Giải VTH Ngữ Văn 8 CTST Đề đền Sầm Nghi Đống (Hồ Xuân Hương) có đáp án
7 câu hỏi
Theo em, khi đến những ngôi đền, người ta thường có thái độ:
Khi đến những ngôi đền, người ta thường có thái độ: thành kính, trang nghiêm, ăn mặc kín đáo.
Câu hỏi | Câu trả lời của em | Cách em thực hiện kĩ năng đọc |
Kĩ năng đọc: Suy luận Em hiểu thế nào về câu thơ cuối? |
|
|
Câu hỏi | Câu trả lời của em | Cách em thực hiện kĩ năng đọc |
Kĩ năng đọc: Suy luận Em hiểu thế nào về câu thơ cuối? | Câu thơ châm biếm nhắc lại cái chết nhục nhã, hèn nhát của tên tướng giặc phương Bắc. | Đọc văn bản và rút ra kết luận |
Từ ngữ thể hiện thái độ của tác giả bài thơ khi đến đền Sầm Nghi Đống: ..............................................................
Hình ảnh thể hiện thái độ của tác giả khi đến đền Sầm Nghi Đồng: ..........................
=> Thái độ của tác giả là:
.....................................................................................................................................
Nguyên nhân của thái độ ấy là:
.....................................................................................................................................
- Từ ngữ, hình ảnh thể hiện thái độ của tác giả bài thơ khi đến đền Sầm Nghi Đống: ghé mắt trông ngang, kìa, cheo leo
=> Những từ ngữ, hình ảnh này đã tước bỏ hết tính chất thiêng liêng cần có của một ngôi đền, thể hiện thái độ của tác giả là: bất kính, xem thường và giễu cợt đối với kẻ xâm lược thất bại.
- Nguyên nhân của thái độ này: Sầm Nghi Đống là tướng theo Tôn Sĩ Nghị sang chiếm đóng thủ đô Đông Kinh (Thăng Long), giữ chức Thái thú, được giao trấn thủ đồn Ngọc Hồi. Sau khi Vua Quang Trung triệt phá đồn Ngọc Hồi vào tháng Giêng năm 1789, quân Thanh tan tác, Sầm Nghi Đống đành tự vẫn. Sau này, khi việc bang giao trở lại bình thường, Vua Quang Trung cho phép Hoa kiều ở Hà Nội lập đền thờ. Tuy nhiên, theo tác giả bài thơ, viên tướng bại trận này không xứng đáng được thờ trong đền.
Giả định của tác giả đưa ra trong hai câu thơ cuối:
.....................................................................................................................................
Giả định đó góp phần bộc lộ tác giả là một người:
.....................................................................................................................................
- Giả định của tác giả đưa ra trong hai câu thơ cuối: Nếu nhà thơ đổi phận làm trai được thì sự nghiệp anh hùng không ít ỏi, thất bại như Sầm Nghi Đống.
- Giả định đó góp phần bộc lộ tác giả tuy có mặc cảm thân phận nhưng không chịu an phận, có khát vọng lập nên sự nghiệp vẻ vang như đấng nam nhi. Bên cạnh đó, giả định này cũng bộc lộ sự coi thường đối với sự nghiệp của viên tướng bại trận Sầm Nghi Đống.
Thủ pháp trào phúng được sử dụng trong văn bản | Tác dụng của việc sử dụng những thủ pháp này |
|
|
Thủ pháp trào phúng được sử dụng trong văn bản | Tác dụng của việc sử dụng những thủ pháp này |
Thủ pháp nói giễu, thể hiện qua các từ ngữ, hình ảnh như: ghé mắt trông ngang, kìa, cheo leo, đây, há bấy nhiêu… | Góp phần bộc lộ thái độ xem thường, giễu cợt, mỉa mai của tác giả đối với Sầm Nghi Đống, đồng thời, bộc lộ cá tính, bản lĩnh và khát vọng thay đổi thân phận, lập nên sự nghiệp lẫy lừng với thân phận nữ nhi của Hồ Xuân Hương. |
Chủ đề của bài thơ: .....................................................................................................................................
Một số căn cứ giúp em xác định chủ đề:
.....................................................................................................................................
- Chủ đề của bài thơ: Thái độ bất kính, coi thường Sầm Nghi Đống, đồng thời thể hiện khát vọng bình đẳng nam – nữ của Hồ Xuân Hương.
- Căn cứ để xác định chủ đề: thái độ của tác giả khi đến đền Sầm Nghi Đống thể hiện qua hai câu thơ đầu và giả định của tác giả qua hai câu thơ cuối, thủ pháp nói giễu.
Thông qua bài thơ này, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp:
Thông qua bài thơ này, tác giả muốn gửi đến người đọc thông điệp: Phụ nữ có khả năng làm được nhiều việc không kém nam giới nếu được giải phóng khỏi các quy ước, ràng buộc của xã hội phong kiến, nam – nữ cần được bình đẳng để phụ nữ có cơ hội thể hiện tài năng.



