(Ngữ liệu ngoài sgk) Bữa cơm thường trong bản nhỏ
Đề thi

(Ngữ liệu ngoài sgk) Bữa cơm thường trong bản nhỏ

A
Admin
VănLớp 1235 lượt thi
12 câu hỏi
Đoạn văn

BỮA CƠM THƯỜNG TRONG BẢN NHỎ

(Chế Lan Viên)

Chim ri mách lúa vàng chín rộ
Tu hú kêu vải đỏ trùm cây
Tháng năm mười chín rồi đây
Ngày sinh nhật Bác nắng đầy tiếng chim...

Quê em nhỏ bốn bên khe suối
Người vắng qua, chim tới chim lui
Khi vui ngắm núi làm vui
Khi buồn nhặt trái sim rơi đỡ buồn
Trái mơ non quả tròn quả méo
Đời em như cỏ héo tứ mùa
Con vua thì họ làm vua
Mình con nhà khó làm mưa ngoài ngàn(1)
Đầu mùa bới củ thay cơm
Cuối mùa nấu đọt măng nguồn thay khoai...

Từ có Bác cuộc đời chợt sáng
Bát cơm no tháng tám ngày ba
Cơm thơm ăn với cá kho
Công đức Bác Hồ, bản nhớ nghìn năm
Bác thương dân chăm ăn chăm mặc
Em đi chợ đồng bằng bán hạt sa nhân
Tháng giêng thêu áo may quần
Tháng hai trẩy hội mùa xuân hãy còn
Lớp bình dân(2) cuối thôn em học
Người thêm khôn, đất mọc thêm hoa
Chim khôn chim múa chim ca
Bản em có Bác như nhà có trăng
Muối lên rừng tay bưng tay đặt
Bộ đội Bác lên rừng công tác, em thương
Khi xưa lên núi không đường
Giờ anh lên núi bản mường đợi anh
Ra vườn xanh hái nhành vải đỏ
Xuống ruộng vàng gặt bó luá hương
Ngày vui nấu bữa cơm thường
Thết(3) anh cán bộ lên mường giúp dân

Tháng 5-1954

(Chế Lan Viên Thơ và đời, NXB Văn học, 2012)

(*) Nhà thơ Chế Lan Viên (1920 - 1989), quê ở Quảng Trị.

(1) Ngàn: cánh rừng già.

(2) Lớp bình dân: các lớp học xóa nạn mù chữ cho nhân dân (sau Cách mạng tháng Tám 1945).

(3) Thết: Mời ăn uống thịnh soạn để tỏ lòng quý trọng: làm cơm thết khách.

1. Tự luận
1 điểm

Bài thơ Bữa cơm thường trong bản nhỏ được viết theo thể thơ nào?

Xem đáp án

- Bài thơ được viết theo thể thơ song thất lục bát.

2. Tự luận
1 điểm

Từ khi có Bác Hồ, cuộc đời nhân vật “em” và bản mường đã thay đổi như thế nào? Qua bài thơ, em có nhận xét gì về tình cảm của nhân dân dành cho Bác Hồ và các anh chiến sĩ bộ đội?

Xem đáp án

- Cuộc đời nhân vật “em” và bản mường thay đổi:

+ Cuộc sống ấm no, hạnh phúc hơn (bát cơm no tháng tám ngày ba, cơm thơm ăn với cá kho).

+ Nhân dân được học hành (lớp bình dân, người thêm khôn, đất mọc thêm hoa).

- Nhận xét về tình cảm của nhân dân: Nhân dân biết ơn, thành kính, yêu mến, và luôn ngợi ca công lao của Bác Hồ cũng như các anh bộ đội.

3. Tự luận
1 điểm

Ghi lại một cặp từ trái nghĩa có trong bài thơ.

Xem đáp án

- Một cặp từ trái nghĩa: vui – buồn hoặc tròn – méo.

4. Tự luận
1 điểm

Phân tích hiệu quả biện pháp tu từ so sánh trong các dòng thơ sau:

Chim khôn chim múa chim ca

Bản em có Bác như nhà có trăng

Xem đáp án

- Biện pháp tu từ so sánh: Bản em có Bác như nhà có trăng.

- Tác dụng:

+ Khắc họa sự đổi thay tích cực của bản mường khi có Bác Hồ: cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ánh sáng của Bác xua tan bóng tối đói nghèo và lạc hậu.

+ Tình cảm của tác giả (hoặc nhân vật “em”) dành cho Bác: ngợi ca, biết ơn, thành kính.

+ Hiệu quả thẩm mỹ: Tăng sức gợi hình, gợi cảm, giúp người đọc dễ dàng hình dung và cảm nhận được sự thiêng liêng, ý nghĩa lớn lao của Bác Hồ đối với nhân dân.

5. Tự luận
1 điểm

Từ bài thơ, em rút ra được bài học gì về lòng biết ơn đối với những người đã cống hiến vì đất nước? Hãy trình bày cảm nghĩ của em.

Xem đáp án

Từ bài thơ “Bữa cơm thường trong bản nhỏ” của Chế Lan Viên, em rút ra một bài học sâu sắc và cảm động về lòng biết ơn đối với những người đã cống hiến vì đất nước, đặc biệt là đối với Bác Hồ kính yêu và những người cán bộ đã không quản ngại khó khăn, gian khổ để đem ánh sáng cách mạng về với đồng bào vùng cao.

6. Tự luận
1 điểm

Người dân bản mường trong bài thơ vẫn luôn “nhớ nghìn năm” công đức Bác Hồ – người mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Là học sinh, em sẽ làm gì để bày tỏ tình cảm dành cho Người?

Xem đáp án

Là học sinh, em sẽ:

Chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức tốt để trở thành người có ích cho xã hội.

Tham gia các hoạt động tình nguyện giúp đỡ cộng đồng.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình”.

Gìn giữ và phát huy truyền thống yêu nước, tôn trọng công lao của các thế hệ đi trước.

7. Tự luận
1 điểm

Em hãy phân tích ý nghĩa của hình ảnh “nhà có trăng” trong bài thơ và liên hệ với vai trò của Bác Hồ đối với cuộc sống của người dân.

Xem đáp án

- Hình ảnh “Bản em có Bác như nhà có trăng” để diễn tả một cách xúc động và giàu chất thơ tình cảm của người dân đối với Bác Hồ. Hình ảnh “nhà có trăng” gợi lên ánh sáng dịu dàng, trong trẻo, mát lành của ánh trăng chiếu sáng vào không gian tĩnh lặng của ngôi nhà vùng cao. Đó là ánh sáng của sự sống, của bình yên, của hy vọng.

=> Bác Hồ chính là nguồn sáng, là người mang lại ánh sáng cho cuộc đời người dân – đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số nơi bản nhỏ. Có Bác, cuộc sống người dân không còn u tối, cực khổ, đói nghèo như trước mà trở nên đầy đủ hơn, ấm no hơn, văn minh và tiến bộ hơn.

Qua hình ảnh ấy, tình cảm của nhân dân dành cho Bác Hồ được thể hiện sâu sắc và chân thành, như con cháu hướng về người ông kính yêu. Đồng thời, câu thơ cũng thể hiện rõ vai trò lớn lao của Bác trong công cuộc cách mạng và xây dựng đất nước: Bác là ánh sáng soi đường, là người mang lại đổi thay tích cực và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân. Sự có mặt của Bác – dù chỉ bằng lý tưởng, bằng chính sách, bằng lòng yêu thương – đã làm thay đổi cả một vùng đất từng heo hút và khó khăn.

=> Tóm lại, hình ảnh “nhà có trăng” không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn là biểu tượng cho sự hiện diện ấm áp, bền vững và soi đường của Bác Hồ đối với cuộc sống của nhân dân, để từ đó, cuộc sống nơi bản nhỏ cũng tràn ngập ánh sáng của tự do, no ấm và tình người.

8. Tự luận
1 điểm

Theo em, tại sao tác giả lại lựa chọn những hình ảnh mộc mạc như “bát cơm”, “ruộng vàng”, “trái sim rơi” để nói về sự thay đổi ở bản mường?

Xem đáp án

- Tác giả Chế Lan Viên đã lựa chọn những hình ảnh mộc mạc như “bát cơm”, “ruộng vàng”, “trái sim rơi” để nói về sự thay đổi ở bản mường vì đây chính là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, gắn bó mật thiết với đời sống hằng ngày của người dân miền núi.

+ Trước cách mạng, cuộc sống ở bản mường còn nhiều thiếu thốn, cực nhọc, người dân phải “bới củ thay cơm”, “nấu đọt măng nguồn thay khoai”, sống lay lắt qua ngày như “cỏ héo tứ mùa”. Khi ấy, hình ảnh “trái sim rơi” tượng trưng cho sự buồn tẻ, nghèo khó và đơn độc. Nhưng kể từ khi có Bác, cuộc sống người dân thay đổi rõ rệt – được ăn cơm no, mặc đủ, đi học, trẩy hội, biết làm kinh tế và chung tay dựng xây bản làng.

=> “bát cơm”, “ruộng vàng” hay “vải đỏ” không chỉ là hình ảnh sinh hoạt dân dã mà còn là biểu tượng cho sự ấm no, sung túc, niềm vui và hạnh phúc mới, thể hiện rõ sự chuyển mình của vùng đất từng heo hút nhờ ánh sáng cách mạng và sự lãnh đạo của Bác Hồ.

9. Tự luận
1 điểm

Hãy tìm thêm một cặp từ trái nghĩa trong bài thơ và phân tích ý nghĩa của cặp từ đó trong việc khắc họa cuộc sống của nhân dân.

Xem đáp án

- Cặp từ trái nghĩa: khi xưa – giờ.

- Phân tích:

+ Khi xưa” đại diện cho quá khứ gian khổ, tối tăm, thiếu thốn mọi bề

“Khi xưa lên núi không đường”

→ Gợi lên hình ảnh bản mường biệt lập, hoang vu, người dân sống trong cảnh cô lập, cơ cực, không có đường sá, không có liên lạc với thế giới bên ngoài.

+ “Giờ” thể hiện hiện tại tươi sáng, đổi thay nhờ ánh sáng cách mạng và công lao của Bác Hồ:

“Giờ anh lên núi bản mường đợi anh”

→ Cho thấy bản làng giờ đã có đường đi, có người dân đón cán bộ lên, có sự kết nối, giao lưu, và đặc biệt là có niềm vui, sự chủ động, đoàn kết và lòng biết ơn.

=> Cặp từ “khi xưa” – “giờ” làm nổi bật sự tương phản giữa quá khứ nghèo khổ và hiện tại đổi mới, từ đó ca ngợi công lao của Bác Hồ và cách mạng trong việc làm thay đổi cuộc đời người dân miền núi. Đồng thời, thủ pháp đối lập này cũng tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ, khiến người đọc cảm nhận rõ hơn niềm hạnh phúc chân thành của nhân dân trước sự đổi đời.

10. Tự luận
1 điểm

Em hãy chỉ ra và phân tích một hình ảnh miêu tả thiên nhiên trong bài thơ. Hình ảnh đó có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện cảm xúc của tác giả?

Xem đáp án

- Hình ảnh: “Chim ri mách lúa vàng chín rộ / Tu hú kêu vải đỏ trùm cây”.

+ Hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp – báo hiệu mùa no ấm, cũng chính là cách tác giả bày tỏ niềm vui mừng, biết ơn và xúc động trước sự thay đổi của bản làng nhờ công lao của Bác Hồ.

+ Thiên nhiên như cũng chung vui với con người trong ngày sinh nhật Bác (19-5) – “nắng đầy tiếng chim” là biểu hiện cho không khí rộn ràng, hân hoan.

+ Tác giả dùng thiên nhiên làm biểu tượng cho sự đổi đời, từ nghèo khó sang đủ đầy, từ im ắng sang sôi động, phản ánh sự chuyển mình của đất nước và lòng biết ơn sâu sắc với lãnh tụ.

=> Hình ảnh “chim ri mách lúa, tu hú kêu vải” không chỉ miêu tả cảnh vật mùa màng mà còn mang tính biểu tượng cho niềm hạnh phúc, sự hồi sinh và lòng biết ơn của nhân dân đối với Bác Hồ. Thiên nhiên trong thơ Chế Lan Viên trở thành tiếng lòng của nhân dân miền núi, vừa mộc mạc, vừa sâu sắc.

11. Tự luận
1 điểm

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm xúc về trích đoạn từ dòng thơ 13 đến dòng thơ 28 trong bài thơ "Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ” của tác giả Chế Lan Viên.

Xem đáp án

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức đoạn văn (diễn dịch, quy nạp, móc xích…).

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 200 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận

+ Ghi lại cảm xúc về trích đoạn từ dòng thơ 13 đến dòng thơ 28 trong bài thơ "Bữa cơm thường ở trong bản nhỏ” của tác giả Chế Lan Viên.

- Hệ thống ý:

+ Cảm xúc trước sự đổi thay rõ rệt trong đời sống.

. Từ cảnh nghèo đói “bới củ thay cơm”, “nấu đọt măng thay khoai” chuyển sang cuộc sống no đủ: “bát cơm no”, “cơm thơm cá kho”.

. Cuộc sống có ý nghĩa hơn, có chợ, có hội, có áo quần, có trường học.

+ Niềm vui, lòng biết ơn và tự hào về Bác Hồ

. Tác giả thay lời người dân bản nhỏ để bày tỏ tấm lòng: “Công đức Bác Hồ, bản nhớ nghìn năm”.

. Hình ảnh “chim múa, chim ca”, “đất mọc thêm hoa” tượng trưng cho cuộc sống tràn đầy sức sống, tươi đẹp, nhờ có Bác.

+ Tình cảm chân thành, mộc mạc của người dân vùng cao

. “Bản em có Bác như nhà có trăng” – một hình ảnh ví von giản dị nhưng thấm đẫm tình cảm, gợi sự gắn bó, ấm áp.

- Phát triển đoạn văn logic, thuyết phục

+ Dẫn chứng từ bài thơ để minh chứng cho nhận định.

+ Thể hiện rõ suy nghĩ về cấu tư bài thơ.

- Đảm bảo ngữ pháp, liên kết:

+ Trình bày rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả.

- Sáng tạo

+ Cách diễn đạt mới mẻ, có suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Đoạn văn tham khảo

Trích đoạn từ dòng thơ 13 đến 28 trong bài “Bữa cơm thường trong bản nhỏ” đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc. Từ những câu thơ chân thực, mộc mạc, em cảm nhận rõ sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc sống của người dân miền núi từ đói khổ, thiếu thốn đến no ấm, đủ đầy nhờ ánh sáng của cách mạng và công lao to lớn của Bác Hồ. Nếu trước đây người dân phải “bới củ thay cơm”, “nấu đọt măng thay khoai” thì nay đã có “bát cơm no tháng tám ngày ba”, có “cơm thơm ăn với cá kho”. Cuộc sống không chỉ đủ ăn, đủ mặc mà còn tràn đầy niềm vui với chợ xuân, áo mới, lớp học, và cả tiếng chim ca, hoa nở. Em xúc động nhất khi đọc câu “Bản em có Bác như nhà có trăng” – hình ảnh so sánh giản dị nhưng đầy yêu thương, cho thấy tình cảm tha thiết, biết ơn của người dân đối với vị lãnh tụ vĩ đại. Đoạn thơ nhắc em phải luôn trân trọng cuộc sống hôm nay và ghi lòng tạc dạ công lao của những người đã hi sinh vì đất nước.

12. Tự luận
1 điểm

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ “Bữa cơm thường trong bản nhỏ” của Chế Lan Viên.

Xem đáp án

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích bài thơ “Bữa cơm thường trong bản nhỏ” của Chế Lan Viên.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Chế Lan Viên: cây bút tài năng, từng sáng tác nhiều tác phẩm tiêu biểu của thơ ca cách mạng Việt Nam.

- Giới thiệu bài thơ “Bữa cơm thường trong bản nhỏ”: được sáng tác tháng 5-1954, phản ánh chân thực sự đổi đời của đồng bào miền núi nhờ ánh sáng cách mạng và công lao của Bác Hồ.

- Nêu khái quát vấn đề nghị luận: Bài thơ là bản hòa ca hạnh phúc của nhân dân trước những đổi thay lớn lao từ đói khổ sang no ấm, đồng thời thể hiện tình cảm biết ơn sâu sắc với Bác Hồ và cách mạng.

* Thân bài:

- Bức tranh thiên nhiên và đời sống nghèo khó trước cách mạng

+ Thiên nhiên vùng núi hiện lên gần gũi, tươi đẹp nhưng quạnh quẽ:

“Quê em nhỏ bốn bên khe suối”

“Chim tới chim lui”, “trái sim rơi”, “trái mơ non quả tròn quả méo”

+ Cuộc sống thiếu thốn, nghèo nàn và cam chịu:

“Đời em như cỏ héo tứ mùa”

“Đầu mùa bới củ thay cơm / Cuối mùa nấu đọt măng nguồn thay khoai”

Ẩn dụ “con vua thì họ làm vua…” phản ánh sự bất công và nỗi buồn thân phận của người dân nghèo.

- Sự đổi đời tươi sáng từ khi có Bác và cách mạng

+ Cuộc sống được cải thiện rõ rệt:

“Bát cơm no tháng tám ngày ba”, “cơm thơm ăn với cá kho”

Hình ảnh giản dị, đời thường nhưng chứa chan niềm vui của no đủ.

+ Sự chuyển mình về tinh thần, tri thức, và xã hội:

Có quần áo, có hội xuân, có lớp học bình dân

“Người thêm khôn, đất mọc thêm hoa”: cuộc sống phát triển cả vật chất và tinh thần.

Niềm vui lan tỏa khắp núi rừng: “Chim khôn chim múa chim ca”.

- Tình cảm biết ơn sâu sắc và niềm hạnh phúc lớn lao

+ Lòng biết ơn Bác Hồ chân thành, xúc động:

“Công đức Bác Hồ, bản nhớ nghìn năm”

So sánh cảm động: “Bản em có Bác như nhà có trăng”

+ Tình quân dân gắn bó, hòa quyện:

Cảnh “nấu bữa cơm thường” để “thết anh cán bộ” thể hiện sự trân quý, lòng hiếu khách và biết ơn người cách mạng.

* Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

+ Bài thơ thể hiện sinh động quá trình đổi đời của đồng bào dân tộc thiểu số dưới ánh sáng cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ.

+ Ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, giọng thơ chân thành gợi nhiều xúc cảm.

- Liên hệ bản thân:

+ Bài thơ gợi nhắc thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng những gì đang có, biết ơn những người đã hi sinh vì độc lập – tự do – ấm no cho dân tộc.

Bài văn tham khảo

Bữa cơm thường trong bản nhỏ là một bài thơ giản dị nhưng đầy cảm xúc của nhà thơ Chế Lan Viên, được sáng tác vào tháng 5 năm 1954 – thời điểm chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội đang làm rung chuyển cả đất nước. Bài thơ không chỉ là lời tri ân tha thiết gửi đến Bác Hồ và cách mạng, mà còn là một bản ghi chép chân thực, xúc động về sự đổi đời của đồng bào miền núi sau khi ánh sáng cách mạng soi rọi tới từng khe suối, đỉnh đồi.

Mở đầu bài thơ là khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp nhưng đượm buồn. Trong bức tranh ấy, cuộc sống của người dân hiện lên kham khổ, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần: “Đời em như cỏ héo tứ mùa”. Câu thơ ngắn nhưng hàm chứa cả một kiếp người đói nghèo, cam chịu. Cảnh vật thì heo hút, cô liêu: “Người vắng qua, chim tới chim lui”, đến vui buồn cũng phải tự tìm lấy bằng việc “nhặt trái sim rơi”. Thức ăn chỉ là “bới củ thay cơm”, “đọt măng nguồn thay khoai”. Những hình ảnh đó khiến ta xót xa trước hoàn cảnh cơ cực, lam lũ của những con người nơi rừng sâu núi thẳm, và cũng cho thấy tấm lòng cảm thông sâu sắc của tác giả.

Thế nhưng, từ khi có cách mạng, có Bác Hồ, cuộc sống của bản nhỏ như bừng sáng. Tác giả gọi sự thay đổi ấy là một “cuộc đời chợt sáng”, mang đến “bát cơm no tháng tám ngày ba”, “cơm thơm ăn với cá kho”. Những hình ảnh mộc mạc, dân dã ấy chính là minh chứng rõ rệt nhất cho hạnh phúc giản dị của người dân khi được no đủ. Không chỉ là bữa ăn, đó còn là sự đổi thay toàn diện: có áo quần, có hội xuân, có lớp học, có kiến thức, có mùa màng trù phú. “Người thêm khôn, đất mọc thêm hoa” là cách nói đầy hình ảnh để diễn tả sự thay da đổi thịt của một vùng quê nghèo nhờ vào ánh sáng cách mạng và sự lãnh đạo của Bác.

Xuyên suốt bài thơ là tình cảm biết ơn sâu sắc và chân thành dành cho Bác Hồ. Hình ảnh “bản em có Bác như nhà có trăng” là một so sánh đẹp và cảm động, thể hiện vai trò to lớn của Bác trong cuộc sống của người dân – như vầng trăng chiếu sáng đêm tối, mang lại ấm áp và hy vọng. Càng xúc động hơn khi người dân “nấu bữa cơm thường” để “thết anh cán bộ lên mường giúp dân” – một bữa cơm không phải cao lương mỹ vị, nhưng đầy ắp tình nghĩa, là biểu tượng của tình quân dân keo sơn, thắm thiết.

Với lời thơ dung dị, hình ảnh đời thường mà giàu sức gợi, Chế Lan Viên đã viết nên một bản tình ca sâu lắng về sự đổi đời, về lòng biết ơn và về niềm hạnh phúc giản đơn của những con người từng đói khổ. Bài thơ không chỉ là một khúc ca chiến thắng, mà còn là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay hãy trân trọng những gì mình đang có, giữ gìn những giá trị mà cha ông đã hi sinh để giành lại, và sống xứng đáng với tình thương yêu mà Bác Hồ đã dành cho nhân dân suốt cuộc đời.