc. Về hình thức, cả hai tác phẩm đều được viết dưới dạng kể chuyện, với ngôn ngữ dân dã, gần gũi. Trong tác phẩm văn học, Tô Hoài đã sử dụng ngôn ngữ phong phú, đa dạng với nhiều từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ của người dân tộc, tạo nên sự đặc sắc riêng. Trong tác phẩm chuyển thể, đạo diễn Mai Lộc cũng đã tái hiện được điều này qua lời thoại của các nhân vật, giúp khán giả cảm nhận được sự gần gũi, thân thuộc. Ngoài ra, cả hai tác phẩm đều có cấu trúc hợp lí, logic, với sự phát triển của các nhân vật và mạch truyện được diễn biến một cách chặt chẽ, lôi cuốn. Cả hai đều tạo nên một bức tranh sinh động, đầy màu sắc về cuộc sống của con người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc. 

Tác phẩm chuyển thể đã làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm văn học bằng cách tái hiện sinh động cuộc sống của người dân tộc qua hình ảnh, âm nhạc, diễn xuất… Trong phim, diễn viên Trần Phương trong vai A Phủ, diễn viên Đức Hoàn trong vai Mị đã thể hiện chân thực những đau khổ của hai vợ chồng trước khi chạy trốn và sau đó là bảo vệ dân làng đi theo cách mạng. Nhắc tới tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài từng chia sẻ “Tôi viết truyện ấy từ những năm đi thực tế làm báo Cứu quốc. Đó là một câu chuyện gần như có thật của một đôi vợ chồng người Mông ở Phù Yên nay là Bắc Sơn, tỉnh Sơn La.” Với cốt truyện hấp dẫn, cảm động, bộ phim tiếp tục lôi cuốn người xem bằng hình ảnh đẹp của miền Tây Bắc và phần âm nhạc xuất sắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Bài hát “Bài ca trên núi” qua giọng hát của nghệ sĩ Kiều Hưng cũng nhận được sự yêu thích của đông đảo người yêu nhạc. Tuy nhiên, tác phẩm chuyển thể cũng có một số hạn chế như việc khó tái hiện đầy đủ tinh thần của tác phẩm văn học trong một khung thời gian ngắn của phim. Ngoài ra một số chi tiết trong truyện ngắn cũng không được tái hiện đầy đủ trong phim.

Nhìn chung, tác phẩm chuyển thể Vợ chồng A Phủ là một công trình nghệ thuật xuất sắc, đã góp phần giới thiệu văn hóa, con người Việt Nam nói chung và người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nói riêng đến với khán giả trong và ngoài nước. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả và góp phần làm giàu cho kho tàng điện ảnh Việt Nam.

26. Tự luận
1 điểm

Đọc bài viết sau và thảo luận theo các yêu cầu bên dưới:

Media VietJack

Media VietJack

a) Tác phẩm chuyển thể mà bài báo đề cập thuộc ngành nghệ thuật nào, liên quan đến tác phẩm văn học của ai và dược học ở lớp nào?

b) Bài báo nêu trên bàn luận về vấn đồ gì, có nhộng nội dung lớn nào?

c) Việc tim hiĉ̉u một tác phẩm chuyển thể cần chú ý các yêu cầu nào? Yêu cầu nào là trọng tâm của hoạt động này?

d) Những thành công và hạn chế của tác phẩm chuyển thể Cậu Vàng là gì?

e) Những nhận xét, đánh giá về ưu điểm và hạn chế của tác phẩm chuyĉ̉n thể Cậu Vàng của tác giả bài báo có sức thuyết phục không? Vì sao?

Xem đáp án

a) Tác phẩm chuyển thể mà bài báo đề cập thuộc ngành nghệ thuật điện ảnh, liên quan đến tác phẩm văn học “Lão Hạc” của Nam Cao và được học trong chương trình lớp 8

b)

 - Bài báo nêu trên bàn luận về vấn đề: chuyển thể tác phẩm văn học “Lão Hạc” của Nam Cao thành phim điện ảnh “Cậu Vàng”.

- Nội dung lớn của bài báo gồm việc phân tích sự sáng tạo và chỉn chu trong việc chuyển thể, cũng như những hạn chế của tác phẩm

c)

 - Khi tìm hiểu một tác phẩm chuyển thể, cần chú ý đến việc so sánh và đánh giá sự khác biệt giữa tác phẩm gốc và tác phẩm chuyển thể, cũng như hiểu rõ ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của cả hai.

 - Trọng tâm của hoạt động này là việc phân tích và đánh giá sự thành công và hạn chế của tác phẩm chuyển thể.

d) Thành công và hạn chế của tác phẩm Cậu Vàng:

 - Thành công: tái hiện thành công bối cảnh xã hội làng quê Bắc Bộ xưa và giữ được tinh thần và giá trị nhân văn của nguyên tác

 - Hạn chế: tác phẩm ôm dồn quá nhiều tình tiết khiến khán giả khó nắm bắt được cốt truyện, và kỹ xảo hình ảnh và âm thanh chưa thực sự phù hợp

e) Những nhận xét, đánh giá về ưu điểm và hạn chế của tác phẩm chuyển thể Cậu Vàng của tác giả bài báo có sức thuyết phục vì tác giả đã cung cấp các lập luận cụ thể và chi tiết để hỗ trợ cho quan điểm của mình. Tuy nhiên, sức thuyết phục cũng phụ thuộc vào từng người đọc và cách họ nhìn nhận thông tin.

27. Tự luận
1 điểm

Từ kết quả đã tìm hiểu về một tác phẩm chuyển thể ơ phần III, mục 2, bài tập I (trang 50), hãy giới thiệu, thuyết trình trıởc lợp về tác phẩm chıyển thể ấy.

(Gợi ý: Bọc kĩ phần II, mục 2. Cách thức giới thiệu, thuyết trình về một tác phẩm chuyển thể để vận dụng vào bài tập này).

Xem đáp án

Chào mừng quý thầy cô và các bạn đến với buổi thuyết trình của em ngày hôm nay. Ngày hôm nay, em xin thuyết trình về một tác phẩm chuyển thể mang tên “Vợ chồng A Phủ”.

Trong chương trình Ngữ Văn cấp Trung học phổ thông, đã có rất nhiều tác phẩm đã được chuyển thể thành tác phẩm nghệ thuật. Một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng được chuyển thể thành phim là “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài. Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ra tại làng Nghĩa Đô, Từ Liêm thuộc phủ Hoài Đức (nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Ông là một trong những cây bút tiêu biểu cho dòng văn học hiện đại Việt Nam vào thế kỉ XX. Tô Hoài đã để lại cho đời sau một khối lượng tác phẩm khổng lồ trải dài khắp các thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến bút kí. Năm 1996, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là một truyện ngắn sáng tác năm 1952, in trong tập “Truyện Tây Bắc”, được tặng giải Nhất giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955. Truyện kể về cuộc đời của vợ chồng A Phủ. Mị là cô gái trẻ đẹp, nhà nghèo, sống ở Hồng Ngày. Cô bị bắt cóc về làm vợ A Sử, làm con dâu gạt nợ cho nhà Thống Lí Pá Tra. Cô phải lao động quần quật, sống không khác gì con trâu, con ngựa.

Tác phẩm chuyển thể “Vợ chồng A Phủ” thuộc ngành nghệ thuật điện ảnh, được chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Tô Hoài. Bộ phim “Vợ chồng A Phủ” được sản xuất vào năm 1961 và là một trong những bộ phim tiên phong cho trào lưu làm phim chuyển thể từ tác phẩm văn học Việt Nam. Bộ phim được chính tác giả của nguyên tác, nhà văn Tô Hoài, viết kịch bản, nên nội dung rất sát với câu chuyện gốc. Dù chỉ được thực hiện dưới dạng phim trắng đen, nhưng dự án này đến hiện nay vẫn được chiếu đi chiếu lại trong các giờ học tại các trường phổ thông.

Tác phẩm chuyển thể được chuyển thể theo hình thức trung thành với nguyên tác văn học. Cả nội dung và hình thức của tác phẩm chuyển thể đều giữa nguyên tinh thần của tác phẩm văn học. Về nội dung, cả hai tác phẩm đều tái hiện cuộc sống của người dân tộc vùng thiểu số ở miền núi phía Bắc, qua đó phản ánh những khó khăn, gian khổ nhưng cũng không kém phần hạnh phúc, yêu đời của họ. Cụ thể cả hai đều kể về câu chuyện tình yêu giữa A Phủ và Mị, một cô gái xinh đẹp nhưng bị bắt cóc về làm vợ A Sử để trả nợ. Cuộc sống đầy rẫy những khó khăn gian khổ nhưng luôn đầy tình yêu và hy vọng của họ được tái hiện một cách chân thực và sinh động. Ngoài ra, ở tác phẩm chuyển thể còn có thêm một số yếu tố khác như hình ảnh, âm thanh, diễn xuất… giúp khán giả có thể cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống của người dân tộc. Về hình thức, cả hai tác phẩm đều được viết dưới dạng kể chuyện, với ngôn ngữ dân dã, gần gũi. Trong tác phẩm văn học, Tô Hoài đã sử dụng ngôn ngữ phong phú, đa dạng với nhiều từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ của người dân tộc, tạo nên sự đặc sắc riêng. Trong tác phẩm chuyển thể, đạo diễn Hồng Sến cũng đã tái hiện được điều này qua lời thoại của các nhân vật, giúp khán giả cảm nhận được sự gần gũi, thân thuộc. Ngoài ra, cả hai tác phẩm đều có cấu trúc hợp lí, logic, với sự phát triển của các nhân vật và mạch truyện được diễn biến một cách chặt chẽ, lôi cuốn. Cả hai đều tạo nên một bức tranh sinh động, đầy màu sắc về cuộc sống của con người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc. 

Tác phẩm chuyển thể đã làm tăng thêm giá trị cho tác phẩm văn học bằng cách tái hiện sinh động cuộc sống của người dân tộc qua hình ảnh, âm nhạc, diễn xuất… Trong phim, diễn viên Trần Phương trong vai A Phủ, diễn viên Đức Hoàn trong vai Mị đã thể hiện chân thực những đau khổ của hai vợ chồng trước khi chạy trốn và sau đó là bảo vệ dân làng đi theo cách mạng. Nhắc tới tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài từng chia sẻ “Tôi viết truyện ấy từ những năm đi thực tế làm báo Cứu quốc. Đó là một câu chuyện gần như có thật của một đôi vợ chồng người Mông ở Phù Yên nay là Bắc Sơn, tỉnh Sơn La.” Với cốt truyện hấp dẫn, cảm động, bộ phim tiếp tục lôi cuốn người xem bằng hình ảnh đẹp của miền Tây Bắc và phần âm nhạc xuất sắc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương. Bài hát “Bài ca trên núi” qua giọng hát của nghệ sĩ Kiều Hưng cũng nhận được sự yêu thích của đông đảo người yêu nhạc. Tuy nhiên, tác phẩm chuyển thể cũng có một số hạn chế như việc khó tái hiện đầy đủ tinh thần của tác phẩm văn học trong một khung thời gian ngắn của phim. Ngoài ra một số chi tiết trong truyện ngắn cũng không được tái hiện đầy đủ trong phim.

Nhìn chung, tác phẩm chuyển thể Vợ chồng A Phủ là một công trình nghệ thuật xuất sắc, đã góp phần giới thiệu văn hóa, con người Việt Nam nói chung và người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nói riêng đến với khán giả trong và ngoài nước. Tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả và góp phần làm giàu cho kho tàng điện ảnh Việt Nam.

Em xin cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe. Hy vọng rằng thông qua buổi thuyết trình này, các bạn đã hiểu rõ hơn về tác phẩm chuyển thể “Vợ chồng A Phủ” cũng như cách thức chuyển thể tác phẩm văn học thành tác phẩm nghệ thuật khác.

28. Tự luận
1 điểm

Dựa vào nội dung bài báo sau đây để lập dàn ý bài giới thiệu, thuyết trình về tác phẩm chuyển thể được nêu trong bài báo. Media VietJackMedia VietJackMedia VietJack

Xem đáp án

1. Mở bài

- Tác phẩm chuyển thể Đừng đốt được sản xuất vào năm 2009, do Đặng Minh Nhật đạo diễn và viết kịch bản.

- Phim được tạo dựng dựa trên hai quyển nhật kí nổi tiếng cùng tên của nữ bác sĩ – liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, được viết từ ngày 8 tháng 4 năm 1968 đến ngày 20 tháng 6 năm 1970 (trước khi cô hi sinh 2 ngày).

- Phim có sự tham gia diễn xuất của Minh Hương (vai Đặng Thùy Trâm), Tina Dương (vai Mai), Matthews Korchs (vai Fred lúc trẻ) và nhiều diễn viên khác.

- Phim đã giành được giải Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 16 năm 2009 và chiến thắng 6 hạng mục của Giải Cánh Diều vàng năm 2010.

- Bộ phim được phát hành cuối tháng 4 năm 1009 tại Việt Nam và được chiếu ở Liên hoan Phim quốc tế ASEM tại Hà Nội giữa tháng 5 năm 2009.

2. Nội dung

Mục đích tìm hiểu của nội dung bài báo “Phim đừng đốt – sáng tinh thần của Đặng Thùy Trâm:

- Để khám phá và hiểu rõ hơn về bộ phim đừng đốt – một tác phẩm chuyển thể từ nhật kí của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Đồng thời bài báo giúp người đọc hiểu rõ hơn về quá trình chuyển thể từ nhật kí sang phim, cũng như giá trị nghệ thuật và thông điệp mà bộ phim muốn truyền tải.

- Giúp người đọc nhận được sự khác biệt giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể, từ đó đánh giá được sự thành công và hạn chế của tác phẩm chuyển thể.

- Bài báo còn giúp người đọc có thể cảm nhận được tình yêu mạnh mẽ và lòng yêu thương không biên giới của những người mẹ, dù là Việt hay Mỹ.

Nội dung tìm hiểu

- Tác phẩm chuyển thể thuộc ngành nghệ thuật điện ảnh, chuyển thể từ tác phẩm văn học Nhật kí Đặng Thùy Trâm.  

- Tác phẩm chuyển thể được chuyển thể theo hình thức trung thành với nguyên tác văn học. Bằng chứng cho thấy điều này là phim được tạo dựng dựa trên hai quyển nhật kí nổi tiếng cùng tên của nữ bác sĩ – liệt sĩ Đặng Thùy Trâm

- Điểm chung giữa tác phẩm văn học và tác phẩm chuyển thể là tinh thần, tình cảm trong sáng, cao đẹp của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã tái hiện qua từng trang nhật kí, qua hồi ức của những người đồng đội và người mẹ.

- Điểm khác biệt là phim có sự tham gia diễn xuất của nhiều diễn viên và được dựng lên bằng hình ảnh và âm thanh.

- Tác phẩm chuyển thể đã làm tặng thêm giá trị cho tác phẩm văn học bằng cách tái hiện lại tinh thần và tình cảm của nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm một cách sinh động và trực quan.

- Tác phẩm chuyển thể còn đóng góp thêm việc tái hiện lại bối cảnh chiến tranh khốc liệt và cuộc sống của người dân trong thời kì đó. Tuy nhiên, hạn chế của tác phẩm chuyển thể có thể là việc không thể tái hiện lại toàn bộ nội dung của tác phẩm văn học trong thời gian giới hạn của một bộ phim.

3. Kết thúc

- Tác phẩm chuyển thể Đừng dốt là một minh chứng cho sức mạnh của nghệ thuật điện ảnh trong việc tái hiện và tôn vinh những giá trị nhân văn.

- Phim không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật xuất sắc mà còn là một bài học về tình yêu thương con người và lòng kiên cường trong cuộc chiến chống Mỹ.

29. Tự luận
1 điểm

Thế nào là trường phái văn học? Sự xuất hiện của trường phái văn học có tác dụng tích cực nào đối với sự phát triển của nền văn học?

Xem đáp án

- Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “trường phái văn học thường dùng để chỉ trào lưu văn học”. Đó là một phong trào sáng tác với các tác giả và tác phẩm cụ thể, gắn liền với những đặc điểm chung về nội dung, tư tưởng, quan niệm thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật. 

- Sự xuất hiện của trường phái văn học có tác dụng tích cực trong một nền văn học phát triển. Thông qua các hoạt động văn học phong phú, đa dạng, từ sáng tác đến tiếp nhận, từ nghiên cứu lí luận, phê bình đến tổ chức xuất bản, các nhà văn sẽ được nâng cao hiểu biết, có cơ hội học hỏi, chia sẻ kiến thức, kĩ năng viết văn, và trên hết là hình thành tính chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tác phẩm và phát huy được sức mạnh của văn học trong đời sống.

30. Tự luận
1 điểm

Phong cách sáng tác của một trường phái văn học là gì? Phân biệt phong cách sáng tác của một trường phái văn học với phong cách nghệ thuật của nhà văn.

Xem đáp án

- Phong cách sáng tác của một trường phái văn học là thuật ngữ chỉ nét đặc trưng, tiêu biểu, độc đáo trong các sáng tác của một trường phái văn học. 

- Phân biệt: 

+ Phong cách sáng tác của một trường phái văn học: Thể hiện một cách phổ biến và được lặp đi lặp lại qua nhiều tác phẩm văn học cụ thể của các tác giả, giúp người đọc nhận ra sự khác nhau giữa các trường phái văn học và sự khác nhau giữa các nhà văn thuộc trường phái này với các nhà văn thuộc trường phái khác.

+ Phong cách nghệ thuật của nhà văn: Mỗi nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng. Thế giới nghệ thuật ấy dù phong phú, đa dạng thế nào vẫn có tính thống nhất. Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức. Nó nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn.

=> Phong cách sáng tác của một trường phái văn học bao gồm nhiều phong cách nghệ thuật của nhiều nhà văn khác nhau có chung nét đặc trưng. Nét đặc trưng đó được phổ biến trong nhiều tác phẩm văn học giúp độc giả dễ dàng nhận ra sự khác nhau giữa các trường phái văn học và sự khác nhau giữa các nhà văn thuộc trường phái này với các nhà văn thuộc trường phái khác. Trong khi đó, phong cách nghệ thuật của nhà văn nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác, thế giới nghệ thuật riêng của một nhà văn.

31. Tự luận
1 điểm

Hãy xác định một số tác giả có cùng phong cách sáng tác lãng mạn như Xuân Diệu và giải thích sự lựa chọn của em.

Xem đáp án

- Một số tác giả có cùng phong cách sáng tác lãng mạn như Xuân Diệu là:

+ Xuân Quỳnh: Xuân Quỳnh và Xuân Diệu là hai tác giả thường được nhắc đến cùng với những bài thơ tình hay. Sáng tác của Xuân Quỳnh và Xuân Diệu đều giống nhau ở giọng thơ nồng nàn, da diết và đều có chung tâm trạng lo lắng, cuống quýt trong tình yêu.

+ Thế Lữ: Sáng tác của Xuân Diệu và Thế Lữ đều thể hiện rất rõ cho khát vọng giải phóng cá tính, bỏ hết ràng buộc, cởi mở, thả lỏng. Thế giới như thế nào thì lòng họ sẽ xúc động theo mọi cung bậc của thế giới, họ đón nhận tất cả, lắng nghe tất cả để tự làm giàu mình.

Ví dụ:

Bài thơ Cảm xúc – Xuân Diệu:

“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây

...

Sao lại trách người thơ tình lơi lả?”

Và bài thơ Cây đàn muôn điệu – Thế Lữ:

“Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng

Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi:

...

Lấy Thánh Sắc trần gian làm tài liệu.”

32. Tự luận
1 điểm

Các tác giả trên thuộc trường phái văn học nào (hiện thực chủ nghĩa, lãng mạn chủ nghĩa, cách mạng)?

Xem đáp án

Các tác giả: Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Xuân Diệu đều thuộc trường phái văn học lãng mạn chủ nghĩa.

33. Tự luận
1 điểm

Nêu điểm giống nhau của các bài thơ trên ở các phương diện:

- Đặc điểm hình thức và thể loại.

- Hiện thực đời sống được khắc hoạ.

- Cảm xúc, tâm trạng của các chủ thể trữ tình.

Xem đáp án

- Đặc điểm hình thức và thể loại: 

+ Số chữ trong các câu đều bằng nhau.

+ Thể thơ tự do.

- Hiện thực đời sống được khắc hoạ: Qua các tác phẩm, ta thấy được hiện thực cuộc sống xung quanh các tác giả. Bởi thơ ca đã gửi gắm những cảm xúc, những trải nghiệm, chiêm nghiệm của nhà thơ về cuộc sống và những hình ảnh trong bài thơ là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với nhà thơ.

- Cảm xúc, tâm trạng của các chủ thể trữ tình: Bài thơ thể hiện tâm trạng của “cái tôi trữ tình” cô đơn, thấm đượm nỗi sầu nhân thế.

34. Tự luận
1 điểm

Đặc điểm hình thức, thể loại và cách thể hiện tình cảm, cảm xúc trong những văn bản trên có gì khác với các bài thơ trung đại mà em biết?

Xem đáp án

*Đặc điểm hình thức:

- Thơ trung đại mang tính quy phạm, thể thơ gò bó vào niêm luật, hình ảnh mang nặng tính ước lệ, công thức. Các văn bản thơ trên lại thoát khỏi cách diễn đạt theo quy tắc cứng nhắc đó, thể thơ tự do (số tiếng, số dòng, vần, nhịp...) ngôn ngữ thơ gần với lời nói cá nhân, hình ảnh sinh động gần với đời sống. 

*Thể loại: 

- Thơ trung đại thường thể hiện sự phản ánh xã hội, sự thất vọng về thế giới hiện thực và thắc mắc về ý nghĩa của cuộc sống. Các văn bản thơ trên chủ yếu tập trung vào cá nhân, sự thể hiện của bản thân và quan điểm, cảm xúc cá nhân. 

*Về nội dung, cách thể hiện tình cảm, cảm xúc: 

- Thơ trung đại thường diễn đạt tình cảm và tâm trạng qua việc ẩn dụ và sử dụng ngôn ngữ phức tạp, tạo nên sự mập mờ và không rõ ràng. Các văn bản thơ trên thường diễn đạt tình cảm và tâm trạng của tác giả một cách thẳng thắn, mở lời, chủ yếu thể hiện “cái tôi” cá nhân, một cái tôi thiết tha, say đắm trước thiên nhiên và con người nhưng có lúc cô đơn, bơ vơ giữa cuộc đời và không gian vô tận.

35. Tự luận
1 điểm

Tìm hiểu một số bài thơ của Hồ Chí Minh hoặc Tố Hữu trước Cách mạng tháng Tám 1945, từ đó, chỉ ra điểm khác nhau về cái "tôi" trữ tình trong những bài thơ này so với một trong bốn văn bản thơ trên.

Xem đáp án

*Tức cảnh Pác Pó:

- HCST: 2/1941 Bác Hồ trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước. Khi đó, Người sống và làm việc trong một điều kiện hết sức gian khổ nhưng Bác vẫn vui vẻ lạc quan. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một trong những tác phẩm Người sáng tác trong thời gian này.

- Bố cục: 

+ Phần 1: 3 câu thơ đầu: Cảnh sinh hoạt và làm việc của Bác ở hang Pác Bó

+ Phần 2: câu thơ cuối: Cảm nhận của Bác về cuộc đời cách mạng

- Bài thơ khắc họa lại cuộc sống sinh hoạt của Bác ở núi rừng Pác Pó và tinh thần lạc quan, phong thái ung dung, tự tại của người chiến sĩ cách mạng.

+ Bài thơ thể hiện phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của nhân vật tữ tình:

+ Dù cuộc sống thiếu thốn những Người vẫn giữ tinh thần lạc quan, với giọng điệu hóm hỉnh, vui tươi

+ Sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Dù sống trong thiếu thốn, người thi sĩ vẫn thật là “sang”

+ Bài thơ cũng thể hiện tinh thần yêu nước, thương dân của Bác. Người vui vì được hoạt động cách mạng để thực hiện lí tưởng đẹp đẽ của mình, đem lại độc lập, tự do cho dân tộc.

36. Tự luận
1 điểm

Các tác phẩm nêu trên cho thấy nét đặc trưng nào của trường phái văn học lãng mạn?

Xem đáp án

Nét đặc trưng của trường phái văn học lãng mạn: nhấn mạnh vào tính cá nhân và những cảm xúc đơn thuần bên trong nội tâm con người, thay vì những vấn đề mang tính xã hội.

37. Tự luận
1 điểm

 Ý nghĩa, giá trị hoặc đóng góp của trường phái văn học lãng mạn đối với tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung và thể loại văn học nói riêng là gì?

Xem đáp án

Ý nghĩa, giá trị hoặc đóng góp của trường phái văn học lãng mạn đối với tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nói chung và thể loại văn học nói riêng là:

- Chủ nghĩa Lãng mạn tôn vinh trí tưởng tượng và trực giác của cá nhân trong hành trình dài kiếm tìm các quyền và tự do cá nhân. Những lý tưởng của nó về sức mạnh sáng tạo và cái nhìn chủ quan của nghệ sĩ đã thúc đẩy các phong trào tiên phong vào thế kỷ 20. Những người theo chủ nghĩa Lãng mạn đã tìm thấy tiếng nói của họ trong văn học.

- Trường phái văn học lãng mạn phát triển cái nhìn sâu sắc của người nghệ sĩ về tình yêu, tình cảm và những mối quan hệ con người. 

- Góp vào việc mở rộng phong cách văn chương của văn học Việt Nam, mang đến sự đa dạng và sáng tạo trong việc sử dụng ngôn từ và nghệ thuật miêu tả.

- Tạo ra những tác phẩm kinh điển của văn học Việt Nam, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa di sản văn hóa của đất nước.


b) Từ các nội dung nêu trên, hãy nêu các bước tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học theo các từ khóa cho trước như sau:

Media VietJack

Trả lời: 

Dựa trên sơ đồ các bước tư duy trong hình, ta có thể xác định các bước tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học như sau:

- Xác định:

+ Xác định trường phái văn học cần nghiên cứu (ví dụ: Chủ nghĩa hiện thực, Chủ nghĩa lãng mạn, Hiện đại, Hậu hiện đại...).

+ Xác định bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa hình thành trường phái đó.

- Tìm hiểu:


+ Tìm hiểu đặc điểm chính của trường phái văn học (đề tài, nội dung, tư tưởng, phong cách nghệ thuật).

+ Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu đại diện cho trường phái.

- Phân tích, khái quát hóa:

+ Phân tích các đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của trường phái.

+ Khái quát những điểm chung và sự phát triển của trường phái qua các giai đoạn.

- So sánh:

+ So sánh trường phái văn học đó với các trường phái khác để thấy được sự khác biệt, ảnh hưởng hoặc kế thừa.

+ So sánh giữa các tác giả trong cùng một trường phái để thấy sự đa dạng trong sáng tác.

- Đánh giá:

+ Đánh giá tầm quan trọng và ảnh hưởng của trường phái văn học đối với nền văn học nói chung.

+ Đưa ra nhận xét về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của trường phái trong bối cảnh hiện tại.

38. Tự luận
1 điểm

 Tóm tắt các yêu cầu cần chú ý khi tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học bằng 10 - 15 từ khoá.

Xem đáp án

Những yêu cầu cần chú ý khi tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học là: tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật, phong cách sáng tác.

39. Tự luận
1 điểm

Hãy trình bày các bước tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học.

Xem đáp án

Các bước tìm hiểu phong cách sáng tác của một trường phái văn học: 

1. Xác định các tác giả thuộc trường phái văn học đó 

2. Tìm hiểu bối cảnh ra đời, các tuyên ngôn về nghệ thuật và tư tưởng của trường phái văn học đó (có thể qua các phát ngôn trực tiếp của các nhà văn hoặc gián tiếp thông qua tác phẩm) 

3. Lựa chọn một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu (tham khảo ý kiến của chuyên gia, các bài nghiên cứu văn học sử,...) 

4. Đọc hiểu các tác phẩm điển hình của các nhà văn hiện thực tiêu biểu, phân tích và rút ra những đặc điểm chính về nội dung (đề tài, chủ đề, cảm hứng...) và nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, bút pháp...) 

5. Tìm và khái quát hóa những điểm chung trong các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu trên về nội dung (đề tài, chủ đề, cảm hứng...) và nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, bút pháp...)

6. So sánh với một số tác giảm tác phẩm thuộc trào lưu văn học khác 

7. Đánh giá chung về phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

40. Tự luận
1 điểm

Hãy nêu một tác phẩm mà em cho là tiêu biểu nhất cho trường phái văn học lãng mạn hoặc hiện thực Việt Nam và giải thích sự lựa chọn ấy.

Xem đáp án

Một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất trong trường phái văn học hiện thực Việt Nam không thể không kể đến Sống mòn của Nam Cao. Bởi truyện của Nam Cao thường đậm đà ý vị triết lý, mang nặng suy nghĩ. Ðó là những suy nghĩ được vắt ra từ cuộc sống vất vả, lầm than, từ những giằng xé của một tâm hồn trung thực cố bám sát vào cuộc sống và vươn tới chân lý. Sống mòn nói lên bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trong xã hội cũ, cái xã hội tàn nhẫn đã vùi dập mọi ước mơ, hoài bão của mình, tước đi ý nghĩa sự sống chân chính của con người. Với một tâm hồn dịu dàng, nhạy cảm với đôi mắt sắc sảo tinh tế, Nam Cao đã phơi bày không che đậy lối "Sống mòn" đang phổ biến. Một mặt Nam Cao lên án nghiêm khắc cái xã hội đẩy con người vào tình trạng giam hãm lâu đời trong cái khổ, trong sự tù túng và dốt nát. Mặt khác, nhà văn đã thức tỉnh trong con người nỗi "ghê sợ " lối sống mòn dung tục và niềm khao khát một cuộc sống đẹp, ý nghĩa.

41. Tự luận
1 điểm

Cá nhân hoặc nhóm thực hành nghiên cứu Tìm hiểu phong cách sáng tác của trường phái (trào lưu) văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo các bước trong bảng trên.

Xem đáp án

Bước 1: Xác định các tác giả thuộc trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945

Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao.

Bước 2: Tìm hiểu bối cảnh ra đời, các tuyên ngôn về nghệ thuật tư tưởng của trường phái văn học hiện thực (có thể qua các phát ngôn trực tiếp của các nhà văn hoặc gián tiếp thông qua tác phẩm).

* Bối cảnh ra đời:

Vào những năm 40 của thế kỉ XIX trở đi chủ nghĩa hiện thực trong văn học đã bước sang một giai đoạn phát triển hoàn chỉnh và rực rỡ, mang cảm hứng phân tích mới về hiện thực đó là phê phán. Từ đây chủ nghĩa hiện thực mang tên mới: chủ nghĩa hiện thực phê phán. 

Đến khoảng những năm 30 của thế kỉ XX cây bút hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan là người bắt đầu đi theo khuynh hướng tả chân, lấy cuộc sống hiện thời, lấy cái đã và đang xảy ra làm nội dung tác phẩm. Và từ những năm 1930 đến trước 1945 khuynh hướng văn học hiện thực phát triển rầm rộ, quy mô, nhiều cây bút tài năng đã xuất hiện như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp…và Nam Cao được đánh giá là người có công đưa văn học hiện thực lên một trình độ mới, trình độ miêu tả tâm lý, khái quát hiện thực.

* Các tuyên ngôn về nghệ thuật tư tưởng của trường phái văn học hiện thực:

- “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”

Trích trong tác phẩm “Trăng sáng” của Nam Cao 

- “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng được một các gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình... Nó làm cho người gần người hơn. Như thế mới thật là một tác phẩm hay.” 

Trích trong tác phẩm “Đời thừa” của Nam Cao 

Bước 3: Lựa chọn một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu (tham khảo ý kiến của chuyên gia, các bài nghiên cứu văn học, sử,...)

Các tác phẩm tiêu biểu: Bước đường cùng, Tắt đèn, Bỉ vỏ, Số đỏ, Chí Phèo…

Bước 4: Đọc hiểu các tác phẩm điển hình của các nhà văn hiện thực tiêu biểu, phân tích và rút ra những đặc điểm chính về nội dung (đề tài, chủ đề, cảm hứng...) và nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, bút pháp....)

- Cảm hứng chủ đạo của văn học hiện thực 1930 – 1945 khá đa dạng. Trong sáng tác của mỗi nhà văn hiện thực, cảm hứng chủ đạo cũng có những tính chất, đặc điểm khác nhau. Tuy nhiên, nó đều hướng đến việc thể hiện bản chất thối nát, tính chất vô nhân đạo của xã hội Việt Nam trước cách mạng, thái độ phê phán xã hội dẫn tới yêu cầu khách quan phải thay đổi. Điều này cho thấy mặt tích cực, tiến bộ của trào lưu văn học này.

- Các nhà văn hiện thực trong giai đoạn 1930-1945 hiểu rõ thiên chức của mình. Họ chủ động trên những trang viết, có vốn sống phong phú. Kiến thức rộng để có thể tạo được hiệu quả nghệ thuật cao nhất. Ngoài thành công trong việc xây dựng điển hình sắc nét, văn học hiện thực phê phán giai đoạn này còn đạt đến chiều sâu phân tích tâm lí nhân vật. 

Bước 5: Tìm và khái quát hóa những điểm chung trong các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu trên về nội dung (đề tài, chủ đề, cảm hứng...) và nghệ thuật (cốt truyện, nhân vật, bút pháp....)

Đề tài chung của các tác phẩm trên là đời sống nghèo khổ, bấp bênh, tủi nhục của các tầng lớp ở dưới đáy xã hội; nhân vật chính thường là những người có số phận bất hạnh do sự xô đẩy dữ dội của hoàn cảnh. Tiêu biểu có thể kể đến: Bước đường cùng, Tắt đèn, Bỉ vỏ, Số đỏ, Chí Phèo…

Cảm hứng chung đều hướng đến việc thể hiện bản chất thối nát, tính chất vô nhân đạo của xã hội Việt Nam trước cách mạng, thái độ phê phán xã hội dẫn tới yêu cầu khách quan phải thay đổi.

Ngoài thành công trong việc xây dựng điển hình sắc nét, văn học hiện thực phê phán giai đoạn này còn đạt đến chiều sâu phân tích tâm lí nhân vật.

Bước 6: So sánh với một số tác giả, tác phẩm thuộc trào lưu văn học khác.

Bước 7: Đánh giá chung về phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Văn học hiện thực 1930 – 1945 vận động trên dòng phát triển của thời cuộc. Nhưng dù xã hội có thay đổi như thế nào thì những trang viết về cuộc đời vẫn sống mãi. Có thể nói, văn học giai đoạn này đã phản ánh đúng đặc trưng của thời đại góp phần không nhỏ vào công cuộc hiện đại hoá nền văn học nước nhà.

42. Tự luận
1 điểm

Hãy viết bài giới thiệu phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.

Xem đáp án

Văn học hiện thực phê phán là một trong những tên gọi gây ra nhiều những tranh cãi cho đến ngày nay. Trong từ điển văn học do Trần Đình Sử làm chủ biên soạn, đã đưa ra 2 cách hiểu về thuật ngữ này.

Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa hiện thực được hiểu là những tác phẩm có mối quan hệ với hiện thực đời sống, bất kể những tác phẩm đó thuộc trường phái, khuynh hướng văn nghệ nào. Với ý nghĩa này, khái niệm văn học hiện thực đồng nhất với đó là khái niệm sự thật về đời sống, vì các tác phẩm văn học nào đều mang trong mình tính hiện thực.

Theo nghĩa hẹp, đây chỉ một phương pháp hiện thực, một khuynh hướng, một trào lưu văn học có nội dung chặt chẽ, sắc sảo và được xác định theo nguyên tắc mỹ học riêng.

Theo cuốn Lí luận văn học, chủ nghĩa hiện thực có khi được dùng không phải là một phương pháp sáng tác mà với nghĩa đó là kiểu sáng tác tái hiện.

Theo Bách khoa toàn thư, chủ nghĩa hiện thực hay còn gọi là văn học hiện thực phê phán là một trào lưu về văn học hiện thực, là một trong những phương pháp sáng tác lấy chính hiện thực của xã hội và những vấn đề thật liên quan tới con người và lấy chính con người làm đối tượng để phản ánh.

Như vậy khái niệm văn học hiện thực phê phán được đưa ra cách hiểu của nhiều những ý kiến khác nhau về chủ nghĩa hiện thực, nhưng nói chung quy lại thì đó là một trào lưu văn học, một phương pháp sáng tác nhằm mô tả thế giới thực tại, đánh giá một cách trung thực về cuộc sống.

Về thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực cho đến nay vẫn còn nhiều những ý kiến tranh cãi. Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã trình bày về nhiều ý kiến ra đời của văn học hiện thực. Có người cho rằng vấn đề phản chủ nghĩa hiện thực được hình thành từ thời kỳ cổ đại và đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển trong các thời kỳ Cổ đại, phục hưng, Ánh sáng, thế kỷ XIX,… Một số ý kiến khác thì cho rằng thời điểm ra đời văn học hiện thực bắt đầu từ thời Phục hưng. Nhiều quan điểm khác khẳng định chủ nghĩa hiện thực hình thành vào những năm 30 của thế kỷ XIX.

Ở Việt Nam văn học hiện thực phê phán đã xuất hiện với nhiều những tác phẩm văn học trung đại như: Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, Thơ Nguyễn Khuyến, thơ Hồ Xuân Hương,…đã phơi bày và phê phán thực trạng khách quan của cuộc sống thời bấy giờ. Mãi cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, cây bút văn học hiện thực phê phán Nguyễn Công Hoan là một trong những người đầu tiên đi theo khuynh hướng tả chân thực, lấy cuộc sống hiện tại, lấy những con người, sự việc đã và đang xảy ra để làm nội dung cho tác phẩm.

Tại thời điểm đất nước những năm 1930 – 1945, khuynh hướng văn học hiện thực phê phán phát triển một cách rầm rộ, quy mô, nhiều những cây bút tài năng xuất hiện ở phong trào này như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Đình Lạp,…. Và nhà văn Nam Cao được đánh giá là một trong những người có công đưa văn học hiện thực phê phán lên một tầm cao mới, trình độ miêu tả tâm lý, khái quát chân thực hiện thực.

Với bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929 – 1933. Thực dân Pháp lúc này ra sức vơ vét, bóc lột để bù đắp những thiệt hại của chúng.

Ngày 09/02/1930 Cách mạng tư sản thất bại, giai cấp tư sản một mặt mâu thuẫn với chế độ phong kiến, đường lối chính trị thời gian này của chúng chủ yếu là cải lương. Tư sản dân tộc chủ yếu là địa chủ chuyển thành kiến cho thái độ chống phong kiến thời bấy giờ không được dứt khoát. Những tầng lớp trí thức, tiểu tư sản trở nên hoang mang và tìm được thỏa hiệp với thực dân, một số còn lại thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc bằng con đường văn chương, thời đó văn học hiện thực phê phán trở thành một phong trào.

Chặng đường phát triển của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 chia làm ba chặng: chặng từ năm 1930 – 1935, chặng 1936 – 1939, chặng 1940 – 1945. 

Những tên tuổi lớn đã đóng góp cho sự phát triển của văn học hiện thực phê phán của Việt Nam ở giai đoạn này phải kể đến như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao,… Chính những tác phẩm của họ là một bức tranh vẽ toàn cảnh của một xã hội đen tối bấy giờ.

Những sự phê phán, sự lên ánh mạng mẹ của chế độ thống trị được thể hiện mạnh mẽ của những tác phẩm như: Bước đường cùng, Bỉ vỏ, Số Đỏ, Chí Phèo, Tắt đèn, Lão Hạc,…

Bức tranh xã hội thời đó được những tác phẩm của văn học hiện thực phê phán miêu tả chân thực xã hội lúc đó với sự ảm đạm, nhiều bị kịch, làng quê xơ xác, nhiều những tệ nạn của xã hội, người nông dân bị cường hào ác bá đẩy tới mức đường cùng dẫn tới mất nhân tính và biến chất trở thành một tệ nạn của xã hội.

Văn học hiện thực phê phán vào những năm 1930 – 1945 được coi là một cuộc vận động trên chính dòng phát triển của thời cuộc đầy những biến động, khó khăn của xã hội. Nhưng cho dù xã hội có đổi thay như thế nào, thì những nét chữ, những trang viết sẽ sống mãi với thời gian.

43. Tự luận
1 điểm

Hãy thuyết trình về phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.

Xem đáp án

Kính thưa thầy cô và các bạn!

Hôm nay, em xin trình bày về phong cách sáng tác của trường phái văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, một giai đoạn có nhiều tác phẩm xuất sắc, phản ánh chân thực bức tranh xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám.

1. Hoàn cảnh ra đời của văn học hiện thực 1930 - 1945

Bối cảnh lịch sử:

+ Giai đoạn này, Việt Nam vẫn là thuộc địa của Pháp, xã hội có nhiều biến động lớn.

+ Chế độ phong kiến suy tàn, thực dân Pháp tăng cường bóc lột khiến đời sống nhân dân vô cùng khổ cực.

+ Sự phân hóa giàu - nghèo rõ rệt, những tầng lớp như trí thức, nông dân, tiểu tư sản phải vật lộn để tồn tại.

Bối cảnh văn học:

+ Trước đó, văn học lãng mạn phát triển mạnh nhưng chủ yếu hướng đến cái đẹp, chưa phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội.

+ Trong bối cảnh đời sống đầy rẫy bất công, văn học hiện thực ra đời như một tất yếu, lên tiếng tố cáo xã hội và bảo vệ những con người nghèo khổ.

2. Những đặc điểm nổi bật của phong cách sáng tác hiện thực 1930 - 1945

2.1. Nội dung phản ánh chân thực hiện thực xã hội

- Các tác phẩm hiện thực giai đoạn này không còn né tránh mà trực diện phản ánh bộ mặt đen tối của xã hội thực dân nửa phong kiến.

- Hiện thực trong tác phẩm thường là:

+ Sự bóc lột tàn nhẫn của địa chủ, cường hào phong kiến (tiêu biểu như Bá Kiến trong Chí Phèo – Nam Cao).

+ Cuộc sống cùng cực của người nông dân bị bần cùng hóa (chị Dậu trong Tắt đèn – Ngô Tất Tố).

+ Nỗi khổ của người trí thức nghèo trong xã hội thực dân (nhân vật Hộ trong Đời thừa – Nam Cao).

+ Sự tha hóa của con người dưới áp bức xã hội (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan).

2.2. Xây dựng nhân vật điển hình mang tính xã hội cao

- Nhân vật trong văn học hiện thực thường đại diện cho một tầng lớp trong xã hội, có số phận điển hình:

+ Người nông dân nghèo khổ: Chí Phèo, chị Dậu, anh Pha...

+ Người trí thức nghèo bế tắc: Hộ (Đời thừa), nhân vật giáo Thứ (Sống mòn – Nam Cao)...

+ Tầng lớp thống trị tàn ác: Bá Kiến (Chí Phèo), Nghị Quế (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan)...

+ Nhân vật không chỉ mang tính cá nhân mà còn là hình ảnh tiêu biểu cho một giai cấp, một xu hướng xã hội.

2.3. Giọng điệu và ngôn ngữ hiện thực, sắc sảo

- Giọng điệu: Giàu tính châm biếm, mỉa mai nhưng cũng đầy cảm thương cho số phận con người.

- Ngôn ngữ đời thường, gần gũi, phản ánh đúng cách nói và suy nghĩ của nhân vật.

Nhiều tác phẩm sử dụng đối thoại sinh động, thể hiện rõ mâu thuẫn giai cấp và xung đột xã hội.

3. Những tác giả và tác phẩm tiêu biểu

Nam Cao

Chí Phèo: Tố cáo xã hội đã tha hóa con người, biến một nông dân lương thiện thành “quỷ dữ”, phản ánh bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

Đời thừa: Phản ánh bi kịch của người trí thức nghèo, có tài nhưng bị xã hội vùi dập.

Ngô Tất Tố

Tắt đèn: Phơi bày nỗi khổ của người nông dân dưới sự bóc lột của địa chủ phong kiến, tiêu biểu qua hình tượng chị Dậu.

Nguyễn Công Hoan

Bước đường cùng: Vạch trần sự tàn nhẫn của giai cấp thống trị, phản ánh bi kịch của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng.

Vũ Trọng Phụng

Số đỏ: Châm biếm sâu sắc xã hội thành thị nửa Tây nửa ta, đả kích sự lố lăng của bọn tư sản thành thị.

4. Ý nghĩa và đóng góp của văn học hiện thực 1930 - 1945

Về mặt nội dung:

+ Là tiếng nói mạnh mẽ tố cáo xã hội phong kiến bất công, thể hiện nỗi khổ của nhân dân.

+ Thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận người lao động.

Về mặt nghệ thuật:

+ Đánh dấu bước phát triển của truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam với bút pháp hiện thực sắc sảo.

+ Xây dựng hình tượng nhân vật có sức sống lâu bền, điển hình cho các tầng lớp xã hội.

+ Là tiền đề quan trọng để văn học cách mạng sau này tiếp tục phát triển.

5. Kết luận

- Văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 là một trong những thành tựu quan trọng nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại.

- Không chỉ phản ánh chân thực xã hội đương thời, dòng văn học này còn thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc, lên tiếng vì quyền lợi của những con người bị áp bức.

- Cho đến nay, những tác phẩm hiện thực giai đoạn này vẫn giữ nguyên giá trị, giúp chúng ta hiểu hơn về quá khứ và trân trọng cuộc sống ngày nay.

Câu hỏi thảo luận: Theo bạn, giá trị của văn học hiện thực 1930 - 1945 có còn phù hợp với xã hội hiện nay không?

Cảm ơn thầy cô và các bạn đã lắng nghe! 

44. Tự luận
1 điểm

 Phân biệt bài viết và bài thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học.

Xem đáp án

* Bài viết về phong cách sáng tác của một trường phái văn học:

- Là văn bản trình bày những đặc điểm chung, nổi bật của tác giả, tác phẩm thuộc một trường phái hay trào lưu văn học.

- Bài biết cần trình bày được những biểu hiện đặc trưng, chủ đạo, phổ biến trong các sáng tác tiêu biểu của một trường phái văn học ở một hoặc một số phương diện như: đề tài, cảm hứng, tư tưởng, thể loại, giọng điệu, kết cấu...

- Bài viết có bố cục ba phần:

+ Mở đầu: Giới thiệu chung về trường phái văn học.

+ Thân bài: Trình bày các đặc điểm chung, nổi bật, đặc thù của trường phái văn học được lựa chọn.

+ Kết thúc: Nêu đánh giá chung về phong cách sáng tác và giá trị, đóng góp của trường phái văn học đối với tiến trình phát triển của giai đoạn hoặc thời kí, thậm chí nền văn học.

*Bài thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học

- Trình bày những hiểu biết của cá nhân hoặc nhóm về những điểm đặc trưng của trường phái, về các tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho phong cách của trường phái.

- Việc trình bày được thực hiện bằng ngôn ngữ nói, nhưng cần sự hỗ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ (điệu bổ, cử chỉ, hành động,...) và các phương tiện kĩ thuật (tài liệu phát tay, máy tính, máy chiếu,...) để có được hiệu quả tốt hơn.

- Thuyết trình đòi hỏi người nói phải diễn giải, làm rõ nội dung được trình bày, đồng thời phải nêu bật được quan điểm, nhận xét, đánh giá bình luận của bản thân hoặc nhóm về trường phái văn học được giới thiệu.

45. Tự luận
1 điểm

Hãy chỉ ra mối quan hệ giữa việc đọc và viết bài thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học qua một ví dụ cụ thể.

Xem đáp án

Đọc và viết bài thuyết trình thường đi đôi với nhau trong quá trình tìm hiểu về phong cách sáng tác của một trường phái văn học. Khi phân tích tác phẩm từ một trường phái văn học, việc đọc sẽ giúp ta xác định được những đặc điểm chính của nó, như: chủ đề, cấu trúc, hình ảnh, ngôn từ.... Điều này giúp nâng cao khả năng nhận biết của người đọc để từ đó diễn đạt suy nghĩ của mình một cách hiệu quả hơn khi viết. Bằng cách kết hợp cả kỹ năng đọc và viết, chúng ta sẽ dễ cảm nhận và phân tích sâu hơn về  phong cách sáng tác của một trường phái văn học.

Ví dụ: Khi nghiên cứu về phong cách sáng tác của các bài thơ như Tiếng thu hay Đây thôn Vĩ Dạ, chúng ta trước nhất phải đọc hiểu nội dung của các bài thơ để từ đó cảm nhận được các giá trị ẩn sau các câu từ và nhà thơ muốn truyền đạt. Sau khi đọc hiểu được khái quát nội dung bài, chúng ta mới có thể trình bày những suy nghĩ ấy thành bài viết. Từ những nội dung khái quát cảm nhận được khi đọc, chúng ta mới có thể đào sâu, phân tích chi tiết trong bài viết của mình.

46. Tự luận
1 điểm

Theo em, để thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học một cách hiệu quả, cần chú ý những vấn đề gì? Vì sao?

Xem đáp án

Để thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái văn học một cách hiệu quả, cần chú ý các bước cơ bản sau: 

1. Xác định mục đích, yêu cầu của bài thuyết trình, đối tượng nghe thuyết trình

2. Xem lại bài viết hoặc nội dung tìm hiểu về phong cách sáng tác của một trường phái văn học 

3. Xây dựng đề cương thuyết trình 

4. Xây dựng bài thuyết trình và lựa chọn các công cụ hỗ trợ 

5. Thực hiện hoạt động thuyết trình