(Ngữ liệu ngoài sgk) Từ Hải từ biệt Thúy Kiều
7 câu hỏi
TỪ HẢI TỪ BIỆT THÚY KIỀU
(Nguyễn Du)
Nửa năm hương lửa1 đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương2.
Trông vời3 trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa4 lên đường thẳng rong5.
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng6,
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri7,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh8 rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường9,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia10.
Bằng nay bốn bể11 không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”.
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi12.
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Vị trí đoạn trích: Cuộc đời Kiều tưởng như bế tắc hoàn toàn khi lần thứ hai rơi vào lầu xanh thì Từ Hai bỗng xuất hiện và đưa Kiều thoát khỏi cảnh ô nhục. Hai người sống hạnh phúc “Trai anh hùng gái thuyền quyên - Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”. Nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm bên cạnh nàng Kiều tài sắc, chàng muốn có sự nghiệp lớn nên sau nửa năm đã từ biệt Kiều ra đi.
Chú thích:
[1] Hương lửa: thời xưa, nam nữ khi thề nguyền tình yêu chung thuỷ thường thắp đèn châm hương để cáo cùng trời đất, thần linh. Do đó, hương lửa (hay lửa hương) dùng đế chỉ tình yêu.
[2] Lòng bốn phương: “bốn phương” (nam, bắc, tây, đông) có nghĩa là thiên hạ, thế giới. Theo Kinh Lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng (nói tắt: tang bồng) bắn tên ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Lòng bốn phương: chí nguyện lập công danh, sự nghiệp (Nguyễn Công Trứ: “Chí làm trai nam bắc tây đông - Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”).
[3] Trông vời: trông ra xa.
[4] Thanh gươm yên ngựa: ý nói từ Hải chỉ một mình với một thanh gươm, một con ngựa.
[5] Thẳng rong: đi liền một mạch.
[6] Phận gái chữ tòng: (chữ tòng: đạo Nho quy định “tam tòng” - người phụ nữ, ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) phận gái thì phải theo chồng.
[7] Tâm phúc tương tri: (tâm: lòng, phúc: dạ) hai người đã hiếu biết lòng dạ nhau, tức là đã hiếu nhau sâu sắc.
[8] Tinh: cờ, bóng tinh: bóng cờ.
[9] Phi thường: không giống cái bình thường, tức là xuất chúng, hơn người.
[10] Nghi gia: bài Đào yêu (Kinh Thi) có câu “Chi tử vu quy - Nghi kỳ thất gia” (Người con gái về nhà chồng - Nên cửa nên nhà). Nghi gia ở đây có nghĩa là người chồng đón người vợ về nhà.
[11] Bốn bể: chỉ thế giới, thiên hạ.
[12] Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi: thiên Tiêu dao du trong sách Trang Tử (Nam Hoa kinh) có truyện ngụ ngôn kế rằng chim bằng là một giống chim rất lớn, đập cánh làm động nước trong ba ngàn dặm, cưỡi gió mà bay lên chín ngàn dặm. Chim bằng trong thơ văn thường tượng trưng cho khát vọng của những người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn. Ý cả câu: Đã đến lúc chim bằng bay lên cùng gió mây.
Xác định những hình thức ngôn ngữ có trong đoạn trích.
Chỉ ra phép đối trong những câu thơ sau:
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia
Nêu ý nghĩa của điển tích được dùng trong hai câu thơ sau:
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
Nêu những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Từ Hải của Nguyễn Du ở đoạn trích.
Qua đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về chí làm trai của nam nhi thời phong kiến?
Từ đoạn trích “Từ Hải từ biệt Thúy Kiều” (Nguyễn Du), anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về khát vọng lập nghiệp và ý chí vươn lên trong cuộc sống của con người.
Từ đoạn trích “Từ Hải từ biệt Thúy Kiều” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về lý tưởng sống cao đẹp của con người trong thời đại hôm nay.
Gợi ý cho bạn
Xem tất cảNgân hàng đề thi








