(Ngữ liệu ngoài sgk) Cây dừa
Đề thi

(Ngữ liệu ngoài sgk) Cây dừa

A
Admin
VănLớp 663 lượt thi
12 câu hỏi
Đoạn văn

CÂY DỪA

Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao

Đêm hè hoa nở cùng sao

Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh

Ai mang nước ngọt, nước lành

Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa

Tiếng dừa làm dịu nắng trưa

Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo

Trời trong đầy tiếng rì rào

Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra...

Đứng canh trời đất bao la

Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.

(Góc sân và khoảng trời - Trần Đăng Khoa - SGK Tiếng Việt 2, tập 1, NXB Giáo dục, 2002)

1. Tự luận
1 điểm

Bài thơ “Cây dừa” được viết theo thể thơ nào?

Xem đáp án

- Thể thơ lục bát.  

2. Tự luận
1 điểm

Trong các hình ảnh: đêm hè, nắng trưa, đàn cò, chiều thu, hình ảnh nào không được nhắc đến trong bài thơ.

Xem đáp án

- Hình ảnh “Chiều thu” không được nhắc đến trong bài thơ.

3. Tự luận
1 điểm

Dòng thơ “Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.” có mấy cụm động từ?

Xem đáp án

- Bốn cụm: dang tay / đón gió / gật đầu / gọi trăng.

4. Tự luận
1 điểm

Bài thơ “Cây dừa” có bao nhiêu từ láy? Đó là những từ nào?

Xem đáp án

- Bài thơ có 2 từ láy: rì rào, đủng đỉnh.

5. Tự luận
1 điểm

Trạng ngữ trong dòng thơ “Đêm hè hoa nở cùng sao” có nhiệm vụ gì?

Xem đáp án

- Trạng ngữ: Đêm hè - Chỉ thời gian.

6. Tự luận
1 điểm

Câu thơ “Đứng canh trời đất bao la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi” diễn tả điều gì?

Xem đáp án

- Cây dừa ung dung, thanh cao, hiên ngang, dũng cảm như con người.        

7. Tự luận
1 điểm

Từ “bạc” trong bài thơ và từ “bạc” trong câu “Nén bạc đâm toạc tờ giấy” là:

Xem đáp án

- Từ đồng âm. Vì:

+ “bạc” trong “bạc phếch”: chỉ tình trạng bị phai màu đến mức ngả sang màu trắng đục, trông cũ và xấu.

+ “bạc” trong “nén bạc”: chỉ kim loại quý màu trắng sáng, mềm, khó gỉ, dẫn điện tốt, thường dùng để mạ hoặc làm đồ trang sức

8. Tự luận
1 điểm

Từ “đủng đỉnh” trong dòng thơ “Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi” có nghĩa là:

Xem đáp án

- Từ “đủng đỉnh”: chậm rãi, tỏ ra không vội vã.

9. Tự luận
1 điểm

Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ nhân hóa. Em hãy chỉ ra hình ảnh nhân hóa trong bài thơ và nêu tác dụng?

Xem đáp án

- HS chỉ ra được 2 trong các hình ảnh thơ có sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa:

+ Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.

+ Tiếng dừa làm dịu nắng trưa.

+ Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo.

+ Đứng canh trời đất bao la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.

- Tác dụng biện pháp tu từ nhân hóa:

+ Làm cho hình ảnh cây dừa trở nên sinh động, cụ thể, gần gũi với con người, cây dừa trở thành hiện thân của con người Việt Nam.

+ Thể hiện tình yêu thiên nhiên của nhà thơ, đặc biệt là khả năng cảm nhận thiên nhiên bằng mọi giác quan, bằng sự mở rộng tâm hồn và trí tưởng tượng phong phú, độc đáo.

10. Tự luận
1 điểm

Hình ảnh cây dừa trong bài thơ đã khơi gợi trong em những phẩm chất đáng quý nào của con người Việt Nam?

Xem đáp án

- Đây là câu hỏi mở HS có thể có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nêu ra được điều mà tác giả gửi gắm qua bài thơ ví dụ:

Cây dừa là hiện thân của con người Việt Nam với đầy đủ những phẩm chất tốt đẹp: nhân hậu, thân thiện...; chịu thương, chịu khó; luôn hiên ngang, dũng cảm và có tình yêu quê hương đất nước nồng nàn.

11. Tự luận
1 điểm

Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc của em sau khi đọc bài thơ “Cây dừa” (Trần Đăng Khoa).

Xem đáp án

Gợi ý:

Dàn ý đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc bài thơ “Cây dừa” (Trần Đăng Khoa).

Dàn ý:

1. Mở đoạn: Giới thiệu bài thơ và cảm xúc chung.

2. Thân đoạn:

- Cây dừa hiện lên qua nhiều hình ảnh nhân hóa sinh động.

- Cây dừa mang đến vẻ đẹp, sức sống và sự gắn bó với đời sống con người.

- Gợi tình cảm yêu thiên nhiên, yêu quê hương.

3. Kết đoạn: Khẳng định tình cảm dành cho cây dừa và cho thiên nhiên làng quê.

Đoạn văn hoàn chỉnh

Đọc bài thơ Cây dừa của Trần Đăng Khoa, em cảm thấy vô cùng thích thú và yêu mến hình ảnh cây dừa quen thuộc nơi làng quê Việt Nam. Qua những câu thơ lục bát mượt mà, cây dừa hiện lên thật sống động với những cử chỉ nhân hóa gần gũi: khi thì dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng, khi thì cất tiếng rì rào làm dịu nắng trưa. Cây dừa không chỉ mang lại cho con người bóng mát, nước ngọt mà còn như một người bạn gắn bó thủy chung với quê hương. Đặc biệt, em rất ấn tượng với hình ảnh “Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi” – gợi vẻ ung dung, thanh thản, kiêu hãnh của cây dừa trước trời đất bao la. Bài thơ khiến em thêm yêu cây dừa và thêm trân trọng vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam.

12. Tự luận
1 điểm

Kể lại câu chuyện cổ tích Việt Nam bằng lời văn của em.

Xem đáp án

Gợi ý:

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn tự sự.

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Kể lại câu chuyện cổ tích Việt Nam bằng lời văn của em.

c. Đảm bảo các nội dung:

Viết bài văn kể lại một truyện cổ tích bằng lời văn của em.

1. Mở bài:

-  Giới thiệu truyện cổ tích “Thạch Sanh”.

2. Thân bài (diễn biến sự việc)

- Mở đầu: Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con.

- Thắt nút: Lý thông gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em để lợi dụng.

- Phát triển:

+ Thạch Sanh dùng búa chém chết chằn tinh. Lý Thông cướp công.

+ Thạch Sanh dùng tên bắn bị thương đại bàng, cứu công chúa.

- Mở nút: Khi nghe tiếng đàn văng ra từ trong ngục, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua tìm ra sự thật, kết tội Lý Thông.

- Kết thúc:

+ Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh.

+ Chư hầu đến cầu hôn không được, kéo sang đánh…

3. Kết bài:

- Ý nghĩa câu chuyện: “Ở hiền gặp lành” và “ác giả ác báo”.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Bố cục mạch lạc, lời kể sinh động, sáng tạo có giọng điệu riêng.

Bài văn hoàn chỉnh

Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, em rất yêu thích câu chuyện Thạch Sanh. Đây là câu chuyện vừa kì ảo vừa giàu ý nghĩa nhân văn.

Xưa kia, Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống trần đầu thai làm con của hai vợ chồng nghèo. Cậu bé lớn lên trở thành chàng trai khỏe mạnh, hiền lành, tên là Thạch Sanh. Một hôm, Thạch Sanh tình cờ kết nghĩa anh em với Lý Thông, nhưng Lý Thông chỉ lợi dụng chàng để mưu lợi riêng. Hắn lừa Thạch Sanh đi canh miếu, định thay chàng nộp mạng cho chằn tinh. Với sức mạnh và lòng dũng cảm, Thạch Sanh đã dùng búa chém chết chằn tinh, nhưng Lý Thông lại cướp công, đem đầu chằn tinh nộp vua.

Không lâu sau, công chúa bị đại bàng bắt đi. Thạch Sanh bắn bị thương đại bàng và lần theo dấu vết, tìm đến hang sâu để cứu công chúa. Lý Thông lại hại chàng, bịt cửa hang nhốt Thạch Sanh trong đó. Nhờ cây đàn thần được tiên ban tặng, Thạch Sanh vẫn sống. Khi bị giam trong ngục, tiếng đàn của chàng cất lên khiến công chúa bỗng vui vẻ, khỏi bệnh câm lặng. Nhà vua nhờ đó biết được sự thật, trừng trị mẹ con Lý Thông, và gả công chúa cho Thạch Sanh.

Chưa dừng lại ở đó, các nước chư hầu nghe tin công chúa đã có chồng, liền kéo quân sang đánh. Thạch Sanh dùng cây đàn và niêu cơm thần, khiến quân lính cảm phục, tự nguyện rút lui. Cuối cùng, Thạch Sanh sống hạnh phúc bên công chúa, được nhân dân yêu mến.

Câu chuyện Thạch Sanh để lại cho em bài học sâu sắc: kẻ gian ác, mưu mô như Lý Thông cuối cùng cũng phải chịu tội, còn người thật thà, dũng cảm như Thạch Sanh sẽ được hưởng hạnh phúc. Đúng như ông cha ta từng nói: Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo.