2048.vn

(Ngữ liệu ngoài sgk) Nam Kim - Thị Đan
Đề thi

(Ngữ liệu ngoài sgk) Nam Kim - Thị Đan

A
Admin
VănLớp 115 lượt thi
10 câu hỏi
Đoạn văn

NAM KIM – THỊ ĐAN (Trích)

Lại tới đoạn Thị Đan ở nhà

Đêm ngày nhớ Nam Kim bạn quý

Không biết bạn còn yêu không nhỉ?

Chia tay anh còn nói hết lời

Hay còn giấu lời nào chẳng rõ.

Nom mặt mũi ăn ở có duyên,

Lòng bạn trai, hiểu sao được hết!

Nghĩ tới chàng, chân tay rời mỏi mệt

Một mình đêm ngày chỉ biết vãn than

Tự oán vía, oán mệnh, oán thân,

Mẹ có hỏi cũng không buồn nói.

Đêm ngày mang một nỗi nhớ nhung

Đi xóm dưới bản trên đều vậy;

Lên nhà lại xuống thang không thấy,

Thôi đành luẩn quẩn đến tối ngày

Không được thấy mặt bạn.

Mẹ lại bắt nàng phải về nhà chồng,

Nghe lời mẹ, cúi mặt bước chân,

Mẹ có thấy đâu, nước mắt con đang chảy,

Chỉ biết ép con về nhà chồng.

Bắt con cúi đầu cất bước,

Bởi mẹ vội quá,

Bán con đi làm ăn khác xã,

Sợ con ở nhà ăn nhiều.

Nên mới bán cho người ta,

Tham nhà giàu thóc lúa đầy nhà

Mặt gẫy như mặt khỉ rừng già (1)

Không nên đường đạo nghĩa làm ăn

Ép uổng mèo ăn gừng tội nghiệp.

Không một ngày được thoả lòng,

Chỉ muốn tìm ăn lá ngón (2)

Mẹ mới mở miệng khuyên con:

Ngày xưa mẹ làm ăn cực khổ

Khi còn nhỏ, con đã mồ côi bố

Công mẹ nuôi dạy dỗ nên người.

Bán con vào nơi ruộng cả”

Mẹ khuyên con gái đủ điều:

“Số mệnh ta do trời đã định;

Tốt xấu là do mệnh, do hồn

Con hãy tự nghĩ thân con

Mẹ đã nói hết lời hết lẽ”

Nghe xong, Thị Đan tự nghĩ tự lo,

Nghe mẹ nói đêm nằm khóc lóc.

Làm sao lắm tủi nhục thế, hỡi trời!

Trời sinh cho cuộc đời xa bạn,

Cả mười câu mẹ ép về nhà chồng,

Đành phải cố nhấc chân ra cửa

Nhà chồng ở đường xa khác xã;

Heo hút leo hết dốc lại đèo.

Nhớ người yêu lại trở về nhà

Thơ thẩn vào vườn hoa hồng thắm

(Trích Nam Kim - Thị Đan(3) (Dân Tộc Tày), Tuyển tập Văn học Việt Nam, tập V, NXB Giáo dục, 2002, tr 899 – tr 900)

Chú thích:

(1) Ví chồng Thị Đan xấu xí, chẳng khác gì giống khỉ.

(2) Lá ngón: một loại cây độc dược. Ngày xưa con gái dân tộc chống nạn ép duyên thường dùng để tự tử

(3) Nam Kim - Thị Đan là truyện thơ của dân tộc Tày, kể về mối tình tan vỡ giữa Nam Kim và Thị Đan. Đôi bạn trẻ mồ côi đã yêu nhau từ thuở thiếu thời. Lớn lên, mẹ Thị Đan đã nhận lễ vật để gả cho Thái Quan. Nam Kim vì nhà nghèo, không có khả năng trả lễ để chuộc lại người yêu, Thị Đan buộc phải lấy Thái Quan sau khi đã cắt máu tay uống thề với Nam Kim. Hận ép duyên đã đưa đến cái chết của Thị Đan, để lại cho Nam Kim nỗi nhớ thương vô hạn.

1. Tự luận
1 điểm

Xác định đề tài của truyện thơ Nam Kim - Thị Đan?

Xem đáp án
2. Tự luận
1 điểm

Đoạn trích trên được kể bằng lời của ai, ở ngôi thứ mấy?

Xem đáp án
3. Tự luận
1 điểm

Đoạn trích đã thể hiện những đặc điểm nào của ngôn ngữ truyện thơ Nôm bình dân?

Xem đáp án
4. Tự luận
1 điểm

Nêu tâm trạng của nhân vật Thị Đan trong đoạn trích sau:

Đêm ngày nhớ Nam Kim bạn quý

Không biết bạn còn yêu không nhỉ?

Chia tay anh còn nói hết lời

Hay còn giấu lời nào chẳng rõ.

Xem đáp án
5. Tự luận
1 điểm

Xác định yếu tố phi ngôn ngữ của ngôn ngữ nói trong các câu sau:

Nghe lời mẹ, cúi mặt bước chân,

Mẹ có thấy đâu, nước mắt con đang chảy,

Chỉ biết ép con về nhà chồng.

Bắt con cúi đầu cất bước,

Xem đáp án
6. Tự luận
1 điểm

Xác định nội dung của đoạn trích trên?

Xem đáp án
7. Tự luận
1 điểm

Trong đoạn trích, mẹ Thị Đan có nói với nàng:

“Số mệnh ta do trời đã định;

Tốt xấu là do mệnh, do hồn”

Anh/Chị có đồng tình với quan niệm trên không? Vì sao?

Xem đáp án
8. Tự luận
1 điểm

Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về những hậu quả của tục lệ hôn nhân ép buộc?

Xem đáp án
9. Tự luận
1 điểm

Từ đoạn trích Nam Kim – Thị Đan (dân tộc Tày) đã cho, anh/ chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ nêu cảm nhận về tâm trạng và số phận của nhân vật Thị Đan, qua đó liên hệ để rút ra suy nghĩ của em về tình yêu và hạnh phúc trong cuộc sống.

Xem đáp án
10. Tự luận
1 điểm

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích truyện thơ Nôm trên.

Xem đáp án
© All rights reserved VietJack