Giải SBT Sinh học 12 Chân trời sáng tạo Bài 2: Thực hành tách chiết DNA có đáp án
Đề thi

Giải SBT Sinh học 12 Chân trời sáng tạo Bài 2: Thực hành tách chiết DNA có đáp án

A
Admin
Sinh họcLớp 1259 lượt thi
7 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Ở tế bào nhân thực, DNA tồn tại trong cấu trúc nào sau đây?

A. Lưới nội chất hạt.

B. Lưới nội chất trơn.

C. Nhân tế bào.

D. Lysosome.

Xem đáp án

Đáp án đúng là:C

Ở tế bào nhân thực, DNA tồn tại chủ yếu trong nhân tế bào và một số ít tồn tại trong các bào quan ngoài nhân như ti thể, lục lạp.

2. Tự luận
1 điểm

Để tách chiết DNA ra khỏi tế bào, người ta cần phá bỏ

A. nhân tế bào và lưới nội chất.

B. màng nhân và màng sinh chất.

C. ti thể và lục lạp.

D. ribosome và peroxisome.

Xem đáp án

Đáp án đúng là:B

Ở tế bào nhân thực, DNA tồn tại chủ yếu trong nhân tế bào → Để tách chiết DNA ra khỏi tế bào, người ta cần phá bỏ màng nhân và màng sinh chất.

3. Tự luận
1 điểm

Hóa chất nào sau đây được sử dụng để kết tủa DNA?

A. Cồn ethanol 70%.

B. Diphenylamine.

C. Dịch chiết nước dứa.

D. Nước rửa bát.

Xem đáp án

Đáp án đúng là:A

Cồn ethanol 70% được sử dụng để kết tủa DNA, giúp tách DNA ra khỏi dung dịch chiết xuất. Do ethanol có ái lực với nước mạnh hơn với DNA nên khi cho cồn ethanol vào dịch chiết chứa DNA thì các phân tử DNA có xu hướng bị đẩy sát lại gần nhau và kết tụ lại với nhau dưới dạng vật chất có màu trắng đục.

4. Tự luận
1 điểm

Sau khi kết tủa DNA, người ta sử dụng hóa chất nào để kiểm tra sự có mặt của DNA?

A. Cồn ethanol 70%.    

B. Diphenylamine.    

C. Dịch chiết nước dứa.    

D. Nước rửa bát.

Xem đáp án

Đáp án đúng là: B

Sau khi kết tủa DNA, người ta sử dụng hóa chất diphenylamine để kiểm tra sự có mặt của DNA vì ở nhiệt độ cao, dung dịch diphenylamine tạo phức với DNA có màu xanh lam đặc trưng.

5. Tự luận
1 điểm

Trong quy trình tách chiết DNA, việc sử dụng nước chiết dứa và nước rửa bát có tác dụng

A. kết tủa DNA.                                                  

B. nhận biết DNA.

C. tách DNA ra khỏi nhân, ti thể hoặc lục lạp.        

D. loại bỏ các thành phần không mong muốn.

Xem đáp án

Đáp án đúng là: D

Trong quy trình tách chiết DNA, việc sử dụng nước chiết dứa và nước rửa bát có tác dụng loại bỏ các thành phần không mong muốn:

- Do DNA tồn tại trong nhân tế bào nên để tách chiết được DNA ra khỏi tế bào, cần phá vỡ mô để tách rời các tế bào và phá hủy thành tế bào bằng việc nghiền mẫu vật trong cối hoặc trong máy xay; phá hủy màng tế bào, màng nhân bằng các dung dịch tẩy rửa hòa tan lipid nhằm giải phóng dịch nhân tế bào vào dung dịch chiết xuất.

- Trong tế bào, DNA liên kết với nhiều protein (như histone, các protein điêu hòà và phiên mã), nên cần loại bỏ các protein bằng enzyme phân giải protein là protease (có trong nước ép dứa tươi) để phân cắt chuỗi polypeptide thành các amino acid đơn phân hoặc đoạn peptide nhỏ, dung dịch lúc này chỉ còn các đại phân tử DNA và RNA.

6. Tự luận
1 điểm

Để tách chiết DNA ra khỏi tế bào, người ta tiến hành các bước sau:

(1) Rót dịch chiết mô vào cốc thủy tinh, sau đó, cho thêm vào cốc thủy tinh 30 mL nước rửa bát (hỗn hợp A). Dùng đũa thuỷ tinh khuấy đều hỗn hợp A rồi để yên trong thời gian 10 - 15 phút.

(2) Dùng pipette hút 5 mL hỗn hợp A cho vào ống nghiệm, sau đó, cho thêm vào ống nghiệm 1 mL dịch chiết nước dứa (hỗn hợp B). Dùng đũa thủy tinh khuấy thật nhẹ hỗn hợp B rồi để yên ống nghiệm trên giá đỡ trong thời gian 30 phút.

a) Trong dịch chiết nước dứa có enzyme bromelain có tác dụng phân cắt protein thành các đoạn peptide nhỏ để loại protein ra khỏi DNA.

b) Nếu chỉ sử dụng dịch chiết nước dứa vẫn có thể tách được DNA ra khỏi tế bào một cách hiệu quả.

c) Việc sử dụng dịch chiết nước dứa và nước rửa bát có tác dụng phá huỷ màng nhân, màng sinh chất và thành tế bào.

d) Tuỳ theo mẫu vật được sử dụng, người ta có thể không cần sử dụng dịch chiết nước dứa.

Mỗi nhận định sau đây là đúng hay sai về quy trình trên?

Xem đáp án

Đáp án đúng là:a - Đ, b - S, c - S, d - Đ.

a) Đúng. Trong dịch chiết nước dứa có enzyme bromelain có tác dụng phân cắt protein thành các đoạn peptide nhỏ để loại protein ra khỏi DNA.

b) Sai. Dịch chiết nước dứa chỉ giúp loại protein ra khỏi DNA nên nếu chỉ dùng dịch chiết nước dứa thì sẽ không tách được DNA ra khỏi tế bào một cách hiệu quả. Ngoài dùng dịch chiết nước dứa, cần phá vỡ mô để tách rời các tế bào và phá hủy thành tế bào bằng việc nghiền mẫu vật trong cối hoặc trong máy xay; phá hủy màng tế bào, màng nhân bằng các dung dịch tẩy rửa hòa tan lipid nhằm giải phóng dịch nhân tế bào vào dung dịch chiết xuất; thu DNA bằng cách kết tủa DNA bằng ethanol.

c) Sai. Việc sử dụng nước rửa bát có tác dụng phá huỷ màng nhân, màng sinh chất; việc sử dụng nước ép dứa tươi để phân cắt chuỗi polypeptide thành các amino acid đơn phân hoặc đoạn peptide nhỏ; để phá hủy thành tế bào cần thực hiện các tác động cơ học (nghiền nhỏ mẫu).

d) Đúng. Tuỳ theo mẫu vật được sử dụng, người ta có thể không cần sử dụng dịch chiết nước dứa.

7. Tự luận
1 điểm

Tại sao dung dịch diphenylamine có thể được sử dụng để nhận biết sự có mặt của DNA?

Xem đáp án

Lời giải:

DNA phản ứng với diphenylamine dựa vào sự chuyển đổi của đường deoxyribose có trong phân tử DNA. Khi bị thủy phân ở nhiệt độ cao trong môi trường acid, deoxyribose chuyển thành hydroxylevulinyl aldehyde, phản ứng với diphenylamine tạo phức hợp màu xanh lam bền vững. Mức độ màu xanh lam tỉ lệ thuận với hàm lượng của DNA.