Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 4. CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI KÌ ẢO
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 4. CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI KÌ ẢO

A
Admin
VănLớp 959 lượt thi
16 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Tìm từ ngữ/ khái niệm thích hợp điền vào chỗ trống và hoàn thành định nghĩa về truyện truyền kì.

Truyện truyền kì là một thể loại ……………..., phản ánh hiện thực qua những yếu tố ……………....

Xem đáp án

Truyện truyền kì là một thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại, phản ánh hiện thực qua những yếu tố kì lạ, hoang đường.

2. Tự luận
1 điểm

Nêu đặc điểm của không gian, thời gian, nhân vật, cốt truyện trong truyện truyền kì và đánh dấu vào ô có sử dụng yếu tố kì ảo để hoàn thành bảng sau.

Các yếu tố của truyện truyền kì

Đặc điểm

Có sử dụng yếu tố kì ảo

Không gian

 

 

Thời gian

 

 

Nhân vật

 

 

Cốt truyện

 

 

Xem đáp án

Các yếu tố của truyện truyền kì

Đặc điểm

Có sử dụng yếu tố kì ảo

Không gian

Không gian kì ảo: thế giới con người và thế giới thánh thần, ma, quỷ có sự tương giao.

X

Thời gian

Có sự khác biệt về thời gian ở cõi trần, cõi âm ti, thuỷ phủ hoặc nơi thượng giới (biểu hiện qua nhịp độ nhanh chậm của thời gian); con người có thể sống nhiều đời, nhiều cuộc đời hoặc sống nhờ các phép thuật kì ảo.

X

Nhân vật

Có thể là con người hay thần linh, ma, quỷ,...

X

Cốt truyện

Truyện truyền kì thường sử dụng yếu tố kì ảo tạo nên những biến đổi bất ngờ và hợp lí hoá những điều ngẫu nhiên, bất bình thường trong cốt truyện.

X

3. Tự luận
1 điểm

Phân tích tính cách của nhân vật Vũ Thị Thiết, Trương Sinh trong Chuyện người con gái Nam Xương và cho biết tính cách của nhân vật Trương Sinh đã góp phần làm nổi bật tính cách của Vũ Thị Thiết như thế nào.

Xem đáp án

* Vũ Thị Thiết, nhân vật chính trong truyện, là hiện thân cho người phụ nữ đẹp người, đẹp nết nhưng chịu oan khuất vô lí do thói ghen tuông mù quáng của người chồng trong xã hội cũ. Trương Sinh là hiện thân của người chồng trong xã hội nam quyền, hồ đồ, gây oan khiên, đau khổ cho người phụ nữ và tự mình làm tan vỡ hạnh phúc gia đình mình. Tính cách của nhân vật Trương Sinh góp phần làm nổi bật tính cách của nhân vật Vũ Thị Thiết.

Về các nét tính cách của nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh, em có thể phân tích theo gợi ý từ hai bảng sau:

Nhân vật Vũ Thị Thiết

Các biểu hiện của đặc điểm, tính cách

Chi tiết, hành động tiêu biểu

Tính cách

Qua lời giới thiệu: xinh đẹp, nết na.

“Tính đã thuỳ mị, nết na” lại thêm “tư dung tốt đẹp”.

Vũ Thị Thiết, nhân vật chính trong truyện, là hiện thân cho người phụ nữ đẹp người, đẹp nết nhưng chịu oan khuất vô lí do thói ghen tuông mù quáng của người chồng.

Qua hành động, việc làm trong hoàn cảnh chồng đi chinh chiến: Đảm đang, tận tình, chu đáo.

Phụng dưỡng mẹ chồng già yếu, bệnh tật; lo tang mẹ chu toàn khi về già; chăm nuôi con nhỏ khôn lớn,...

Qua sự ghen tuông, cách đối xử của Trương Sinh: người chịu oan khổ, thiệt thòi, bị đối xử tàn nhẫn, phải tìm đến cái chết.

– Chịu oan một bề, mọi lời phân trần (với Trương Sinh) đều vô hiệu.

– Phải kêu oan cùng trời đất (lời độc thoại, mình nói với mình, với trời đất).

– Phải tìm cái chết trên bến Hoàng Giang.

– Khi sự thật sáng tỏ thì đã quá muộn màng.

Qua lời mẹ chồng, hàng xóm và cuộc trở về trên dòng sông: độ lượng, nết na, được giải oan, nhưng vẫn phải sống ở thế giới khác.

– Mẹ chồng cảm kích, thấy nàng xứng đáng có cuộc sống tương lai hạnh phúc: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

– Hàng xóm bênh vực thanh minh giùm nàng; Linh Phi cứu nàng.

– Cuộc trở về trang trọng như một sự tôn vinh (cảnh tượng Vũ Thị hiển linh giữa dòng sông...).

 

 

Nhân vật Trương Sinh

Các biểu hiện của đặc điểm, tính cách

Chi tiết, hành động tiêu biểu

Tính cách

Qua lời giới thiệu nhân vật: thói ghen tuông ngờ vực.

Có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá mức.

Trương Sinh là hiện thân của người chồng trong xã hội nam quyền, ghen tuông mù quáng, hồ đồ, gây oan khiên, đau khổ cho người phụ nữ và tự mình làm tan vỡ hạnh phúc gia đình mình.

Qua cách đối xử với vợ sau khi đi chinh chiến về.

Chỉ nghe lời nói ngây thơ của đứa bé mà không tin lời giải thích của vợ, lời bênh vực vợ của hàng xóm.

Qua việc nhận biết sự thật và gặp vợ lần cuối.

Lập đàn giải oan cho vợ ở bến sông.

 

 * Tác phẩm văn học luôn có tính chỉnh thể nhằm tập trung thể hiện nội dung bao quát. Theo đó, các chi tiết, yếu tố, bộ phận, nhân vật trong tác phẩm luôn được đặt cạnh nhau nhằm tương tác, hỗ trợ nhau và khơi sâu chủ đề, tư tưởng, thông điệp của tác phẩm. Giữa nhân vật Vũ Thị Thiết và Trương Sinh cũng có sự tương tác, hỗ trợ như vậy. Tuy là nhân vật phụ nhưng tính cách của Trương Sinh đã góp phần làm nổi bật thêm cho tính cách, số phận của nàng Vũ Thị, theo quan hệ nhân (thói ghen tuông mù quáng, gia trưởng của Trương) – quả (nỗi oan khuất, số phận bất hạnh của Vũ Thị).

Ví dụ:

– Qua lời giới thiệu dự báo: “tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” ở Trương Sinh trong sự tương phản với “tính đã thuỳ mị, nết na” lại thêm “tư dung tốt đẹp” sẽ mang lại sự oan khổ cho nàng và sự tan vỡ của hạnh phúc gia đình;

– Sự chu toàn, đảm đang, tấm lòng chung thuỷ của Vũ Thị Thiết được đổi lại bằng thái độ mù quáng hời hợt, ruồng bỏ tàn nhẫn của Trương Sinh; cho thấy Vũ Thị Thiết phải chịu đựng bất công, oan khổ vô lí đến mức nào.

4. Tự luận
1 điểm

Liệt kê một số chi tiết kì ảo được sử dụng trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương và nêu rõ tác dụng của chúng trong việc thể hiện tính cách nhân vật hoặc chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.

Xem đáp án

Chi tiết/ yếu tố kì ảo

Tác dụng khắc hoạ nhân vật

Tác dụng thể hiện chủ đề

Nhân vật và thế giới kì ảo: thuỷ phủ của Linh Phi; các đồ vật kì ảo.

Nỗi oan và lời than của Vũ Thị làm động lòng Linh Phi, được xoa dịu nỗi đau thương, oan khổ; được sống trong thế giới xứng đáng hơn.

Thể hiện những phẩm chất đáng trân trọng của người con gái Nam Xương.

Hành động kì ảo: việc Linh Phi báo mộng và được Phan Lang cứu sống; việc cứu sống Vũ Thị hay cứu sống, trả ơn Phan Lang của Linh Phi.

Hành động ân nghĩa phù trợ lẫn nhau giữa Linh Phi, Phan Lang dành cho Vũ Thị, cho thấy Vũ Thị là người đáng được trân trọng, cứu giúp.

Thể hiện những phẩm chất đáng trân trọng của người con gái Nam Xương.

Cảnh gặp gỡ kì ảo: đàn tràng giải oan, gặp gỡ trong cách biệt.

Vũ Thị trở về, vẫn thuỳ mị nết na nhưng đã ở trong một tư thế khác, yếu tố kì ảo như hứa hẹn một sự đổi đời...

Thể hiện những phẩm chất đáng trân trọng của người con gái Nam Xương.

5. Tự luận
1 điểm

Những dấu hiệu nào giúp em nhận biết Chuyện người con gái Nam XươngDế chọi là truyện truyền kì?

Xem đáp án

Yếu tố

Chuyện người con gái Nam Xương

Dế chọi

Thời gian, không gian

Không gian, thời gian dưới thuỷ cung là kì ảo (thời gian truyền kì).

Thế giới của cô đồng, con dế lạ đều mang tính kì ảo.

Nhân vật

Linh Phi là nhân vật kì ảo; các nhân vật Vũ Nương, Phan Lang,... đều có một phần được xây dựng bằng yếu tố kì ảo.

Con dế của Thành, con trai Thành, cô đồng,... đều có một phần được xây dựng bằng yếu tố kì ảo.

Cốt truyện

Tình tiết biến hoá, sự xuất hiện của Vũ Nương ở cuối truyện đều mang tính kì ảo.

Tình tiết “hoá dế” sống lại,...của con trai Thành trong cốt truyện mang tính kì ảo.

Yếu tố kì ảo

Không gian, thời gian, nhân vật, sự kiện trong VB đều có yếu tố kì ảo, yếu tố kì ảo xuất hiện với mức độ đậm đặc.

Không gian, thời gian, nhân vật, sự kiện trong VB đều có yếu tố kì ảo; yếu tố kì ảo xuất hiện với mức độ hạn chế.

6. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản dưới đây và trả lời các câu hỏi phía dưới văn bản:

CÁI CHÙA HOANG Ở ĐÔNG TRIỀU

(Trích Truyền kì mạn lục)

Nguyễn Dữ

Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có. Các chùa như chùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng, làm ni, nhiều gần bằng nửa số dân thường. Nhất là vùng huyện Đông Triều, sự sùng thượng lại càng quá lắm. Chùa chiền dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, làng nhỏ cũng chừng năm, sáu. Bao ngoài bằng rào luỹ, tô trong bằng vàng son, phàm người đau ốm, chỉ tin theo ở sự hư vô; gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là rộn rịp. Thần, Phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường.

Bởi vậy người dân càng kính tin, không dám ngạo mạn. Song đến đời vua Giản Định nhà Trần, binh lửa liên miên, nhiều nơi bị đốt; số chùa chiền còn lại mười không được một mà cái số còn lại ấy, cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đúng rũ ở giữa áng cỏ hoang bụi rậm. Sau khi quân Ngô lui, dân trở về phục nghiệp, có viên quan là Văn Tư Lập đến trị huyện ấy, thấy những cảnh hoang tàn đổ nát bèn róng rả dân định các xã, đánh tranh ken nửa mà sửa chữa lại ít nhiều. Ngồi ở huyện ấy được một năm, thấy dân quanh huyện khổ về cái nạn trộm cắp, từ gà, lợn, ngỗng, ngan đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gì có thể ăn được đều bị mất hết, Tư Lập than rằng:

– Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi tự ta.

Song Tư Lập cho là những đám trộm cắp vặt ấy, cũng không đến nỗi đáng lo ngại lắm, nên chỉ sức các thôn dân, đêm đêm phải canh phòng cẩn mật. Trong khoảng một tuần, tuy canh phòng chẳng thấy gì cả, nhưng những việc trộm cắp vặt cũng vẫn như trước. Lâu dần càng không thấy chúng kiêng sợ gì, đến nỗi lại vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta, vào buồng ghẹo vợ con người ta, khi mọi người đổ đến vây bắt, thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất, chẳng thấy gì cả. Tư Lập cười mà nói:

– Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kì thực đó là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả.

Sau đấy đi mời khắp các thầy phù thuỷ cao tay, xin bùa yểm trấn, làm thuyền bè mã mà tống tiễn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng:

– Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hoả mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình.

Mọi người bèn đi đốt hương lễ bái ở chùa chiền khấn rằng:

“Lũ chúng sinh này kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, hết lòng trông cậy ở Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân chúng, hoạ hại cả đến loài lục súc, vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Cúi xin mở lượng thương xót, ra uy trừng phạt, khiến thần, người chẳng lẫn, dân vật đều yên, hết thảy chúng sinh, đều được đội ơn nhiều lắm. Song loạn lạc vừa yên, sinh kế chưa khôi phục được, tấc gỗ mảnh ngói khó lòng xoay xở vào đâu. Đợi khi làm ăn giàu có sẽ lại xin sửa lại chùa chiền đền công đúc ấy”.

Đêm hôm ấy, trộm cắp hoành hành lại dữ hơn trước. Tư Lập chẳng biết làm sao được; nghe Vương tiên sinh ở huyện Kim Thành là người giỏi bói dịch, bèn đến bói một quẻ xem sao. Vương tiên sinh bói rồi nói rằng:

Cưỡi trên ngựa tốt,

Mặc áo vải săn.

Túi da tên thiếc,

Đích thị người thần.

Lại dặn rằng:

– Ông muốn trừ được nạn ấy, sáng mai nên theo phía tả của huyện đi về phương Nam, hễ thấy người nào vận mặc như thế, mang xách như vậy, quyết là người ấy có thể trừ hại được, nên cố thỉnh mời, dù từ chối cũng đừng nghe.

Hôm sau, Tư Lập cùng các phụ lão đúng theo lời của Vương tiên sinh để trông ngóng xem, những kẻ đi, người lại đầy đường, chẳng thấy ai giống như thế cả. Trời đã xế chiều, ai nấy chán nản sắp muốn về, chợt có một người từ trong núi bước ra, mình mặc áo vải, đeo cung cưỡi ngựa. Mọi người cùng chạy ra phục lạy ở phía trước mặt. Người ấy ngạc nhiên hỏi, mọi người cũng kể rõ bản ý của mình. Người ấy cười mà nói rằng:

– Các ông sao mà quá tin bói toán thế. Tôi từ nhỏ làm nghề săn bắn, mình không rời yên ngựa, tay không rời cung tên. Hôm qua nghe nói ở núi An Phụ có nhiều giống nai, báo, thỏ tốt nên nay định đến để săn, nào có biết lập đàn thầy pháp, bắt ma vô hình là công việc thế nào.

Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa, vì sợ mang luy vào thân, nên mới nhỏ nhơ trong chốn khe núi, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kì được. Người kia xem chừng không thể từ chối, phải gượng nghe lời. Tư Lập mời người ấy về huyện để ở trong nhà quán xá, giường chiếu màn đệm rất sang trọng, săn sóc kính cẩn như một vị thần minh. Người ấy nghĩ riêng rằng:

– Họ tiếp đãi kính cẩn với ta như thế này, chỉ vì cho ta là có tài trừ quỷ. Nhưng thực thì ta chẳng có tài gì về việc đó, thế mà đi hưởng sự cung cấp của người, sao cho đành tâm. Nếu không sớm liệu trốn đi thì có ngày xấu hổ.

Hôm ấy ước chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say, người ấy bèn rón rén ra khỏi huyện lị. Khi đến phía Tây cái cầu ván bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên, người ấy bèn lẻn vào chỗ khuất, ngồi rình để xem họ làm trò gì. Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói:

Những con cá con ăn ngon lắm nên ăn dè dặt mới thấy thú, há chăng hơn những thức hương hoa nhạt nhẽo họ thường dâng cúng chúng mình ư? Đáng tiếc là đến bây giờ, chúng mình mới được biết những vị ngon ấy.

Một người cười mà nói:

– Chúng mình thật to đầu mà dại, bấy nay bị người đời chúng nó lừa dối; ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp cái bụng nặng nghìn cân mà đi giữ của cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những buổi như buổi hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng.

Một người nói:

– Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi Đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân ngày xưa.

Đoạn rồi họ dắt nhau đi lên, vào vườn mía, nhổ trộm mà tước, mà hít. Người kia đang ngồi núp một chỗ, liền dương cung lắp tên, thình lình bắn ra, tin luôn ngay được hai người. Bọn gian kêu ấm ở mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng độ mấy chục bước đều mờ khuất hết. Song lúc đó còn thấy có tiếng mắng nhau:

– Đã bảo ngày giờ không tốt thì đừng nên đi, không nghe lời ta, bây giờ mới biết.

Người kia kêu réo ầm ĩ lên, dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy, cùng đốt đèn thắp đuốc chia nhau mỗi người đi đuổi một ngả. Họ soi thấy dấu máu vấy trên mặt đất, bèn theo dấu máu ấy đi về phía Tây. Chừng hơn nửa dặm đến một cái chùa hoang, vào thấy hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên cắm vào sâu lắm. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. Họ liền hay đổ hai pho tượng. Trong lúc ấy còn nghe có tiếng nói rằng:

– Vẫn tưởng kiếm cho no bụng, ai ngờ phải đến nát thân. Nhưng bầy ra mưu mẹo là tự lão thuỷ thần kia. Hắn là chủ mưu mà được thoát nạn còn chúng ta theo hắn mà phải chịu vạ, thật cũng đáng phàn nàn lắm. Đó rồi họ sai người đến miếu Thuỷ thần, thấy pho tượng thần đắp bằng đất, bỗng biến sắc, mặt tái đi như chàm đổ, mấy cái vẩy cá còn dính lèm nhèm trên mép, lại phá huỷ luôn cả pho tượng ấy.

Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương để trả ơn, người kia chở nặng mà về. Từ đấy, yêu tà tuyệt tịch không còn thấy bóng tăm đâu nữa.

(In trong Truyền kì mạn lục, Nguyễn Dữ,

Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, NXB Văn hoá, 1962)

a. Tóm tắt các sự việc chính được kể trong văn bản và xác định bối cảnh lịch sử xã hội của câu chuyện.

b. Liệt kê các nhân vật xuất hiện trong truyện và cho biết (các) nhân vật nào là nhân vật được xây dựng bằng yếu tố kì ảo? Căn cứ vào đâu để em khẳng định như vậy?

c. Những kẻ trộm cắp, quấy nhiễu cuộc sống của người dân ở Đông Triều thực chất là ai? Nhận xét về cách tác giả miêu tả các nhân vật này trong truyện.

d. Phân tích vai trò của nhân vật Tư Lập, Vương tiên sinh, người thợ săn có công trong việc phát giác, trừ khử thủ phạm trộm cắp quấy nhiễu để mang lại cuộc sống yên bình cho người dân ở Đông Triều.

đ. Nêu chủ đề và thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc. Theo em, yếu tố kì ảo có vai trò thế nào trong việc thể hiện chủ đề, thông điệp đó?

Xem đáp án

a.

- Các sự việc chính được kể trong văn bản:

+ Tình trạng ma, quỷ, hưng yêu tác quái, trộm cắp, nhũng nhiễu ở Đông Triều khiến viên quan Tư Lập phải tìm cách trừ khử.

+ Theo lời của Vương tiên sinh, Tư Lập mời người thần về trừ khử yêu quái, hậu đãi người thần, nhưng anh ta vốn chỉ là một người thợ săn.

+ Đêm đến, người thợ săn trốn đi, tình cờ phát hiện thủ phạm, bắn tên, hô hoán dân chúng vây bắt.

+ Thủ phạm bị phát giác hoá ra là tượng thuỷ thần và mấy pho tượng trong ngôi chùa hoang ở Đông Triều. Dân chúng đập đổ các pho tượng và từ đó cuộc sống của dân trong vùng trở lại yên bình.

+ Bối cảnh lịch sử xã hội của câu chuyện: bối cảnh của câu chuyện là vào cuối đời Trần, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, đạo Phật có những dấu hiệu suy thoái, niềm tin vào đạo Phật mai một; chùa chiền mất linh ứng.

b. Các nhân vật trong truyện và căn cứ xác định nhân vật kì ảo.

Nhân vật

Nhóm nhân vật bình thường

Nhân vật kì ảo

 

Tư Lập (quan huyện mới nhậm chức).

Người thợ săn.

Dân chúng (nạn nhân ở vùng Đông Triều).

– Các pho tượng đất sét đã biến thành “ma, quỷ” trong ngôi chùa hoang ở Đông Triều.

– Vương tiên sinh với khả năng bói dịch.

 

c.

– Thủ phạm của những vụ trộm cắp, quấy nhiễu thực sự đối với cuộc sống của người dân ở Đông Triều không ai khác là các pho tượng đã biến thành ma, quỷ trong ngôi chùa hoang này.

- Cách tác giả miêu tả các nhân vật này trong truyện:

+ Sử dụng yếu tố kì ảo, hoang đường: tượng đất sét biến thành ma quỷ háu đói, trộm cắp như những kẻ phàm phu tục tử;

+ Sử dụng khéo léo tình tiết trùng hợp ngẫu nhiên: người thần và người thợ săn.

+ Kết hợp sinh động các chi tiết tả hành vi và lời nói.

d.

Vai trò của Tư Lập

Vai trò của Vương tiên sinh

Vai trò của người thợ săn

– Phát hiện thủ phạm là ma, quỷ, hưng yêu, không phải kẻ trộm thông thường.

– Tìm mọi cách và mời bằng được những người có tài diệt trừ yêu ma.

– Tập hợp dẫn chúng đập bỏ tượng thuỷ thần.

Người tiên đoán sự xuất hiện của người thợ săn bằng lời bói dịch:

Cưỡi trên ngựa tốt,

Mặc áo vải săn.

Túi da tên thiếc,

Đích thị người thần.

Tình cờ phát hiện thủ phạm, hô hào dân chúng truy bắt thủ phạm.

 

đ.

- Chủ đề: Tinh trạng nhũng nhiễu của xã hội và suy thoái niềm tin tồn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng.

- Thông điệp: Hãy cẩn thận với tình trạng hoang phế của những ngôi chùa.

Yếu tố kì ảo – các pho tượng đất sét trong chùa hoang biến thành ma đói – có tác dụng cảnh báo sâu sắc về tình trạng suy thoái của niềm tin tôn giáo, đồng thời làm cho câu chuyện, sự việc trở nên bất ngờ, hấp dẫn.

7. Tự luận
1 điểm

Thế nào là dẫn gián tiếp? Cho ví dụ.

Xem đáp án

- Dẫn gián tiếp là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của một người/ một nhân vật theo cách diễn đạt của mình. Phần dẫn gián tiếp thường dùng kèm các từ “rằng”, “là”,... và không được đặt trong ngoặc kép.

- Ví dụ: Phần “chuyện kia do ai nói ra” trong câu “Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói;…” (Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương) là lời nói của Vũ Nương được dẫn gián tiếp.

8. Tự luận
1 điểm

Dẫn gián tiếp khác với dẫn trực tiếp như thế nào?

Xem đáp án

 

Dẫn trực tiếp

Dẫn gián tiếp

Định nghĩa

Dẫn trực tiếp là nhắc lại nguyên văn lời nói hay ý nghĩ của một người/ một nhân vật.

Dẫn gián tiếp là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của một người/ một nhân vật theo cách diễn đạt của mình.

Dấu hiệu nhận diện

Phần dẫn trực tiếp thường được đặt trong dấu ngoặc kép.

Phần dẫn gián tiếp thường dùng kèm các từ “rằng”, “là”,... và không được đặt trong ngoặc kép.

Ví dụ

Ví dụ: Thành xem trăn trở, tự nhủ: “Phải chăng bức vẽ này chỉ cho ta chỗ bắt dế?” (Bồ Tùng Linh, Dế chọi).

Ví dụ: Nhưng nàng hỏi chuyện kia do ai nói ra, thì lại giấu không kể lời con nói;... (Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương).

9. Tự luận
1 điểm

Xác định lời dẫn và cách dẫn trong trường hợp sau:

Thành nghĩ: “Nuôi vật hèn kém cuối cùng cũng vô dụng, chi bằng đem chọi lấy một tiếng cười”. (Bồ Tùng Linh, Dế chọi)

Xem đáp án

Lời dẫn: “Nuôi vật hèn kém cuối cùng cũng vô dụng, chi bằng đem chọi lấy một tiếng cười”.

Cách dẫn: Dẫn trực tiếp.

10. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

Tư Lập cười mà nói:

Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kì thực đó là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả.

Sau đấy đi mời khắp các thầy phù thuỷ cao tay, xin bùa yểm trấn, làm thuyền bè mã mà tống tiễn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng:

Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hoả mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình.

(Nguyễn Dữ, Cái chùa hoang ở Đông Triều)

a. Xác định lời nói của nhân vật Tư Lập trong đoạn trích trên. Chỉ ra cách Nguyễn Dữ đã sử dụng để dẫn lời nói của nhân vật và nêu tác dụng của lời dẫn trong đoạn trích.

b. Thuật lại lời nói của nhân vật Tư Lập theo cách dẫn gián tiếp.

c. Chỉ ra điểm khác biệt giữa lời nói của nhân vật Tư Lập trong đoạn trích trên và phần thuật lại của em.

Xem đáp án

a.

- Lời nói của nhân vật Tư Lập trong đoạn trích đã cho:

+ Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kì thực đó là loài ma, quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả.

+ Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hoả mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình.

- Nguyễn Dữ đã sử dụng lời dẫn trực tiếp để dẫn lời nói của nhân vật.

- Tác dụng của lời dẫn trong đoạn trích: Việc sử dụng lời dẫn trực tiếp giúp cho việc miêu tả nhân vật chân thật hơn.

b. Em thuật lại lời nói của nhân vật Tư Lập theo cách dẫn gián tiếp.

Ví dụ: Tư Lập cười, nói rằng lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm mà không biết thực chất là do loài ma, quỷ, hưng yêu tác quái và những sự quấy rối bấy nay đều do vật này cả.

c. Điểm khác biệt giữa lời nói của nhân vật Tư Lập trong đoạn trích trên và phần thuật lại của mình: Lời nói của nhân vật Tư Lập trong đoạn trích được đánh dấu bằng dấu gạch ngang, trong khi phần thuật lại của học sinh theo cách dẫn gián tiếp thường dùng kèm các từ “rằng”, “là”.  Học sinh có thể dẫn lại lời nói nhân vật theo cách diễn đạt của mình, do đó phần thuật lại của học sinh có thể không giống hoàn toàn với lời nói của nhân vật.

Câu 5 trang 60 SBT Ngữ Văn 9 Tập 1: Trong các trường hợp sau, tác giả dùng cách nào để dẫn lại lời nói/ ý nghĩ của nhân vật? Việc sử dụng cách dẫn này có tác dụng gì?

a. Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa, vì sợ mang lụy vào thân, nên mới nhởn nhơ trong chốn khe núi, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kì được.

b. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. (Nguyễn Dữ, Cái chùa hoang ở Đông Triều)

Trả lời:

a. Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa, vì sợ mang lụy vào thân, nên mới nhởn nhơ trong chốn khe núi, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kì được.

b. Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ.

(Nguyễn Dữ, Cái chùa hoang ở Đông Triều)

Cách dẫn gián tiếp có tác dụng làm thông tin cô đúc, hàm súc. Việc kết hợp lời dẫn gián tiếp và lời dẫn trực tiếp làm cho ngôn ngữ trong văn bản trở nên sinh động và linh hoạt.

11. Tự luận
1 điểm

Nêu tóm tắt yêu cầu về nội dung của các phần Mở đầu truyện, Diễn biến truyện, Kết thúc truyện đối với kiểu bài Viết một truyện kể sáng tạo đưa trên một truyện đã đọc.

Xem đáp án

Mở đầu truyện: Giới thiệu nhân vật/ bối cảnh/ nội dung chính của truyện kể.

Diễn biến truyện: Thuật lại diễn biến các sự việc trong câu chuyện theo một trình tự hợp lí; thể hiện được khả năng tưởng tượng và cách kể chuyện sáng tạo; có kết hợp sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong khi kể chuyện.

Kết thúc truyện: Phù hợp, gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc (tuỳ trường hợp có thể giải thích hoặc khái quát ý nghĩa bài học từ truyện kể).

12. Tự luận
1 điểm

Thực hành viết theo quy trình với đề bài sau:Viết một truyện kể sáng tạo (khoảng 1.000 chữ) phỏng theo một trong những truyện truyền kì hay truyện có yếu tố kì ảo em đã đọc. Truyện kể có sử dụng các yếu tố miêu tả, biểu cảm

Xem đáp án

Bước 1: Chuẩn bị viết

Em tìm đọc một truyện truyền kì hay truyện có yếu tố kì ảo, sau đó, đọc lại yêu cầu về kiểu bài kể chuyện sáng tạo phỏng theo một truyện đã đọc trong sách giáo khoa, sau đó thực hiện theo bốn bước của tiến trình viết.

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý: Chọn đề tài, câu chuyện đã đọc phù hợp để phỏng theo; tóm tắt cốt truyện, liệt kê nhân vật, chọn nhân vật chính,... dự kiến vị trí cài đặt yếu tố miêu tả, biểu cảm,...

Lập dàn ý: Dựa theo bố cục ba phần đã tóm lược ở Bài tập 3.

Bước 3: Viết bài

Dựa trên dàn ý, em viết bài văn ở nhà. Trên lớp, theo hướng dẫn của thầy/cô, em thực hành viết một đoạn văn kể chuyện và sử dụng bảng kiểm dưới đây để tự đánh giá về đoạn văn.

Bài văn mẫu tham khảo:

Có nhiều truyền thuyết về các vị anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, nhưng người ta vẫn mãi khắc ghi một truyền kỳ về người anh hùng ở làng Gióng, được truy phong là Phù Đổng Thiên Vương, mà nhân dân Việt Nam ta đời đời nhớ ơn.

 

Truyền thuyết kể rằng vào đời vua Hùng Vương thứ 6, ở một ngôi làng nhỏ có hai vợ chồng nghèo, sống rất tình nghĩa, phúc đức, cuộc sống khó khăn không khiến họ mệt mỏi hay nản chí thế nhưng tuổi cả hai ngày một lớn mà mong mỏi mãi cũng không có lấy một mụn con cho vui cửa vui nhà. Hai vợ chồng lấy làm buồn lòng lắm, hàng xóm cũng cảm thấy xót xa cho họ. Một hôm trời nắng to, bà lão theo lệ thường ra ruộng làm cỏ, trong lúc đang cặm cụi nhổ cỏ thì bà vợ bỗng nhìn thấy một dấu chân người đặc biệt to lớn. Không biết trời xui đất khiến thế nào bà lại đưa chân mình vào ướm thử, sau chuyện ấy bà cũng quên khuấy đi, ba tháng sau bà bỗng cảm thấy người mệt mỏi, chán ăn, đến thầy lang khám bệnh thì hay tin mình có thai. Khi nghe tin cả hai vợ chồng đều rất đỗi vui mừng mà sung sướng, bởi ước nguyện bấy lâu đã trở thành hiện thực, gia đình nhỏ của hai vợ chồng dần trở nên ấm áp hơn cả, ngày ngày chờ đợi đứa con bé bỏng ra đời trong hạnh phúc. Nhưng lạ thay, đã qua chín tháng mười ngày tròn mà người vợ vẫn chưa trở dạ, hai vợ chồng lấy làm lo lắng, đợi mãi đến khi cái thai được tròn mười hai tháng, thì đứa trẻ mới chịu chui từ bụng mẹ ra. Vừa ra đời người ta đã nhận xét rằng đây là một đứa bé có tư chất hơn người, bởi vẻ thông minh sáng sủa, khôi ngô tuấn tú, vợ chồng ông lão nghe thứ thì lại càng vui mừng hơn cả, đặt cho con cái tên là Gióng, cho dễ nuôi. Cuộc sống một gia đình ba người cứ thế êm đềm trôi đi, nhưng lạ thay mãi đến ba tuổi Gióng vẫn chẳng biết đi biết đứng, cha mẹ đặt đâu thì em ngồi đấy, em cũng chưa hề mở miệng nói một câu nào, điều ấy làm cho hai vợ chồng sốt ruột, bồn chồn không yên vì sợ con mình có bệnh lạ.

Năm ấy, giặc ở phương Bắc tràn vào nước ta xâm lược, giày xéo mảnh đất Lạc Việt, thế giặc mạnh, vua Hùng cùng với các Lạc Hầu, Lạc Tướng rất lấy làm lo lắng. Trước tình hình ấy vua bèn nảy ra một ý, cho sứ giả truyền tin tuyển mộ người tài, đức ra giúp nước. Khi sứ giả vừa loan tin đến đầu làng, thì Gióng bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây giúp con”, người mẹ tuy sửng sốt nhưng vẫn chạy ra mời sứ giả vào. Vào đến nơi, sứ giả chỉ thấy một cậu bé ba tuổi và hai vợ chồng đã tuổi xế chiều, thì lấy làm tức giận, tưởng mình bị đùa giỡn, thế nhưng Gióng đã kịp lên tiếng: “Giặc đã hoành hành khá lâu, ta xin nguyện vì bệ hạ, vì non sông xung phong đánh giặc, khẩn cầu ngài về tâu với nhà vua chế tạo cho ta một chiếc roi sắt từ loại sắt tốt nhất, đảm bảo đánh trăm trận mà không gãy, ban cho ta một con chiến mã bằng sắt nặng ngàn cân và một bộ giáp sắt nặng trăm cân, giáo mác xuyên không thủng. Như thế ta có thể yên tâm diệt giặc”. Sứ giả nghe thế thì lấy làm mừng rỡ vì đích thị đây là nhân trung long phượng, là bậc kỳ tài hiếm có nên mới có thể có khẩu khí hiên ngang, oai hùng của võ tướng như thế. Kể từ ngày gặp sứ giả, Gióng lớn nhanh như thổi, bao nhiêu cơm gạo ăn cũng không đủ, dân làng người nhà nhà chung tay góp cơm, góp gạo cho Gióng ăn, thầm mong chàng sớm ngày đánh tan lũ giặc xâm phạm bờ cõi.

Mười ngày sau, mọi thứ mà Gióng yêu cầu đều được mang tới cả, lúc này đây từ một đứa bé ba tuổi, Gióng đã trở thành chàng trai cao lớn vượt trội, tầm vóc phi phàm, thân hình cao lớn, cơ bắp cuồn cuộn. Chàng mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt, từ biệt quê hương và lên đường diệt giặc, trước khi đi Gióng quay lại nhìn cha mẹ “Kiếp này đa tạ phụ mẫu đã sinh dưỡng!”, rồi hướng thẳng phía trước mà đi, con ngựa sắt vốn tưởng là khối sắt không có linh tính, thế nhưng lúc này đây nó lại phát ra tiếng hí vang trời, rồi phóng vụt đi, chốc lát chỉ còn lại cái bóng mờ mờ của người anh hùng, lẫn trong đám bụi thổi tung. Ngựa chạy một đường đến nơi đóng quân của giặc, ngựa đi đến đâu phun lửa đến đấy, thiêu trụi hết lương thực và lều trại của quân địch, chúng hoảng hồn bỏ cả vũ khí mà chạy thoát thân, kẻ giẫm đạp lên nhau, người thì chết dưới vó ngựa. Tráng sĩ vung roi sắt quất liên hồi vào lũ giặc cướp nước, khiến chúng chết như ngả rạ dưới vó ngựa, thế nhưng giặc quá đông, sau ba ngày chinh chiến thì không may roi sắt gãy làm đôi. Lúc này đây tráng sĩ vừa đuổi giặc đến khu vực có những lũy tre già hàng mấy chục tuổi, ngựa sắt phun lửa làm loài tre ấy trở nên vàng bóng. Nhanh trí, tráng sĩ đã dùng sức mạnh nhổ hẳn cây tre to nhất bên đường làm vũ khí thay roi sắt, kỳ diệu thay vốn chỉ là cây cỏ thế nhưng trên tay tráng sĩ, cay tre bỗng trở nên mạnh mẽ không kém gì so với những thứ vũ khí sắc bén khác. Sau bảy ngày chiến đấu, cuối cùng đất nước ta cũng sạch bóng quân thù, chỉ còn lại hàng vạn xác chết chốn sa trường, khung cảnh tiêu điều tan hoang.

Tráng sĩ sau khi diệt giặc thì thúc ngựa chạy vào rừng sâu, tìm nơi có dòng suối nguồn trong trẻo chưa ai biết đến, tắm rửa sạch sẽ, cởi bỏ lại bộ giáp sắt, như một cách báo cáo hoàn thành sứ mệnh, rồi cưỡi ngựa sắt bay về trời. Vua Hùng để tưởng nhớ công ơn đã phong cho tráng sĩ là Phù Đổng Thiên Vương và cho xây lập đền thờ ngay tại quê nhà, để đời đời được hưởng nhang khói của nhân dân.

 

Bảng kiểm kĩ năng viết đoạn văn kể chuyện sáng tạo có kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả, biểu cảm.

Tiêu chí

Đạt

Chưa đạt

Các câu tập trung vào chủ đề/ ý chính

Đoạn văn gồm nhiều câu (ít nhất ba câu).

 

 

Có chủ đề, ý chính (các câu trong đoạn xoay quanh một sự việc, tình tiết của câu chuyện tưởng tượng).

 

 

Các câu được kết nối phù hợp thành đoạn văn.

 

 

Có kết hợp kể chuyện với miêu tả, biểu cảm

Có câu văn kể chuyện.

 

 

Có câu văn miêu tả.

 

 

Có câu văn biểu cảm.

 

 

Có kĩ năng dựng đoạn và diễn đạt

Viết câu đúng ngữ pháp và đúng yêu cầu kể chuyện, miêu tả biểu cảm.

 

 

Sử dụng từ ngữ chọn lọc.

 

 

Sử dụng ngữ điệu, dấu câu phù hợp.

 

 

 

Bước 4: Xem lại, chỉnh sửa và rút kinh nghiệm

Em sử dụng bảng kiểm dưới đây để kiểm soát kĩ năng viết bài văn kể chuyện và kĩ năng viết đoạn văn kể chuyện:

Bảng kiểm kĩ năng viết một truyện kể sáng tạo mô phỏng truyện đã đọc

Tiêu chí

Đạt

Chưa đạt

Mở đầu truyện

 

Giới thiệu nhân vật/ bối cảnh/ nội dung chính của câu chuyện.

 

 

Có phần dẫn dắt lôi cuốn, thu hút sự chú ý của người đọc.

 

 

Đảm bảo nội dung chính của truyện gốc.

 

 

Diễn biến truyện

Có nhân vật.

 

 

Có cốt truyện.

 

 

Sử dụng ngôi kể phù hợp.

 

 

Câu chuyện được thuật lại với sự kiện, diễn biến hợp lí.

 

 

Thể hiện sự sáng tạo của bản thân người viết (về nhân vật/ sự kiện/ tình huống, bối cảnh/ chi tiết,...).

 

 

Kết hợp lời kể với lời miêu tả, biểu cảm.

 

 

Làm nổi bật sự kiện, nhân vật chính.

 

 

Nội dung truyện kể có ý nghĩa, có tính giáo dục.

 

 

Kết thúc truyện

Phù hợp với diễn biến câu chuyện.

 

 

Gây ấn tượng hoặc gợi suy nghĩ đối với người đọc.

 

 

Kĩ năng sử dụng lời văn kể chuyện

Câu văn giàu hình ảnh.

 

 

Lời kể linh hoạt, tự nhiên.

 

 

Đảm bảo dung lượng khoảng 1.000 chữ.

 

 

13. Tự luận
1 điểm

Theo em, khi trình bày một truyện kể sáng tạo, nội dung câu chuyện có cần theo bố cục ba phần (Mở đầu truyện, Diễn biến truyện, kết thúc truyện) như khi viết truyện kể sáng tạo hay không? Vì sao?

Xem đáp án

Một câu chuyện tưởng tượng hoàn chỉnh bao giờ cũng có Mở đầu truyện, Diễn biến truyện, Kết thúc truyện. Cho nên, dù kể bằng bài viết hay bằng bài nói, đều phải bảo đảm tính hoàn chỉnh và đều cần có ba phần nêu trên.

Tuy nhiên, bố cục của một bài nói dù là trình bày lại câu chuyện cũng đòi hỏi sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe, nên bài kể chuyện nói sẽ có thêm một số phần mà bài kể chuyện viết không có như đầu bài nói phải có lời chào hỏi, cuối bài nói có lời cảm ơn người nghe và phần trao đổi.

Theo đó, cả ba phần Mở đầu truyện, Diễn biến truyện, Kết thúc truyện đều phải sắp xếp sau phần mở đầu bài nói và trước phần trao đổi, cảm ơn,...

14. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra biểu hiện của cách sắp xếp diễn biến câu chuyện theo quan hệ nhân quả hoặc quan hệ tiếp nối qua một trong các văn bản truyện kể sau đây: Chuyện người con gái Nam Xương, Truyện là nhà thuyền chài, Dế chọi.

Xem đáp án

Có thể giải quyết yêu cầu của bài tập này bằng cách lập bảng liệt kê, và chỉ ra biểu hiện của cách sắp xếp diễn biến câu chuyện qua một trong ba truyện nêu trong bài tập. Ví dụ: Chuyện người con gái Nam Xương:

Sắp xếp theo quan hệ nhân quả

Sắp xếp theo quan hệ nối tiếp

Chuyện người con gái Nam Xương: Quan hệ nhân quả giữa hai phần (dương gian, thuỷ phủ).

Chuyện người con gái Nam Xương: Quan hệ nối tiếp giữa các sự việc theo trình tự thời gian.

15. Tự luận
1 điểm

Nêu một số lưu ý trong bước Chuẩn bị bài nói khi trình bày một truyện kể sáng tạo.

Xem đáp án

Em cần đặc biệt lưu ý chọn kể câu chuyện tưởng tượng theo một trong hai dạng đề tài sau:

– Dạng thứ nhất: Một câu chuyện hoàn toàn dựa trên trí tưởng tượng của em. Với dạng này, cần lưu ý: Một câu chuyện dù tưởng tượng bay bổng, mới lạ thế nào thì cũng phải có ba yếu tố: bối cảnh, nhân vật, cốt truyện.

Bối cảnh là không gian, thời gian diễn ra câu chuyện.

Nhân vật có thể là người, thần tiên, ma, quỷ, loài vật, cây cối, đồ vật,...; một câu chuyện cần có nhân vật chính và một vài nhân vật phụ.

Cốt truyện là chuỗi sự kiện, hành động của nhân vật có quan hệ với nhau theo quan hệ nhân quả hoặc nối tiếp. Khi cần, có thể sử dụng yếu tố kì ảo một cách hợp lí, nhất là khi em định kể một câu chuyện huyền ảo như các truyện truyền kì đã học.

– Dạng thứ hai: Một câu chuyện phỏng theo truyện đã đọc. Với dạng này, truyện đã có sẵn bối cảnh, nhân vật, cốt truyện. Em sử dụng trí tưởng tượng của mình để thay đổi, bổ sung một, hai hoặc cả ba yếu tố như bối cảnh, nhân vật, cốt truyện tức là “cải biên” để có một câu chuyện mới.

16. Tự luận
1 điểm

Luyện tập các bước thực hiện bài nói theo đề bài sau:

Kể lại một truyện kể sáng tạo phỏng theo một trong những truyện truyền kì hay truyện có yếu tố kì ảo mà em đã đọc.

Xem đáp án

Tham khảo:

Xin chào thầy cô và các bạn.

Ngày xưa, trong dân gian đã lưu truyền một câu chuyện cảm động kể về một người phụ nữ nhan sắc, đức hạnh nhưng lại phải chịu một nỗi oan ức lớn đến mức phải gieo mình tự vẫn nơi bến sông chỉ vì người chồng mang tính đa nghi, nhỏ nhen của mình. Câu chuyện mà người ta vẫn thường kể nhau nghe ấy mang tên “Vợ chàng Trương”, nhưng kết cục của câu chuyện dân gian này lại vô cùng bi thảm.

Vì tiếc thương cho nàng người phụ nữ nết na nhưng lại bạc mệnh, Nguyễn Dữ đã mượn cốt truyện trên để viết nên “Chuyện người con gái Nam Xương”. Những chi tiết trong truyện hầu như vẫn được giữ nguyên về cơ bản, nhưng ông đã thể hiện tinh thần nhân đạo của mình bằng cách tạo nên một cái kết đẹp hơn cho người phụ nữ cao đẹp ấy.

Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ xoay quanh cuộc đời và số phận của một người con gái đức hạnh nhưng cảnh đời lại đẩy vào nơi tối tăm của bi kịch - Vũ Thị Thiết. Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương, là con của một gia đình làm nông nghèo. Mẹ nàng mất từ sớm, trong nhà chỉ có hai cha con cùng nương tựa lẫn nhau và trải qua những tháng ngày bình lặng, hạnh phúc.

Khi nàng đến tuổi lập gia đình, đã được một chàng Trương vì thấy nàng đẹp người lại đẹp nết nên đã qua hỏi cưới. Nàng không yên tâm để cha già sống cảnh một mình, nhưng vẫn phải đồng ý lấy Trương Sinh trước những lời khuyên của cha. Trước khi nàng được gả đi, cha đã dặn dò nàng sang nhà chồng phải biết hiếu kính với nhà chồng, phải đảm đang việc nhà, làm tròn đạo dâu, đạo vợ. Nếu không, nàng sẽ chịu những điều tiếng không hay.

Một tuần sau, Vũ Thị Thiết đã chính thức trở thành vợ của Trương Sinh. Từ khi bước vào nhà họ Trương, nàng đã coi Trương Sinh là người chồng mà suốt đời mình sẽ yêu thương, gắn bó. Mẹ của chàng cũng chính là mẹ của nàng, nên nàng sẽ chăm sóc và phụng dưỡng như chính người thân máu mủ của mình.

Cuộc sống thời gian đầu hôn nhân cũng được coi là êm ấm. Nhưng rồi, biến cố đã xảy ra và chia cắt nàng với chồng. Cũng chính đây là nguồn cơn dẫn đến nỗi oan sâu nặng của nàng sau này.

Năm ấy, giặc Chiêm xâm lược nước ta, triều đình phải kêu gọi binh lính đi chiến đấu, mà Trương Sinh vì không học nên đã bị bắt đi lính. Buổi chia ly giữa Vũ Thị Thiết với Trương Sinh diễn ra một cách đầy nước mắt bởi sự lưu luyến, không muốn rời xa. Trương Sinh đã dặn dò nàng ở nhà phải chăm sóc, phụng dưỡng mẹ chồng chu đáo, đảm đương việc nhà chu toàn đợi chàng trở về.

Khi ấy, cả hai sẽ lại được đoàn tụ và cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc cho riêng mình. Dẫu rất buồn rầu, hơn ai hết nàng hiểu rõ sự nguy hiểm của chuyến đi này, và sự ác liệt của chiến tranh nào có buông tha ai bao giờ.

Nàng bày tỏ nguyện vọng của mình trong nước mắt, nàng chẳng cầu chồng mang áo gấm phong hầu trở về, chỉ mong rằng chồng nàng có thể bình an, mạnh khỏe mà quay về đoàn tụ với gia đình: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày trở về mang theo được hai chữ bình yên là đủ rồi…”

Thế rồi, Trương Sinh lên đường ra trận. Trong nhà, Vũ Thị Thiết vừa chăm lo cho mẹ già, lại nuôi nấng cho đứa con nhỏ vừa mới sinh sau khi chồng đi. Nhưng nàng chẳng hề than thở hay trách cứ, nàng chỉ yên lặng chăm lo ruộng vườn, chăm lo người thân. Chuyện gì nàng cũng hoàn thành một cách chu toàn, không cầu được công nhận, chỉ mong ngày chồng trở về.

Mẹ chồng nàng bị ốm nặng, nàng cũng không kêu than mà rời mẹ nửa bước. Nàng cố gắng chăm lo mẹ, động viên mẹ vượt qua bạo bệnh, đợi này chồng trở về. Biết mình không thể qua khỏi cơn bệnh này, mẹ chồng nàng đã nói nàng không cần lãng phí tiền bạc nữa, nhưng nàng vẫn một mực chăm sóc đủ đầy, đến mức mẹ chồng nàng phải hết lời khen ngợi nàng là một người tốt và sau này nàng sẽ được hạnh phúc vì những đức tính tốt đẹp của mình.

Một thời gian sau, mẹ chồng Vũ Thị Thiết mất. Nàng đã lo cho việc hậu sự một cách chu đáo thay cho chồng. Ngôi nhà nhỏ giờ chỉ còn có hai mẹ con. Vì thấm thía nỗi đau không có được sự che chở trọn vẹn của cha và mẹ, nên nàng luôn mong muốn con được hạnh phúc, lại càng không muốn con phải ghen tị với bạn vì có cả cha lẫn mẹ.

Vì thế, nàng đã nghĩ ra một cách, đó là chỉ vào bóng của mình trên tường và dối con rằng đó là ba của Đản. Nhưng nàng cũng chẳng thể ngờ được, lời nói dối để con vơi đi nỗi nhớ cha, cũng giúp mình nguôi ngoai nỗi nhớ chồng lại đẩy nàng vào bi kịch với oan khuất nhất đời.

Trương Sinh trở về, nhưng bé Đản lại không nhận ông là cha. Chàng ta liền nói với Đản rằng mình là cha của bé, nhưng Đản lại kể với Trương Sinh về một người cha tối nào cũng đến thăm mẹ con bé. Vốn tính đa nghi, cộng thêm lời trẻ thơ dại, Trương Sinh liền nổi giận đùng đùng nghi ngờ vợ hư hỏng. Trong cơn giận dữ, Trương Sinh đã lớn tiếng chửi mắng, kết tội và đánh đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho nàng cố gắng giải thích và sự bao che của bà con làng xóm.

Vì quá đau khổ, nàng lại chẳng có cơ hội nào để giải thích, nên nàng đã đi ra sông Hoàng Giang trẫm mình tự vẫn để giải oan cho chính mình. Khi đó, nàng đã gặp được Linh Phi là vợ của đức Long Quân cứu giúp. Cuộc sống nàng lại bắt đầu với những ngày tháng sống cùng Linh Phi. Tưởng như nỗi đau năm nào đã nguôi ngoai, nào ngờ chỉ cần chạm nhẹ lại vào vết sẹo năm xưa, mọi ký ức lại hiện về

Nàng tình cờ gặp được một người bà con của mình ở đây. Nhớ lại nỗi oan chưa được giải của mình, nàng liền nhờ người đó chuyển lời đến Trương Sinh. Về phần Trương Sinh, sau khi biết được nỗi oan của vợ, Trương Sinh liền lập đàn trên sông Hoàng Giang để giải oan cho sợ. Vũ Thị Thiết hiện về giữa sông. Cảm thấy nỗi oan đã được giải trừ, nàng cũng chẳng hề oán trách chồng mình, nhưng cũng chẳng thiết tha trở về với cuộc sống cũ nữa. Vì thế, nàng đã nói lời cuối với Trương Sinh rồi biến mất trong lòng sông.

Cái kết của câu chuyện này có lẽ không quá có hậu, nhưng nó lại là cách hợp lý nhất giúp cho câu chuyện thêm phần đáng tin và không mất đi kết quả hiện thực. Nhưng dẫu sao, Vũ Nương trong chuyện cũng đã được giải oan. Đó chính là niềm an ủi lớn nhất, mang tính nhân văn sâu sắc nhất. Đồng thời, câu chuyện cũng chính là lời cáo buộc tội ác của xã hội phong kiến bất công, trọng nam khinh nữ đã cướp đi quyền được hạnh phúc của những người phụ nữ đẹp người đẹp nết.