Giải SBT Văn 8 KNTT Ôn tập học kì I có đáp án
12 câu hỏi
TỰ TÌNH
(II)
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trợ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con.
(Hồ Xuân Hương, dẫn theo Lê Trí Viễn – Lê Xuân Lít – Nguyễn Đức Quyền, Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, NXB Giáo dục, 1999, tr. 4)
Dòng nào sau đây KHÔNG có tác dụng giúp em xác định thể thơ của bài thơ Tự tình (II)?
A. Số câu trong bài thơ và số chữ trong từng câu thơ
B. Cách hiệp vẫn theo quy định mà bài thơ đã thể hiện
C. Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh của bài thơ
D. Quy định về thanh điệu của một số tiếng trong các câu thơ
Đáp án C
Phép đối được sử dụng ở những câu thơ nào của bài thơ?
A. Câu 1 – 2 và câu 3 – 4
B. Câu 3 – 4 và câu 5 – 6
C. Câu 5 – 6 và câu 7 – 8
D. Câu 4 – 5 và câu 6 – 7
Đáp án B
Xác định cảm hứng chủ đạo của bài thơ và cho biết dựa vào đâu emxác định như vậy.
Nỗi cô đơn, sự bẽ bàng về duyên phận hẩm hiu khi tuổi xuân thể dựa vào một số yếu tố sau: đang qua – đó là cảm hứng chủ đạo của bài thơ. Để xác định điều này, ta có
– Thời gian: đêm khuya; tiếng trống sang canh như thể hiện sự hối thúc của thời gian; xuân qua rồi xuân lại tới như một sự trêu ngươi.
– Thiên nhiên: trăng khuyết chưa tròn như biểu tượng về sự không viên mãn của số phận; những hình ảnh gây cảm giác bất an (rêu thì xiên ngang mặt đất, đá thì đâm toạc chân mây).
– Ý thức về bản thân: trợ cái hồng nhan, ngán cho số phận, cho tình duyên bèo bọt (Mảnh tình san sẻ tí con con).
Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ và nét độc đáo của hình ảnhthơ được sử dụng ở hai câu thơ:
Xiên ngang mặt đất rêu từng đảm,
Đâm toạc chân mây đả mấy hòn.
Ở hai câu luận, tác giả sử dụng rất đắt biện pháp tu từ đảo ngữ. Theo cấu trúc thông thường, chủ ngữ đứng trước vị ngữ: Từng đám rêu xiên ngang mặt đất; Mấy hòn đá đâm toạc chân mây. Ở đây, do yêu cầu về ngữ âm của thơ Đường luật và yêu cầu biểu đạt, tác giả đã đảo vị trí hai thành phần câu (vị ngữ đứng trước chủ ngữ). Biện pháp tu từ đảo ngữ được sử dụng trong câu thơ có tác dụng nhấn mạnh cái ngang ngạnh, phá phách, gây sự của rêu, của đá, gây bất thường, bất an. Những hình ảnh thiên nhiên có tính chất đặc biệt như thế là kết quả của cái nhìn đầy chủ quan, với một tâm trạng ngổn ngang trăm nỗi của chủ thể trữ tình.
Nêu cách hiểu của em về từ tự tình được tác giả dùng làm nhan đề bài thơ. Tính chất tự tình thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Tự tình có nghĩa là giãi bày, bộc lộ tâm sự, tình cảm. Từ này được dùng làm nhan đề rất phù hợp với nội dung của bài thơ. Đọc lên, ta cảm nhận rất rõ những nỗi niềm u uất, buồn chán của chủ thể trữ tình. Nó thấm vào âm điệu và từng từ ngữ, hình ảnh trong bài thơ.
Những yếu tố nào sau đây giúp em xác định đoạn trên được trích từmột truyện lịch sử?
A. Xuất hiện nhân vật có thật trong lịch sử
B. Có lời kể và lời đối thoại của nhân vật
C. Có thời điểm lịch sử cụ thể được nhắc đến
D. Có những từ ngữ phù hợp với cuộc sống thời xưa
Đáp án A, C, D
Dòng nào sau đây khái quát đúng nội dung của đoạn trích?
A. Thái độ cung kính của Ngộ Vân khi gặp Nguyễn Trãi – một người lừng lẫytrong đời
B. Sự nể phục của Nguyễn Trãi trước Ngộ Vân – một nhà sư có kiến thứchơn người
C. Ca ngợi sư Ngộ Vân và Nguyễn Trãi – hai con người tài đức hiếm có một thời
D. Cơ duyên gặp gỡ và trở thành tri kỉ của nhau giữa sư Ngộ Vân và Nguyễn Trãi
Đáp án D
Đoạn trích nằm ở vị trí nào của tác phẩm? Dựa vào đâu em nhận biết được điều đó?
Đoạn trích nằm ở phần đầu của tác phẩm. Có hai dấu hiệu cơ bản giúp ta nhận biết điều đó. Thứ nhất, đoạn văn mở đầu có tính chất giới thiệu về nói dung sẽ triển khai ở các phần sau. Thứ hai, con số 1 đánh dấu phần đầu tiên củavăn bản.
Chỉ ra các từ ngữ xưng hô được sư Ngộ Vân và Nguyễn Trãi sử dụng khi đối thoại với nhau. Qua lời kể chuyện và cách xưng hô của hai nhân vật, em hiểu như thế nào về mối quan hệ giữa họ?
Khi đối thoại với nhau, sư Ngộ Vân tự xưng là bần tăng, gọi Nguyễn Trãi là tôn ông, ngài; Nguyễn Trãi tự xưng là Trãi này, tục khách, gọi Ngộ Vân là đại sư, ngài. Qua nội dung thể hiện ở lời kể chuyện và cách xưng hô của các nhân vật, ta biết rằng, quan hệ giữa sư Ngộ Vân và Nguyễn Trãi là quan hệ có tính chất xã giao ban đầu, cung kính tôn trọng nhau, nhưng qua lời đối thoại, sư Ngộ Văn biết được người đối thoại với mình chính là Nguyễn Trãi – một bậc đại thần có công với đất nước mà ông từng nghe tiếng tăm lừng lẫy. Nguyễn Trãi thì nhận thấy sư Ngộ Vân là một bậc cao minh đắc đạo, có “pháp nhãn tinh vi, nhìn thấu bản chất con người. Nhờ đó, dần dần họ trở thành tri kỉ của nhau.
Nêu cảm nhận của em về phẩm chất, nhân cách của nhân vật Nguyễn Trãi qua đoạn trích.
Lai lịch, phẩm chất và nhân cách của Nguyễn Trãi khi thì được miêu tả trực tiếp qua lời người kể chuyện (về Lệ Chi Viên, ông mặc áo vải thô, đi giầy có tìm hiểu dân tình); qua những lời đối thoại với sư Ngộ Vân (thái độ khiêm tốn, tôn trọng, cung kính). Đặc biệt, qua thái độ và cái nhìn của sư Ngộ Vận đối với Nguyễn Trãi, ta hiểu Nguyễn Trãi là người quyền quý cao sang nhưng hết sức giản dị và gần gũi, coi trọng tình người, đề cao thiện tâm, vượt lên trên mọi thứ sách vở. Đó là một con người vĩ đại.
Viết đoạn văn (khoảng 8 – 10 câu) thể hiện quan điểm của em về ý kiến: Nhiều vấn đề của cha ông trong quá khứ vẫn rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta hôm nay.
Để viết đoạn văn theo yêu cầu, em cần lưu ý mấy điểm sau:
– Xác định được các ý nhỏ cần triển khai bằng việc trả lời một số câu hỏi: Những vấn đề nào của cha ông trong quá khứ vẫn gần gũi với chúng ta hôm nay (Chẳng hạn: xây dựng và giữ gìn nền độc lập dân tộc; khát vọng hoà bình, hạnh phúc; cách trọng dụng nhân tài,...)? Cần có quan điểm như thế nào đối với những vấn đề như vậy? Có thể vận dụng được gì từ những bài học của quá khứcho cuộc sống hôm nay?
- Mỗi ý nhỏ có thể diễn đạt trong một, hai hoặc ba câu (chú ý số lượng câu củađoạn không vượt quá quy định).
- Lưu ý việc đặt câu chủ đề ở vị trí phù hợp để có đoạn văn diễn dịch, quy nạp hay
phối hợp theo dụng ý.
- Dùng phương tiện để liên kết các câu trong đoạn cho chặt chẽ.
Đây là đoạn văn nghị luận, vì vậy, cần sử dụng lí lẽ, bằng chứng phù hợp đểchứng minh cho quan điểm của em.
* Đoạn văn mẫu tham khảo:
Nhiều vấn đề của cha ông trong quá khứ vẫn rất gần gũi với cuộc sống của chúng ta hôm nay. Quả đúng như vậy, những nét đẹp đặc trưng trong quá khứ trải qua hàng ngàn năm đến nay vẫn còn hiện diện trong cuộc sống đời thường. Có thể kể đến như ý thức xây dựng và giữ gìn nền độc lập dân tộc hay khát vọng hòa bình, hạnh phúc, hoặc cũng có thể là cách trọng dụng nhân tài,... Lòng yêu nước từ bao đời nay vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua bao thời gian, bao thế hệ, trải qua bao thăng trầm của lịch sử dựng nước và giữ nước, đến ngày độc lập hòa bình như hôm nay, tinh thần ấy vẫn luôn hiện diện trong trái tim của bao người con đất Việt. Khát vọng hòa bình hạnh phúc vẫn luôn là ước mơ của bao lớp người,... Những gì mang giá trị đích thực sẽ vẫn luôn được trường tồn mãi. Lớp hệ hôm nay hãy biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị tốt đẹp ấy của cha ông để lại. Đồng thời không ngừng vươn lên, học tập, sáng tạo để phát triển hơn trong thời đại mới.
Có người đề xuất quy định cả nam và nữ đều phải mặc áo dài truyền thống nơi công sở. Hãy trình bày quan điểm của em về đề xuất trên.
- Trước hết, cần xác định quan điểm của bản thân (tán thành hay phản đối đề xuất quy định cả nam và nữ đều phải mặc áo dài truyền thống nơi công sở).
+ Nếu tán thành, cần đặt các câu hỏi và trả lời để tìm ý, lập dàn ý, chẳng hạn: Áo dài truyền thống có những nét đẹp nào? Những nét đẹp đó cần duy trì ở những phạm vi nào? Vì sao quy định cả nam và nữ đều phải mặc áo dài truyền thống nơi công sở là hợp lí?
+ Nếu phản bác, cần đặt một số câu hỏi có tính chất phản biện và trả lời để tìm ý, lập dàn ý, ví dụ: Những nét đẹp của áo dài truyền thống cần duy trì ở những phạm vi nào thì hợp lí? Nét đẹp của áo dài truyền thống có hoàn toàn ưu trội so với các loại trang phục khác không? Quy định cả nam và nữ đều phải mặc áo dài truyền thống nơi công sở bất hợp lí ở chỗ nào?
– Từ dàn ý đã lập, tiến hành tập luyện trình bày ý kiến của mình trong nhóm, nhận xét và góp ý cho nhau trong tư cách người nói và người nghe.
