Giải SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức Bài 21: Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa có đáp án
Đề thi

Giải SGK Tiếng Việt 5 Kết nối tri thức Bài 21: Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa có đáp án

A
Admin
Tiếng ViệtLớp 598 lượt thi
12 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Kể tên một số người có đóng góp lớn lao trong lao động và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Xem đáp án

Một số người có đóng góp lớn lao trong lao động và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

+ Nguyễn Phúc Đồng, công nhân quân giới. Không ngừng cải tiến kỹ thuật, chăm đào tạo thợ trẻ, chiến sĩ thi đua 10 năm liền.

+ Nguyễn Văn Hợi, Tổ trưởng tổ đổi công, Kiến An. Gương mẫu vận động nhân dân vỡ hoang, chống hạn, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lúa.

+ Anh hùng Tô Vĩnh Diện (1924 – 1954) là chiến sĩ được trao tặng anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Lấy chính cơ thể mình chèn vào càng pháo, ghìm giữ không cho khẩu pháo cao xạ 37mm bị lăn xuống vực trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

+ Anh hùng Bế Văn Đàn (1931 – 1953) tham gia kháng chiến chống Pháp, lấy vai mình làm giá súng trong khi bản thân lại bị thương nặng ở ngực; anh dũng hi sinh khi quân thù bị đánh tan đội hình phản kích.

2. Tự luận
1 điểm

Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa

Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, quê ở tỉnh Vĩnh Long. Sau khi học xong bậc trung học ở Sài Gòn, năm 1935, ông được cấp học bổng sang Pháp học đại học. Ông đã theo học các ngành kĩ sư cầu cống, kĩ sư điện và kĩ sư hàng không. Ngoài ra, ông còn miệt mài nghiên cứu kĩ thuật chế tạo vũ khí.

Năm 1946, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Phạm Quang Lễ đã rời bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi ở nước ngoài, theo Bác Hồ về nước. Ông được Bác đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa và giao nhiệm vụ nghiên cứu chế tạo vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông đã cùng các đồng nghiệp chế tạo thành công những loại vũ khí có sức công phá lớn như súng ba-dô-ca, súng không giật, bom bay để tiêu diệt xe tăng và lô cốt của giặc. Bên cạnh những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp quốc phòng, Trần Đại Nghĩa còn có công lớn trong việc xây dựng nền khoa học trẻ tuổi của nước nhà.

Những cống hiến của Giáo sư Trần Đại Nghĩa được đánh giá cao. Năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng. Năm 1952, ông được tuyên dương Anh hùng Lao động. Ông còn được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý.

(Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam)

Dựa vào đoạn mở đầu của bài đọc, em hãy giới thiệu về Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa: (ảnh 1)

Dựa vào đoạn mở đầu của bài đọc, em hãy giới thiệu về Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa:

Dựa vào đoạn mở đầu của bài đọc, em hãy giới thiệu về Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa: (ảnh 2)

Xem đáp án

Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa tên khai sinh là Phạm Quang Lễ, quê ở tỉnh Vĩnh Long. Các ngành mà ông đã học là: kĩ sư cầu cống, kĩ sư điện và kĩ sư hàng không; ngoài ra ông còn miệt mài chế tạo vũ khí.

3. Tự luận
1 điểm

Việc ông Phạm Quang Lễ quyết định về nước vào năm 1946 nói lên điều gì?

Xem đáp án

Việc ông Phạm Quang Lễ quyết định về nước vào năm 1946 cho thấy ông không ham cuộc sống đầy đủ, bình yên nơi nước ngoài; ông lo lắng và sốt sắng cho quê hương ruột thịt đang bị giày phá bởi quân xâm lược, ông muốn góp công mình vào bảo vệ Tổ quốc.

4. Tự luận
1 điểm

Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã có những đóng góp gì cho đất nước?

Xem đáp án

Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã có những đóng góp cho đất nước: chế tạo thành công những loại vũ khí có sức công phá lớn như súng ba-dô-ca, súng không giật, bom bay để tiêu diệt xe tăng và lô cốt của giặc; có công lớn trong việc xây dựng nền khoa học trẻ tuổi của nước nhà.

5. Tự luận
1 điểm

Nhà nước đã đánh giá công lao của Giáo sư Trần Đại Nghĩa như thế nào?

Xem đáp án

Nhà nước đã đánh giá cao công lao của Giáo sư Trần Đại Nghĩa. Vì vậy, ông được phong quân hàm Thiếu tướng vào năm 1948; được tuyên dương Anh hùng Lao động vào năm 1952; được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý.

6. Tự luận
1 điểm

Nêu chủ đề của bài đọc.

Xem đáp án

Chủ đề của bài đọc: Lòng yêu nước trong mỗi người Việt Nam; Quê hương luôn được đặt lên hàng đầu, hơn mọi mục tiêu và lí tưởng cá nhân.

7. Tự luận
1 điểm

Tìm câu ghép trong mỗi đoạn văn dưới đây:

   a. (1) Bắc Giang để lại cho tôi ấn tượng về cảnh sắc miền trung du đầy thú vị. (2) Những ngọn đồi thoai thoải, ngọn nọ gối lên ngọn kia. (3) Con đường mòn son đỏ quanh co, ẩn hiện trên triền đồi. (4) Những cây khế rừng lúc lỉu chùm quả chát chát chua chua, những cây mâm xôi chi chít quả đó chót, ngọt lịm.

(Theo Trần Hoài Dương)

 

   b. (1) Trên đảo, mỗi ngày trẻ em đều nô nức tới trường. (2) Vùng đảo thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió có bao nhiêu điều đặc biệt thì các em cũng có bấy nhiêu trải nghiệm thú vị. (3) Sau những giờ học ở trường, các em cùng thầy giáo đi bơi, đi câu cá,... (4) Hễ trò gặp bài toán nào khó thì chúng lập tức chạy ngay qua nhà thầy. (5) Chúng thường được thầy giảng giải cho rất kĩ lưỡng. (6) Môi trường học trên đảo chỉ có hai thầy giáo và các thầy kiêm quản từ lớp Một đến lớp Năm.

(Bùi Tiểu Quyên)

Xem đáp án

Câu ghép trong mỗi đoạn văn là:

a. Những cây khế rừng lúc lỉu chùm quả chát chát chua chua, những cây mâm xôi chi chít quả đó chót, ngọt lịm.

b. Vùng đảo thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió có bao nhiêu điều đặc biệt thì các em cũng có bấy nhiêu trải nghiệm thú vị.

Môi trường học trên đảo chỉ có hai thầy giáo và các thầy kiêm quản từ lớp Một đến lớp Năm.

8. Tự luận
1 điểm

Xếp các câu ghép tìm được ở bài tập 1 vào nhóm thích hợp.

Xếp các câu ghép tìm được ở bài tập 1 vào nhóm thích hợp. (ảnh 1)

Xem đáp án

Các vế câu ghép được nối trực tiếp với nhau

Các vế câu ghép được nối với nhau bằng
kết từ

Các vế câu ghép được nối với nhau bằng
cặp từ hô ứng

Những cây khế rừng lúc lỉu chùm quả chát chát chua chua, những cây mâm xôi chi chít quả đó chót, ngọt lịm.

Môi trường học trên đảo chỉ có hai thầy giáo và các thầy kiêm quản từ lớp Một đến lớp Năm.

Vùng đảo thiêng liêng nơi đầu sóng ngọn gió có bao nhiêu điều đặc biệt thì các em cũng có bấy nhiêu trải nghiệm thú vị.

9. Tự luận
1 điểm

Đặt 1 – 2 câu ghép nêu ý kiến của em về việc giữ gìn lớp học sạch, đẹp. Xác định các vế trong câu ghép em vừa đặt.

Xem đáp án

Lớp học càng sạch, đẹp thì học sinh càng khoẻ mạnh, tập trung học tập.

Các vế trong câu ghép em vừa đặt là:

+ Vế 1: Lớp học càng sạch, đẹp

+ Vế 2: Học sinh càng khoẻ mạnh, tập trung học tập.

10. Tự luận
1 điểm

Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:

Đề 1: Viết đoạn văn nêu ý kiến tán thành hoạt động ủng hộ, giúp đỡ các bạn học sinh vùng thiên tai.

Đề 2: Viết đoạn văn nêu ý kiến tán thành phong trào trồng và bảo vệ cây xanh.

Viết.

Lưu ý:

– Nêu rõ ý kiến tán thành.

– Trình bày được lí do vì sao tán thành.

– Chọn được dẫn chứng để tăng sức thuyết phục cho lí do mình đưa ra.

Một số từ ngữ giúp em thể hiện ý kiến tán thành: tán thành, ủng hộ quan điểm, hoàn toàn đồng ý, rất xác đáng, hoàn toàn đồng tình,…

Xem đáp án

Học sinh tự viết theo lưu ý đã cho sẵn

11. Tự luận
1 điểm

Tự nhận xét bài làm của em theo yêu cầu dưới đây:

– Đoạn văn có sử dụng được từ ngữ thể hiện rõ ý kiến tán thành không?

– Lí do tán thành có sức thuyết phục không?

– Dẫn chứng có phù hợp với lí do không?

Xem đáp án

Em tự nhận xét bài làm của em theo các yêu cầu trong sách giáo khoa gợi ý và sửa bài (nếu cần)

12. Tự luận
1 điểm

Tìm đọc bài ca dao hoặc bài thơ về quê hương, đất nước (ca ngợi những người có công xây dựng, bảo vệ đất nước hoặc bày tỏ tình yêu, niềm tự hào với vẻ đẹp của quê hương).

Xem đáp án

1. Bài thơ “Vẽ quê hương”

“Bút chì xanh đỏ

Em gọt hai đầu

Em thử hai màu

Xanh tươi, đỏ thắm

Em vẽ làng xóm

Tre xanh, lúa xanh

Sông máng lượn quanh

Một dòng xanh mát

Trời mây bát ngát

Xanh ngắt mùa thu

Xanh màu ước mơ…

 

Em quay đầu đỏ

Vẽ nhà em ở

Ngói mới đỏ tươi

Trường học trên đồi

Em tô đỏ thắm

Cây gạo đầu xóm

Hoa nở chói ngời

A, nắng lên rồi

Lá cờ Tổ quốc

Bay giữa trời xanh…

 

Chị ơi bức tranh

Quê ta đẹp quá!”

                     (Định Hải)

2. Bài thơ “Hạt gạo làng ta”

“Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay…

 

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy…”

                                (Trần Đăng Khoa)

3. Bài thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không…”

                                                     (Sưu tầm)