Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 6 NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU
23 câu hỏi
Ý tưởng, thông điệp trong văn bản có mối quan hệ với nhau như thế nào?
- Ý tưởng là những suy nghĩ, dự định, mục tiêu của người viết. Ý tưởng thường nảy sinh qua quá trình người viết trải nghiệm, quan sát, khám phá, trăn trở trước cuộc sống, từ đó thôi thúc ý định viết.
- Thông điệp là những ý tưởng quan trọng (bài học, tư tưởng, cách ứng xử…) được gửi gắm trong văn bản.
=> Ý tưởng và thông điệp có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ý tưởng là cơ sở để hình thành nên thông điệp, ý tưởng là cái có trước, từ đó được cụ thể hóa thành thông điệp gửi gắm trong văn bản.
Bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội là gì? Vì sao khi đọc hiểu văn bản, ta cần quan tâm đến bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội?
- Bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội là hoàn cảnh, điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội tại thời điểm văn bản ra đời giúp cho việc đọc hiểu văn bản được sâu sắc hơn; là bối cảnh tại thời điểm người đọc văn bản, tác động đến cách hiểu, cách suy nghĩ, cảm xúc của người đọc.
- Khi đọc hiểu văn bản, ta cần quan tâm đến bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội vì những yếu tố này sẽ giúp người đọc hiểu thêm về mục đích viết và nội dung của văn bản.
Những vấn đề toàn cầu nào đã được thể hiện trong các văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Bài phát biểu của Tổng thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu? Vấn đề em quan tâm nhất là gì? Vì sao?
Những vấn đề toàn cầu được thể hiện trong các văn bản là: Nguy cơ vũ khí hạt nhân (văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình); biến đổi khí hậu (văn bản Bài phát biểu của Tổng thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu); công dân toàn cầu và bản sắc dân tộc (văn bản Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu). Em trình bày vấn đề mà mình quan tâm nhất dựa trên quan điểm cá nhân và lí giải.
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI
PHÒNG CHỐNG AIDS, 01-12-2003
Cô-phi An-nan (Kofi Annan)
Cách đây hai năm, các quốc gia trên thế giới đã nhất trí rằng để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS, cần phải có sự cam kết, nguồn lực và hành động. Tại phiên họp đặc biệt vào năm 2001 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS, các quốc gia đã nhất trí thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS, trong đó đưa ra một loạt mục tiêu cụ thể kèm theo thời hạn để chiến đấu chống lại dịch bệnh này.
Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế.
Đến thời điểm này, ngân sách dành cho phòng chống HIV đã được tăng lên một cách đáng kể, nhờ vào sự cam kết đóng góp tại từng quốc gia. Đồng thời, vấn đề thành lập Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét cũng đã được thông qua. Đại đa số các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS của mình. Ngày càng có nhiều công ty áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc. Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng đã luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS, hiện đang hoạt động tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức khác để cùng nhau ứng phó với bệnh dịch này.
Nhưng cũng chính lúc này, dịch HIV/ AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV. Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng. HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới. Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi U-ran (Ural) đến Thái Bình Dương.
Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV|AIDS. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa trẻ sơ sinh bị nhiễm; và lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi. Với tiến độ như hiện nay, chúng ta không đạt được bất kì mục tiêu nào vào năm 2005.
Rõ ràng, chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết. Chúng ta không thể tuyên bố rằng những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn và cấp bách hơn. Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình.
Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được đến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn diễn ra đối với những người nhiễm HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào chắn ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.
Nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/ AIDS. Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này.
Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV / AIDS bắt đầu từ chính các bạn.
(In trong Ngữ văn 12, tập một, Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên),
NXB Giáo dục, 2009)
a. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Em ấn tượng với lí lẽ, bằng chứng nào nhất?
b. Em có tán thành với ý kiến: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết” không? Vì sao? Từ đó, em có nhận xét gì về những giải pháp được nêu ở cuối văn bản?
c. Thông điệp gọi ra từ văn bản có còn ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay không? Tìm những ví dụ từ thực tế để làm sáng tỏ ý kiến của em.
d. Hãy thiết kế một sản phẩm truyền thông (bài báo, đoạn phim ngắn, infographic, tranh cổ động,...) để tuyên truyền về phòng chống phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV / AIDS.
a. Em vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản dựa vào gợi ý sau:
- Luận đề: Việc phòng chống HIV/AIDS.
- Luận điểm 1: Những hành động để đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS còn quá ít so với thực tế.
- Luận điểm 2: Những giải pháp cần thực hiện để đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS.
- Lí lẽ và bằng chứng: Học sinh tự xác định dựa vào hệ thống luận điểm. Trên cơ sở đó, học sinh trình bày về lí lẽ, bằng chứng mà bản thân ấn tượng nhất. Chú ý đến cách lí lẽ, bằng chứng ấy góp phần chứng minh cho luận điểm và làm sáng tỏ luận đề.

b.
- Em tán thành với ý kiến: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”. Vì AIDS không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của nó. Nếu chúng ta vẫn còn sự phân biệt đối xử, phân chia khái niệm “chúng ta” và “họ”, còn những dè dặt, vô cảm, thờ ơ thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng và không thể đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS.
- Nhận xét về những giải pháp được nêu ở cuối văn bản: Các giải pháp được nêu ở cuối văn bản xuất phát từ tình thế cấp bách trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS trên toàn cầu. Những giải pháp ấy cụ thể, khả thi và đề xuất hành động trên nhiều cấp độ: Cấp độ quản lí nhà nước (đưa AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự), cấp độ tâm thế, hành động, ứng xử của mỗi cá nhân trong cuộc sống hằng ngày (không phân biệt đối xử, không kì thị, vô cảm…)
c.
- Thông điệp được gợi ra từ văn bản: Hãy chung tay chống lại HIV/AIDS bằng các giải pháp thiết thực, đặc biệt qua việc chống phân biệt đối xử với người nhiễm bệnh. Thông điệp vẫn có ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay vì căn bệnh thế kỉ mang tên HIV/AIDS vẫn đang tồn tại, trở thành mối lo âu của con người; việc kì thị những người mắc HIV/AIDS vẫn tồn tại trong cộng đồng của chúng ta.
- Ví dụ:
Người nhiễm HIV/AIDS có thể bị những người xung quanh xa lánh vì sợ lây nhiễm.
Người nhiễm HIV/AIDS bị phân biệt đối xử: họ khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm hoặc có thể bị sa thải khi chẳng may mắc HIV/AIDS.
Nếu phải chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử thì người bệnh gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ cần có và quyền được kéo dài thời gian sống khỏe mạnh.
Việc chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV/AIDS là việc làm cần thiết để ngày càng có nhiều người nhiễm HIV được tiếp cận chăm sóc, điều trị và tham gia xây dựng cuộc sống không có HIV/AIDS.
d. Học sinh chọn sản phẩm truyền thông để lên ý tưởng thiết kế. Có thể trả lời một số câu hỏi: Phân biệt đối xử là gì? Vì sao không nên phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS? Những biện pháp nào giúp phòng chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS?
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
THÔNG ĐIỆP NHÂN NGÀY THẾ GIỚI
PHÒNG CHỐNG AIDS, 01-12-2003
Cô-phi An-nan (Kofi Annan)
Cách đây hai năm, các quốc gia trên thế giới đã nhất trí rằng để đánh bại căn bệnh HIV/AIDS, cần phải có sự cam kết, nguồn lực và hành động. Tại phiên họp đặc biệt vào năm 2001 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về HIV/AIDS, các quốc gia đã nhất trí thông qua Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV/AIDS, trong đó đưa ra một loạt mục tiêu cụ thể kèm theo thời hạn để chiến đấu chống lại dịch bệnh này.
Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế.
Đến thời điểm này, ngân sách dành cho phòng chống HIV đã được tăng lên một cách đáng kể, nhờ vào sự cam kết đóng góp tại từng quốc gia. Đồng thời, vấn đề thành lập Quỹ toàn cầu về phòng chống AIDS, lao và sốt rét cũng đã được thông qua. Đại đa số các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS của mình. Ngày càng có nhiều công ty áp dụng chính sách phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc. Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng đã luôn đi đầu trong cuộc chiến chống AIDS, hiện đang hoạt động tích cực trong việc phối hợp chặt chẽ với chính phủ và các tổ chức khác để cùng nhau ứng phó với bệnh dịch này.
Nhưng cũng chính lúc này, dịch HIV/ AIDS vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao trên thế giới và có rất ít dấu hiệu suy giảm. Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của một ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV. Ở những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất, tuổi thọ của người dân bị giảm sút nghiêm trọng. HIV/AIDS đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ. Giờ đây phụ nữ đã chiếm tới một nửa trong tổng số người nhiễm trên toàn thế giới. Bệnh dịch này đang lan rộng nhanh nhất ở chính những khu vực mà trước đây hầu như vẫn còn an toàn – đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á, từ dãy núi U-ran (Ural) đến Thái Bình Dương.
Chúng ta đã không hoàn thành được một số mục tiêu đề ra cho năm nay theo Tuyên bố về Cam kết phòng chống HIV|AIDS. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ tiêu đã đề ra cho năm 2005. Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa trẻ sơ sinh bị nhiễm; và lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi. Với tiến độ như hiện nay, chúng ta không đạt được bất kì mục tiêu nào vào năm 2005.
Rõ ràng, chúng ta phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện cam kết của mình bằng những nguồn lực và hành động cần thiết. Chúng ta không thể tuyên bố rằng những thách thức cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng hơn và cấp bách hơn. Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình.
Đó là lí do chúng ta phải công khai lên tiếng về AIDS. Dè dặt, từ chối đối mặt với sự thật không mấy dễ chịu này, hoặc vội vàng phán xét đồng loại của mình, chúng ta sẽ không đạt được đến độ hoàn thành các mục tiêu đề ra, thậm chí chúng ta còn bị chậm hơn nữa, nếu sự kì thị và phân biệt đối xử vẫn diễn ra đối với những người nhiễm HIV/AIDS. Hãy đừng để một ai đó có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào chắn ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết.
Nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS năm nay, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/ AIDS. Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này.
Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV / AIDS bắt đầu từ chính các bạn.
(In trong Ngữ văn 12, tập một, Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên),
NXB Giáo dục, 2009)
a. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Em ấn tượng với lí lẽ, bằng chứng nào nhất?
b. Em có tán thành với ý kiến: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết” không? Vì sao? Từ đó, em có nhận xét gì về những giải pháp được nêu ở cuối văn bản?
c. Thông điệp gọi ra từ văn bản có còn ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay không? Tìm những ví dụ từ thực tế để làm sáng tỏ ý kiến của em.
d. Hãy thiết kế một sản phẩm truyền thông (bài báo, đoạn phim ngắn, infographic, tranh cổ động,...) để tuyên truyền về phòng chống phân biệt đối xử đối với người nhiễm HIV / AIDS.
a. Em vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản dựa vào gợi ý sau:
- Luận đề: Việc phòng chống HIV/AIDS.
- Luận điểm 1: Những hành động để đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS còn quá ít so với thực tế.
- Luận điểm 2: Những giải pháp cần thực hiện để đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS.
- Lí lẽ và bằng chứng: Học sinh tự xác định dựa vào hệ thống luận điểm. Trên cơ sở đó, học sinh trình bày về lí lẽ, bằng chứng mà bản thân ấn tượng nhất. Chú ý đến cách lí lẽ, bằng chứng ấy góp phần chứng minh cho luận điểm và làm sáng tỏ luận đề.

b.
- Em tán thành với ý kiến: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”. Vì AIDS không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của nó. Nếu chúng ta vẫn còn sự phân biệt đối xử, phân chia khái niệm “chúng ta” và “họ”, còn những dè dặt, vô cảm, thờ ơ thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng và không thể đẩy lùi căn bệnh HIV/AIDS.
- Nhận xét về những giải pháp được nêu ở cuối văn bản: Các giải pháp được nêu ở cuối văn bản xuất phát từ tình thế cấp bách trong cuộc chiến chống lại HIV/AIDS trên toàn cầu. Những giải pháp ấy cụ thể, khả thi và đề xuất hành động trên nhiều cấp độ: Cấp độ quản lí nhà nước (đưa AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự), cấp độ tâm thế, hành động, ứng xử của mỗi cá nhân trong cuộc sống hằng ngày (không phân biệt đối xử, không kì thị, vô cảm…)
c.
- Thông điệp được gợi ra từ văn bản: Hãy chung tay chống lại HIV/AIDS bằng các giải pháp thiết thực, đặc biệt qua việc chống phân biệt đối xử với người nhiễm bệnh. Thông điệp vẫn có ý nghĩa đối với cuộc sống hôm nay vì căn bệnh thế kỉ mang tên HIV/AIDS vẫn đang tồn tại, trở thành mối lo âu của con người; việc kì thị những người mắc HIV/AIDS vẫn tồn tại trong cộng đồng của chúng ta.
- Ví dụ:
Người nhiễm HIV/AIDS có thể bị những người xung quanh xa lánh vì sợ lây nhiễm.
Người nhiễm HIV/AIDS bị phân biệt đối xử: họ khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm hoặc có thể bị sa thải khi chẳng may mắc HIV/AIDS.
Nếu phải chịu sự kỳ thị, phân biệt đối xử thì người bệnh gặp rất nhiều rào cản trong việc tiếp cận các dịch vụ cần có và quyền được kéo dài thời gian sống khỏe mạnh.
Việc chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với những người nhiễm HIV/AIDS là việc làm cần thiết để ngày càng có nhiều người nhiễm HIV được tiếp cận chăm sóc, điều trị và tham gia xây dựng cuộc sống không có HIV/AIDS.
d. Học sinh chọn sản phẩm truyền thông để lên ý tưởng thiết kế. Có thể trả lời một số câu hỏi: Phân biệt đối xử là gì? Vì sao không nên phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS? Những biện pháp nào giúp phòng chống phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS?
Trong thực tế giao tiếp, trường hợp nào cần lựa chọn câu đơn, trường hợp nào cần lựa chọn câu ghép?
Trong thực tế giao tiếp, chúng ta thường chọn câu đơn để biểu thị một phán đoán đơn và lựa chọn câu ghép để biểu thị một phán đoán phức hợp, thể hiện một quá trình tư duy và thông báo có tính chất phức hợp.
Dựa vào phương tiện nối giữa các vế, có thể chia câu ghép thành những loại nào? Với mỗi loại câu ghép, hãy cho một ví dụ minh hoạ.
Dựa vào phương tiện nối giữa các vế, có thể chia câu ghép thành hai loại: Câu ghép có từ ngữ liên kết và câu ghép không có từ ngữ liên kết (chỉ dùng dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu hai chấm (:) để ngăn cách các vế).
- Ví dụ câu ghép có từ ngữ liên kết: Mặc dù trời mưa to nhưng học sinh vẫn đi học đầy đủ.
- Ví dụ câu ghép không có từ ngữ liên kết: Chiếc xe đưa đón dừng hẳn, học sinh lần lượt bước xuống xe.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
(1) Các nước châu Âu là nơi nhất thể hoá gần như không có biên giới, nhưng người Đức và người Bỉ không bị lẫn vào nhau, người Hà Lan vẫn giữ được văn hoá riêng, các dân tộc không hề bị xoá nhoà. (2) Bên cạnh đó, mỗi một quốc gia cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người, nơi mà các thành viên không bao giờ gặp mặt trực tiếp hết tất cả những thành viên khác.
(Nam Lê – Như Ý, Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu)
a. Phân tích cấu trúc các câu trong đoạn trích trên, sau đó, cho biết câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép.
b. Nêu tác dụng của việc lựa chọn các kiểu câu (câu đơn, câu ghép) trong đoạn trích trên.
a. Phân tích cấu trúc ngữ pháp của các câu trong đoạn trích:
(1) Các nước châu Âu (CN 1) / là nơi nhất thể hoá gần như không có biên giới (VN 1), nhưng người Đức và người Bỉ (CN 2) / không bị lẫn vào nhau (VN 2), người Hà Lan (CN 3) / vẫn giữ được văn hoá riêng (VN 3), các dân tộc (CN4)/ không hề bị xoá nhoà (VN 4).
(2) Bên cạnh đó, mỗi một quốc gia (CN) / cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người (VN), nơi mà các thành viên không bao giờ gặp mặt trực tiếp hết tất cả những thành viên khác (thành phần phụ chú).
Câu (1) là câu ghép, câu (2) là câu đơn.
b. Tác dụng của việc lựa chọn các kiểu câu (câu đơn, câu ghép) trong đoạn trích:
Người viết lựa chọn kiểu câu ghép để viết câu (1) là phù hợp vì nó biểu thị được một nội dung phức hợp, cần đưa ra một số ví dụ để làm rõ ý châu Âu tuy là nơi nhất thể hoá hầu như không biên giới nhưng mỗi dân tộc sinh sống ở đó đều giữ được bản sắc văn hoá riêng. Câu (2) biểu thị một phán đoán đơn giản (mỗi một quốc gia cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người) nên người viết lựa chọn câu đơn là phù hợp.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
(1) Các nước châu Âu là nơi nhất thể hoá gần như không có biên giới, nhưng người Đức và người Bỉ không bị lẫn vào nhau, người Hà Lan vẫn giữ được văn hoá riêng, các dân tộc không hề bị xoá nhoà. (2) Bên cạnh đó, mỗi một quốc gia cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người, nơi mà các thành viên không bao giờ gặp mặt trực tiếp hết tất cả những thành viên khác.
(Nam Lê – Như Ý, Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu)
a. Phân tích cấu trúc các câu trong đoạn trích trên, sau đó, cho biết câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép.
b. Nêu tác dụng của việc lựa chọn các kiểu câu (câu đơn, câu ghép) trong đoạn trích trên.
a. Phân tích cấu trúc ngữ pháp của các câu trong đoạn trích:
(1) Các nước châu Âu (CN 1) / là nơi nhất thể hoá gần như không có biên giới (VN 1), nhưng người Đức và người Bỉ (CN 2) / không bị lẫn vào nhau (VN 2), người Hà Lan (CN 3) / vẫn giữ được văn hoá riêng (VN 3), các dân tộc (CN4)/ không hề bị xoá nhoà (VN 4).
(2) Bên cạnh đó, mỗi một quốc gia (CN) / cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người (VN), nơi mà các thành viên không bao giờ gặp mặt trực tiếp hết tất cả những thành viên khác (thành phần phụ chú).
Câu (1) là câu ghép, câu (2) là câu đơn.
b. Tác dụng của việc lựa chọn các kiểu câu (câu đơn, câu ghép) trong đoạn trích:
Người viết lựa chọn kiểu câu ghép để viết câu (1) là phù hợp vì nó biểu thị được một nội dung phức hợp, cần đưa ra một số ví dụ để làm rõ ý châu Âu tuy là nơi nhất thể hoá hầu như không biên giới nhưng mỗi dân tộc sinh sống ở đó đều giữ được bản sắc văn hoá riêng. Câu (2) biểu thị một phán đoán đơn giản (mỗi một quốc gia cũng chính là một cộng đồng rộng lớn đối với mọi người) nên người viết lựa chọn câu đơn là phù hợp.
Cho đoạn trích sau:
Các anh chị em thân mến, đã đến lúc chúng ta phải lên tiếng.
[...]
Chúng tôi kêu gọi tất cả các chính phủ hãy đảm bảo giáo dục bắt buộc miễn phí cho tất cả trẻ em trên toàn thế giới.
Chúng tôi kêu gọi tất cả các chính phủ hãy đấu tranh chống lại khủng bố và bạo lực, để bảo vệ trẻ em trước hung tàn và tổn hại.
Chúng tôi kêu gọi các quốc gia phát triển hãy hỗ trợ mở rộng cơ hội giáo dục cho trẻ em gái ở các nước đang phát triển.
(Ma-la-la Diu-sa-phdai (Malala Yousafzai),
Một cây bút và một quyển sách có thể thay đổi thế giới)
a. Nhận xét về cấu trúc của các câu in đậm trong đoạn trích trên.
b. Theo em, vì sao tác giả lựa chọn cấu trúc câu như vậy?
a. Nhận xét về cấu trúc của các câu in đậm trong đoạn trích: Các câu in đậm trong đoạn trích đều là câu đơn, có cấu trúc tương đồng (Chúng tôi kêu gọi...).
b. Tác giả lựa chọn cấu trúc câu như vậy nhằm nhấn mạnh lời kêu gọi, tác động mạnh vào tình cảm, nhận thức của người nghe, tạo sự liên kết chặt chẽ về mặt nội dung và hình thức cho đoạn trích.
Xác định phương tiện liên kết giữa các vế trong các câu ghép dưới đây. Nêu tác dụng của việc lựa chọn phương tiện liên kết này.
a. Các quốc gia giàu nhất chịu trách nhiệm nhiều nhất về khủng hoảng khí hậu, nhưng các quốc gia nghèo nhất, các dân tộc, cộng đồng dễ bị tổn hại lại phải nhận những tác động trước nhất và tồi tệ nhất.
(An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, Bài phát biểu của
Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu)
b. Nhưng dù cho tai hoạ có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích.
(G.G. Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)
c. Tuy vầng trăng đầy đặn, nhưng bầu trời vẫn bị lớp mây mỏng che phủ, cho nên không được sáng tỏ cho lắm.
(Chu Tự Thanh, Trăng sáng trên đầm sen)
a. Phương tiện liên kết giữa các vế trong câu ghép là kết từ “nhưng”. Tác dụng: Biểu thị quan hệ tương phản. Điều sắp nêu ra ở vế sau (các quốc gia nghèo nhất, các dân tộc, cộng đồng dễ bị tổn hại lại phải nhận những tác động trước nhất và tồi tệ nhất) tương phản với điều được gợi ra ở vế trước (Các quốc gia giàu nhất chịu trách nhiệm nhiều nhất về khủng hoảng khí hậu).
b. Phương tiện liên kết giữa các vế trong câu ghép là cặp kết từ “dù cho thì ...” biểu thị quan hệ giả thiết – kết quả. Vế câu biểu thị nội dung giả thiết là “tai hoạ có xảy ra”, vế câu biểu thị nội dung kết quả là “sự có mặt của chúng ta ở đây cũng không phải là vô ích”.
c. Phương tiện liên kết giữa các vế trong câu ghép:
- Cặp kết từ “tuy ... nhưng ...”: Biểu thị quan hệ tương phản.
- Kết từ “cho nên” (có thể xem là cặp kết từ “vì ... nên” đã bị lược bớt kết từ “vì”): Biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả (vì) bầu trời vẫn bị lớp mây mỏng che phủ, cho nên không được sáng tỏ cho lắm).
Lưu ý: Đây là loại câu ghép có nhiều tầng bậc. Cấu trúc của câu ghép này có thể được mô hình hoá như sau: Tuy A nhưng B (B có cấu tạo: (Vì) B1, cho nên B2).
A: vầng trăng đầy đặn
B: bầu trời vẫn bị lớp mây mỏng che phủ, cho nên không được sáng tỏ cho lắm.
B1: bầu trời vẫn bị lớp mây mỏng che phủ
B2: không được sáng tỏ cho lắm (CN trong cụm chủ ngữ – vị ngữ này bị rút gọn)
Tuy vầng trăng (CN 1) / đầy đặn (VN 1), nhưng (vì) bầu trời (CN 2) / vẫn bị lớp mây mỏng che phủ (VN 2), cho nên không được sáng tỏ cho lắm (VN3).
Bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết là gì? Trình bày yêu cầu và bố cục của kiểu bài này
* Bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết là kiểu bài nghị luận xã hội trong đó, người viết nêu lí lẽ, bằng chứng để phân tích một vấn đề cần giải quyết, từ đó, đưa ra những giải pháp khả thi, thuyết phục cho vấn đề.
* Yêu cầu và bố cục của kiểu bài này
- Yêu cầu:
+ Nội dung: xác định, phân tích được vấn đề cần giải quyết và đề xuất những giải pháp phù hợp, khả thi, thuyết phục.
+ Hình thức: lập luận chặt chẽ, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm; các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp theo trình tự hợp lí.
- Bố cục:
+ Mở bài: giới thiệu vấn đề cần giải quyết, tầm quan trọng của việc khắc phục, giải quyết vấn đề.
+ Thân bài: giải thích vấn đề cần giải quyết, phân tích vấn đề (thực trạng, nguyên nhân, tác hại) và đề xuất giải pháp khả thi, thuyết phục.
+ Kết bài: khẳng định lại ý kiến về tầm quan trọng của việc khắc phục, giải quyết vấn đề; nêu bài học cho bản thân (về suy nghĩ, hành động).
Khi trình bày giải pháp cho vấn đề, cần lưu ý điều gì để lập luận chặt chẽ, thuyết phục?
Khi trình bày giải pháp cho vấn đề, cần đưa ra giải pháp cụ thể, khả thi bằng cách trả lời các câu hỏi: Ai là người thực hiện? Thực hiện ra sao? Phương tiện để thực hiện là gì? Thực hiện trong bao lâu? Lộ trình thực hiện như thế nào?
Dùng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết để tự kiểm tra, đánh giá văn bản Những giải pháp khắc phục tình trạng tin giả trên mạng Internet trong sách giáo khoa. Từ đó, ghi lại kinh nghiệm bản thân rút ra khi viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết.
- Học sinh dùng bảng kiểm để tự kiểm tra, đánh giá bài viết trong sách giáo khoa, sau đó ghi lại những kinh nghiệm rút ra khi thực hiện bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết.
- Kinh nghiệm bản thân rút ra khi viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết.
+ Xác định rõ yêu cầu kiểu bài: bàn luận về vấn đề cần giải quyết và đề xuất được những giải pháp phù hợp, khả thi.
+ Lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, bằng chứng thuyết phục.
+ Bài viết phải đảm bảo bố cục 3 phần
Giả sử khu phố em phát động phong trào Khu phố văn hoá, kêu gọi mọi người đóng góp ý kiến để giúp cho khu phố văn minh, sạch đẹp hơn. Các ý tưởng, bài viết hay sẽ được đăng trên bảng tin khu phố.
Em hãy chọn một vấn đề cần giải quyết trong khu phố để viết bài văn nghị luận trình bày giải pháp khắc phục vấn đề ấy và gửi đến ban tổ chức.
Yêu cầu:
- Chọn được vấn đề cần giải quyết, thu hút được sự quan tâm của mọi người.
- Phân tích vấn đề và đưa ra giải pháp phù hợp.
- Luận điểm, lí lẽ, bằng chứng rõ ràng, thuyết phục, sắp xếp theo trình tự hợp lí.
Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết
Trả lời các câu hỏi: Đề tài bài viết là gì? Bài viết nhằm mục đích gì? Người đọc là ai? Họ mong chờ điều gì ở bài viết này? Từ đó, lựa chọn cách trình bày phù hợp, hiệu quả.
Với đề bài này, đề tài bài viết là một sự việc trong khu phố cần giải quyết. Em có thể chọn đề tài dựa vào những gợi ý sau:
- Hiện tượng bạo lực gia đình.
- Hiện tượng xả rác nơi công cộng.
- Tình trạng thiếu khu vui chơi an toàn cho trẻ em.
- …
Sau khi chọn được đề tài, em tiến hành thu thập tư liệu và lập bảng thống kê tư liệu.
Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
Em tiến hành tìm ý cho bài viết bằng cách trả lời các câu hỏi: Vấn đề cần phân tích là gì? Vấn đề đang diễn ra như thế nào? Nguyên nhân vấn đề do đâu? Vấn đề gây ra những tác hại gì? Những giải pháp nào cần thực hiện để triển khai vấn đề?
Em chọn lọc và sắp xếp các ý thành dàn ý hoàn chỉnh, dựa vào Tri thức về kiểu bài trong sách giáo khoa.
Bước 3: Viết bài
Từ dàn ý, em viết bài văn hoàn chỉnh, chú ý đảm bảo chính tả, diễn đạt. Có thể tham khảo Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết trước khi viết để đảm bảo bài viết đi đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu của kiểu bài.
Bài viết tham khảo:
Một trong những vấn đề nóng bức đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận là tình trạng vứt rác bừa bãi ra đường và nơi công cộng. Chúng ta thường dễ dàng nhìn thấy tình trạng này ở các nơi công cộng như bệnh viện, trường học và các danh lam thắng cảnh. Rác thải bị vứt ngổn ngang, từ loại mềm đến loại cứng, khiến không khí ôi thối và gây tổn hại cảnh quan.
Ngay cả trên các con đường có biển cấm đổ rác, chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp những đống rác nằm ngổn ngang, không phân loại, dù ở thành phố hay vùng quê. Nguyên nhân đầu tiên của tình trạng này là ý thức chưa tốt của người dân, họ tiện tay vứt rác mà không suy nghĩ rằng việc giữ gìn sạch sẽ nơi công cộng là trách nhiệm chung của mỗi người. Họ chỉ quan tâm đến việc tự bảo vệ môi trường riêng của họ mà không hề để ý đến tác động ô nhiễm môi trường.
Ngoài ra, nguyên nhân khách quan khác là thiếu hụt thùng rác ở nơi công cộng ở Việt Nam, không đáp ứng nhu cầu xả rác rất lớn của người dân, dẫn đến việc rác thải bị vứt bừa bãi. Hậu quả của tình trạng này là lượng rác thải tăng lên, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường trong bối cảnh ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Điều này gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cũng như làm mất đi vẻ đẹp của môi trường xung quanh và gây khó khăn cho nhân viên vệ sinh trong quá trình thu gom và xử lý rác thải.
Để khắc phục tình trạng này, mỗi cá nhân cần nhận thức tự giác, phân loại rác thải và đổ rác vào đúng nơi quy định khi ở các khu vực công cộng. Cần thiết lập biển báo hướng dẫn đổ rác thải, bố trí thùng rác hợp lí và áp dụng hình phạt thích đáng đối với những trường hợp vi phạm. Đồng thời, Nhà nước và các cấp quản lý cần tăng cường tuyên truyền về tác hại của rác thải và áp dụng biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với những người vi phạm.
Hành vi xả rác bừa bãi ra đường và nơi công cộng không chỉ là việc của cá nhân mà ảnh hưởng lớn đến môi trường và chất lượng cuộc sống chung của chúng ta. Hãy cùng nhau đóng góp dù chỉ là những việc nhỏ nhặt để giảm thiểu rác thải và trở thành những công dân có ích cho đất nước và xã hội.
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Đọc lại bài viết, dựa vào Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết để tự đánh giá và chỉnh sửa bài viết (nếu có). Ghi lại các kinh nghiệm bản thân thu nhận được để viết tốt hơn cho những lần sau.
Văn bản quảng cáo là gì? Kể tên một số dạng văn bản quảng cáo mà em biết.
Văn bản quảng cáo là kiểu văn bản kết hợp sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ nhằm thuyết phục người đọc, người xem sử dụng sản phẩm hoặc tham gia hoạt động.
Văn bản quảng cáo cần đáp ứng những yêu cầu nào về nội dung và cách thể hiện?
Văn bản quảng cáo cần đáp ứng những yêu cầu về nội dung và cách thể hiện:
- Nội dung: cung cấp thông tin về ưu điểm, giá trị của sản phẩm/ dịch vụ/ hoạt động qua kênh chữ, kênh hình.
- Cách thể hiện
+ Kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
+ Ngôn ngữ ngắn gọn, sử dụng kết hợp các cách thuyết phục người đọc, người xem như: sử dụng các từ ngữ có sắc thái nghĩa tích cực để khẳng định chất lượng, tính ưu việt của sản phẩm/ dịch vụ/ hoạt động.
+ Sơ đồ, hình ảnh, biểu tượng: có đường nét, màu sắc nổi bật, tác động mạnh đến thị giác, thính giác người đọc, người xem nhằm làm rõ tính ưu việt, hữu ích của sản phẩm/ dịch vụ/ hoạt động.
Một văn bản quảng cáo thường gồm những phần nào? Mục đích của từng phần là gì?
Một văn bản quảng cáo thường gồm 2 phần:
- Tiêu đề: giới thiệu khái quát sản phẩm/ dịch vụ/ hoạt động.
- Nội dung chính: cung cấp thông tin chi tiết về sản phẩm/ dịch vụ/ hoạt động bằng kênh chữ, kênh hình; nêu khẩu hiệu của sản phẩm/ dịch vụ hoặc thông điệp của hoạt động.
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

a. Văn bản này quảng cáo sản phẩm gì? Dựa vào đâu mà em biết?
b. Văn bản đã sử dụng những cách thể hiện nào để thuyết phục người đọc?
c. Kiểu chữ, cỡ chữ trong văn bản được sử dụng phối hợp như thế nào?
d. Em có nhận xét gì về tác dụng của việc sử dụng kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh minh hoạ trong văn bản?
đ. Theo em, văn bản đã đáp ứng yêu cầu của một tờ rơi như thế nào?
a. Văn bản quảng cáo sản phẩm Bút bi Thành Công. Cơ sở xác định: Tiêu đề và nội dung chính của văn bản.
b. Văn bản đã sử dụng những cách thể hiện để thuyết phục người đọc như: Kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh minh hoạ nổi bật, tác động đến thị giác của người đọc, người xem, nhằm làm rõ tính ưu việt của sản phẩm; sử dụng các từ ngữ có sắc thái nghĩa tích cực để khẳng định chất lượng, tính ưu việt của sản phẩm (thiết kế tối giản, tinh tế, dễ dàng cầm nắm, đầu bi nhỏ, mực ra đều, nét bút thanh mảnh, tốc độ viết nhanh), khơi gợi cảm xúc tích cực ở người tiêu dùng (đồng hành cùng ý tưởng của bạn, trợ thủ đắc lực khi cần diễn đạt ý tưởng); phối hợp các kiểu chữ, cỡ chữ, màu sắc đậm nhạt để thu hút người đọc, người xem.
c. Kiểu chữ, cỡ chữ trong văn bản được sử dụng phối hợp một cách phù hợp và hài hoà: Tiêu đề dùng chữ in hoa, cỡ lớn để thu hút sự chú ý; nội dung quảng cáo được trình bày bằng kiểu chữ, cỡ chữ thích hợp với kích cỡ của tờ rơi, dễ đọc; câu khẩu hiệu dùng chữ in hoa, cỡ to giúp người đọc, người xem khắc sâu giá trị của sản phẩm.
d. Tác dụng của việc sử dụng kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh minh hoạ trong văn bản: Góp phần biểu đạt nội dung quảng cáo; tác động mạnh đến thị giác của người đọc, người xem; làm tăng tính hấp dẫn, thu hút của văn bản.
đ. Văn bản đã đáp ứng yêu cầu về nội dung và cách thể hiện của một tờ rơi. Cơ sở khẳng định:
- Về nội dung: Cung cấp thông tin về ưu điểm, giá trị của sản phẩm Bút bi Thành Công.
- Về cách thể hiện: Xem lại câu trả lời ở các câu hỏi b, c, d.
Thực hiện đề bài sau:
Đề bài: Em muốn tham gia cuộc thi Nhà thiết kế quảng cáo siêu đẳng do trường tổ chức. Hãy thiết kế tờ rơi quảng cáo một sản phẩm mới hay một hoạt động sắp diễn ra, sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ để tham gia cuộc thi.
Bước 1: Chuẩn bị trước khi thiết kế
• Xác định sản phẩm mới hay hoạt động sắp diễn ra mà em muốn thiết kế tờ rơi quảng cáo để tham gia cuộc thi. Có thể chọn một trong các sản phẩm hoặc hoạt động dưới đây:
- Sản phẩm: Sách, văn phòng phẩm, cặp sách, đồng phục học sinh,...
- Hoạt động: Đọc sách đầu giờ, Lớn lên cùng sách, Nhà khoa học trẻ, Vui đón Trung thu,...
• Xác định mục đích của tờ rơi: Giới thiệu về sản phẩm mới hoặc hoạt động sắp diễn ra.
• Xác định đối tượng đọc tờ rơi để lựa chọn nội dung và cách trình bày phù hợp, (trong trường hợp này là ban giám khảo cuộc thi thiết kế văn bản quảng cáo, người xem,...).
• Thu thập các thông tin liên quan đến sản phẩm/ hoạt động: Đặc điểm của sản phẩm/ hoạt động, hình ảnh minh hoạ sản phẩm/ hoạt động,..
• Tham khảo thêm cách thiết kế tờ rơi trên Internet.
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
Tham khảo hướng dẫn tìm ý và lập dàn ý ở trong sách giáo khoa.
• Giả định em chọn thiết kế tờ rơi để quảng cáo sản phẩm máy tính đa năng dành cho học sinh của công ty X. Em tìm ý bằng cách trả lời những câu hỏi gợi ý sau:
- Sản phẩm muốn quảng cáo là sản phẩm thuộc dòng máy tính nào?
- Sản phẩm này có đặc điểm, tính năng nào nổi bật (dùng được cho các dạng toán nào, tốc độ tính toán ra sao, có ứng dụng gì mới, thiết kế thế nào,...)?
- Vì sao khách hàng nên mua/ sử dụng loại máy tính này (tốc độ giải nhanh, bộ nhớ nhiều, tính toán trực tiếp nhiều dạng toán, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép sử dụng,...)?
- Có thể mua loại máy tính này ở đâu (cửa hàng phân phối chính hãng, nhà sách,...)?
- Giá cả sản phẩm thế nào? Có chương trình khuyến mãi hay ưu đãi gì không?
- …
• Phác thảo nội dung quảng cáo (từ ngữ, hình ảnh,...).
• Sắp xếp tiêu đề, nội dung quảng cáo, hình ảnh minh hoạ và thông điệp theo trình tự phù hợp sao cho tác động mạnh nhất đến người đọc.
Bước 3: Thiết kế tờ rơi
• Sử dụng các phương tiện (giấy, bút, màu,...) hoặc ứng dụng phù hợp để thiết kế tờ rơi. Chú ý lựa chọn mẫu thiết kế phù hợp với sản phẩm (là máy tính đa năng dành cho học sinh), nội dung quảng cáo và dung lượng thông tin của tờ rơi.
• Sử dụng các cỡ chữ, kiểu chữ khác nhau, màu sắc tươi tắn, hài hoà.
• Từ ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, hình ảnh nên tập trung làm nổi bật tính năng, mẫu mã của sản phẩm, tránh phân tán sự chú ý của người đọc, người xem quảng cáo.
• Có thể bố trí nội dung quảng cáo trên các mặt tờ rơi dạng đơn, gấp đôi hoặc gấp ba.
• Chọn giấy vẽ/ giấy in có khổ giấy phù hợp, chất lượng cao để đảm bảo hiệu quả của tờ rơi.
Bài mẫu:
Khám Phá Hương Vị Đặc Biệt - Bánh Cuốn Cà Cuống Bạn đã từng nghe về món bánh cuốn nổi tiếng với hương vị độc đáo, không thể nhầm lẫn - Bánh Cuốn Cà Cuống? Hãy đến với chúng tôi và trải nghiệm món đặc sản truyền thống này, một sự kết hợp hoàn hảo giữa bánh cuốn mềm mịn và tinh dầu cà cuống thơm nồng, mang lại hương vị đặc trưng không thể cưỡng lại. Hương Vị Tinh Tế - Đậm Đà Khó Quên Bánh cuốn cà cuống không chỉ là một món ăn mà còn là một nghệ thuật ẩm thực. Lớp bánh mỏng, trắng mịn, được làm từ bột gạo tuyển chọn kỹ lưỡng, kết hợp với nhân thịt lợn băm nhuyễn, nấm mèo và hành phi thơm lừng. Đặc biệt, điểm nhấn của món ăn chính là tinh dầu cà cuống - một loại gia vị quý hiếm, tạo nên hương vị độc đáo, nồng nàn, và đầy mê hoặc. Bí Quyết Truyền Thống - Hương Vị Nguyên Bản Bánh cuốn cà cuống của chúng tôi được chế biến theo phương pháp truyền thống, giữ nguyên hương vị nguyên bản của món ăn xưa cũ. Mỗi chiếc bánh được cuốn tay tỉ mỉ, chăm chút từng chi tiết, từ việc chọn nguyên liệu tươi ngon, đến cách pha bột, tráng bánh và cuối cùng là cách dùng tinh dầu cà cuống sao cho vừa đủ để dậy lên mùi thơm đặc trưng. Dinh Dưỡng Cân Bằng - Thực Phẩm Lành Mạnh Không chỉ ngon miệng, bánh cuốn cà cuống còn là một món ăn lành mạnh, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng. Bột gạo giàu carbohydrate, nhân thịt cung cấp protein, nấm mèo bổ sung chất xơ và các vitamin thiết yếu. Tất cả hòa quyện tạo nên một bữa ăn bổ dưỡng và hấp dẫn. Thưởng Thức Món Ăn Độc Đáo - Đậm Đà Văn Hóa Việt Mỗi lần thưởng thức bánh cuốn cà cuống, bạn không chỉ cảm nhận được hương vị tuyệt vời mà còn như đang khám phá một phần văn hóa ẩm thực Việt Nam. Đây là cơ hội để bạn trải nghiệm một món ăn đặc sản, mang đậm hồn quê, được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đến Ngay Để Thưởng Thức - Đặt Hàng Tiện Lợi Hãy đến với cửa hàng của chúng tôi để thưởng thức bánh cuốn cà cuống ngay hôm nay. Chúng tôi cam kết mang đến cho bạn những chiếc bánh cuốn thơm ngon, chất lượng nhất. Nếu bạn không có thời gian đến trực tiếp, hãy đặt hàng qua hotline hoặc truy cập website của chúng tôi để đặt món. Chúng tôi sẽ giao hàng tận nơi, đảm bảo bánh đến tay bạn vẫn còn nóng hổi và thơm phức. Ưu Đãi Đặc Biệt - Dành Cho Bạn Nhanh tay đặt hàng ngay hôm nay để nhận được những ưu đãi đặc biệt. Chúng tôi luôn có những chương trình khuyến mãi hấp dẫn dành cho khách hàng thân thiết và những đơn hàng đầu tiên. ---------- Bánh Cuốn Cà Cuống - Hương Vị Đặc Sản, Tinh Hoa Ẩm Thực Đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món ăn độc đáo này. Hãy đến với chúng tôi và cảm nhận hương vị tuyệt vời của bánh cuốn cà cuống! [Thông tin liên hệ, địa chỉ và logo của cửa hàng]
|
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Sau khi thiết kế, cần đọc lại nội dung, xem lại hình thức trình bày của tờ rơi và chỉnh sửa dựa vào Bảng kiểm kĩ năng thiết kế tờ rơi quảng cáo một sản phẩm hay một hoạt động ở trong sách giáo khoa.
Thế nào là một vấn đề có tính thời sự?
Vấn đề có tính thời sự là vấn xảy ra trong xã hội, gây được sự quan tâm của nhiều người. Những vấn đề này thường liên quan đến các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa hoặc môi trường và có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng
Vẽ sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện bài trình bày về một sự việc có tính thời sự.

Thực hiện đề bài sau:
Đề bài:Trong buổi sinh hoạt cuối tuần, giáo viên chủ nhiệm lớp em tổ chức diễn đàn Văn hoá ứng xử học đường. Em hãy chọn một sự việc có tính thời sự liên quan đến văn hoá ứng xử học đường, chuẩn bị bài trình bày để tham gia diễn đàn.
Bước 1: Xác định đề tài, mục đích, không gian và thời gian nói
Đề tài của bài nói là một sự việc có tính thời sự liên quan đến vấn đề văn hoá ứng xử học đường. Em có thể tìm kiếm đề tài trên các kênh thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, Internet.
Xác định các thành tố giao tiếp liên quan đến bài nói bằng cách tự trả lời các câu hỏi: Mục đích nói là gì? Người nghe là ai? Bài nói sẽ được trình bày trong không gian nào? Thời gian trình bày bao lâu? Từ đó chọn cách nói phù hợp, hiệu quả.
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
Tìm ý bằng cách trả lời các câu hỏi:
- Sự việc mà em muốn trình bày là gì?
- Quan điểm của em về sự việc ấy ra sao?
- Em rút ra bài học gì từ sự việc?
Chọn lọc và sắp xếp ý thành dàn ý hoàn chỉnh. Đánh dấu các ý trọng tâm cần nhấn mạnh, dự kiến phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ hỗ trợ, các câu hỏi và ý kiến phản biện của người nghe để chuẩn bị câu trả lời.
Bước 3: Luyện tập, trình bày
Luyện tập nói trước gương hoặc luyện tập theo nhóm cho đến khi nắm chắc nội dung bài nói. Khi trình bày, cần tự tin, có sự tương tác tích cực với người nghe và bám sát nội dung bài nói đã chuẩn bị.
Sử dụng Bảng kiểm kĩ năng trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự ở phần Nói và nghe trong sách giáo khoa để tự đánh giá bài nói của bản thân và bài trình bày của các bạn cùng nhóm/ lớp.
Tham khảo:
Xin chào thầy cô và các bạn, hôm nay em sẽ trình bày về một sự việc có tính thời sự hiện nay, đó là vấn đề tình trạng sống ảo trong xã hội hiện đại.
Trong thời đại công nghệ số hiện nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích mà nó mang lại, hiện tượng "sống ảo" cũng đã và đang gây ra nhiều vấn đề đáng lo ngại trong văn hóa và xã hội. Sống ảo là thuật ngữ chỉ việc con người tạo ra một hình ảnh không thực tế về bản thân trên mạng xã hội, thường với mục đích thu hút sự chú ý, nhận được sự ngưỡng mộ và tán dương từ người khác.
Trước hết, sống ảo xuất phát từ nhu cầu khẳng định bản thân và mong muốn được công nhận. Mạng xã hội với những tính năng như lượt thích, bình luận, chia sẻ đã trở thành nơi để mọi người so sánh và cạnh tranh. Một bức ảnh đẹp, một status "hot" có thể mang lại hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lượt tương tác, khiến người đăng cảm thấy tự tin và hạnh phúc. Tuy nhiên, để đạt được điều này, nhiều người đã không ngần ngại sử dụng các công cụ chỉnh sửa hình ảnh, thậm chí dàn dựng các tình huống, tạo ra một cuộc sống hoàn hảo không có thực.
Hậu quả của hiện tượng sống ảo là rất nghiêm trọng. Trước hết, nó gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý con người. Khi phải liên tục duy trì một hình ảnh hoàn hảo trên mạng xã hội, nhiều người dễ rơi vào trạng thái lo âu, stress và mất tự tin vào bản thân thực sự của mình. Sự chênh lệch giữa "cuộc sống ảo" và "cuộc sống thật" có thể dẫn đến cảm giác tự ti, cô đơn và thậm chí là trầm cảm.
Bên cạnh đó, sống ảo còn làm suy giảm các mối quan hệ xã hội thực sự. Khi quá chú trọng vào việc xây dựng hình ảnh trên mạng, con người có xu hướng lơ là, thiếu quan tâm đến những người xung quanh và các mối quan hệ thực tế. Thay vì gặp gỡ, trò chuyện và chia sẻ trực tiếp, nhiều người lại chọn cách "giao tiếp" qua màn hình, dẫn đến sự xa cách và thiếu gắn kết trong gia đình, bạn bè và cộng đồng.
Ngoài ra, hiện tượng sống ảo cũng góp phần vào việc lan truyền các giá trị sai lệch trong xã hội. Những hình ảnh, video "ảo" có thể tạo ra các tiêu chuẩn không thực tế về vẻ đẹp, thành công và hạnh phúc. Điều này gây áp lực lên người xem, khiến họ cảm thấy mình kém cỏi và phải nỗ lực đạt được những điều không thể. Hậu quả là, xã hội ngày càng trở nên chạy theo hình thức, vật chất, và bỏ qua các giá trị tinh thần, đạo đức quan trọng.
Để giải quyết vấn đề sống ảo, cần có sự thay đổi từ cả cá nhân và xã hội. Trước hết, mỗi người cần nhận thức rõ ràng về giá trị thực sự của bản thân, không phụ thuộc vào sự công nhận ảo trên mạng xã hội. Chúng ta cần học cách yêu thương, tôn trọng chính mình và người khác, chấp nhận những điểm chưa hoàn hảo và cố gắng hoàn thiện bản thân mỗi ngày.
Gia đình và nhà trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục và định hướng cho giới trẻ về cách sử dụng mạng xã hội một cách lành mạnh. Cha mẹ và thầy cô cần truyền đạt cho các em những giá trị sống đúng đắn, giúp các em hiểu rằng cuộc sống không chỉ là những gì được thể hiện trên mạng xã hội. Đồng thời, cần khuyến khích các em tham gia vào các hoạt động xã hội, thể thao, văn hóa để phát triển toàn diện và có những trải nghiệm thực tế.
Xã hội và các cơ quan chức năng cũng cần có những biện pháp quản lý và kiểm soát việc sử dụng mạng xã hội. Các nền tảng mạng xã hội cần có trách nhiệm trong việc kiểm duyệt nội dung, ngăn chặn sự lan truyền của những thông tin sai lệch, độc hại. Đồng thời, cần có các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của sống ảo và cách sử dụng mạng xã hội một cách thông minh, lành mạnh.
Tóm lại, sống ảo là một hiện tượng tiêu cực đang ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa và xã hội. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự chung tay của cả cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội. Chỉ khi mỗi người biết cách cân bằng giữa cuộc sống thực và ảo, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội lành mạnh, gắn kết và phát triển bền vững.
Bài trình bày của em đến đây là kết thúc. Cảm ơn thầy cô và các bạn đã chú ý lắng nghe.

