Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 3. NHỮNG DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ DANH THẮNG
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 3. NHỮNG DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ DANH THẮNG

A
Admin
VănLớp 963 lượt thi
21 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử là gì?

Xem đáp án

- Mục đích của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử : giúp người đọc dễ dàng hình dung về đặc điểm kiến trúc, cảnh quan, vẻ đẹp của danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử và tác động đến cảm xúc của người đọc, người viết có thể sử dụng kết hợp các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm.

2. Tự luận
1 điểm

Vẽ sơ đồ xác định cấu trúc của kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử

Xem đáp án

Cấu trúc gồm 3 phần:

+ Mở bài: giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

+ Thân bài: lần lượt trình bày các thông tin về đặc điểm của danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử: vị trí tọa lạc, lịch sử hình thành, đặc điểm kiến trúc, cảnh quan…; giá trị văn hóa, lịch sử, cách thức tham quan…

+ Kết bài: đánh giá khái quát về danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử; bày tỏ suy nghĩ, tình cảm về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (có thể đưa ra lời mời tham quan). 

3. Tự luận
1 điểm

Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn trình bày thông tin theo (những) cách nào? Vì sao?

Xem đáp án

- Kiểu văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử thường chọn cách trình bày thông tin theo trật tự thời gian, trật tự không gian hay cách phân loại đối tượng... để giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành, cấu trúc không gian hoặc những nét riêng biệt, độc đáo về đặc điểm kiến trúc, tự nhiên, xã hội... của danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

4. Tự luận
1 điểm

Bài phỏng vấn là gì? Có mấy cách phân loại bài phỏng vấn?

Xem đáp án

Bài phỏng vấn thuộc văn bản thông tin, trình bày nội dung cuộc trao đổi về một chủ đề nhất định, trong đó người phỏng vấn đặt câu hỏi và người được phỏng vấn trả lời. Có nhiều cách phân loại bài phỏng vấn. Chẳng hạn: về phương pháp phỏng vấn, có bài phỏng vấn cá nhân, bài phỏng vấn nhóm; về cách thức phỏng vấn, có phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn gián tiếp (qua điện thoại).

5. Tự luận
1 điểm

Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn.

Hoàn chỉnh sơ đồ bố cục của một bài phỏng vấn. (ảnh 1)

Xem đáp án

Về bố cục, bài phỏng vấn thường có ba phần:

– Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát mục đích và/ hoặc nội dung chính của buổi phỏng vấn.

– Phần nội dung: Lần lượt trình bày hệ thống câu hỏi và câu trả lời liên quan đến vấn đề/ đối tượng cần phỏng vấn.

– Phần kết thúc: Lời cảm ơn và/ hoặc lời chúc của người phỏng vấn.

6. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU

Theo Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh

Media VietJack

Đất Mũi Cà Mau – nơi cực Nam của đất nước được khai phá vào cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, gắn liền với sự quân tụ của ba dân tộc: Kinh, Hoa, Kh'mer. Do vậy, nơi đây có sự giao thoa những nét sinh hoạt văn hoá đa sắc tộc được thể hiện qua nhiều phong tục, tập quán phong phú và đặc sắc.

Xưa có người kể rằng, những cư dân nơi Mũi Cà Mau là những người hùng ở phía Bắc vì không chịu được sự bóc lột của đế quốc phong kiến đã bỏ làng, bỏ đất mà đi về phương Nam. Họ cứ đi, đi mãi tới Mũi Cà Mau, mảnh đất cuối cùng của đất nước vốn được thiên nhiên đặc biệt ưu đãi và dùng lại để sinh cơ, lập nghiệp. Càng gắn bó với đất, với rừng, họ càng thấu hiểu câu nói: “Đất lành chim đậu”, “Rừng là vàng, biển là bạc”,...

Lịch sử hình thành, vị trí toạ lạc, diện tích

Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002, năm trên địa bàn huyện Năm Căn và Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 400km, nơi có cột mốc cuối cùng của Việt Nam trên đất liền, với tổng diện tích: 41862 ha, trong đó diện tích trên đất liền là 15 262 ha, diện tích ven biển là 26 600 ha – một vùng đất ngập mặn với quần thể thực vật chiếm ưu thế là cây đước, cây mắm. Đây là một hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên có giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hoá và lịch sử.

Đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, nơi nghiên cứu về các loài chim nước ven biển của Việt Nam và vùng châu Á – Thái Bình Dương, du khách có thể thoả sức khám phá, tìm hiểu những nét đặc trưng độc đáo về địa lí tự nhiên và địa mạo tạo nên vùng sinh thái cửa sông, ven biển có một không hai ở Việt Nam.

Sẽ thật là thú vị khi bạn được lênh đênh băng xuống máy trên các sông, rạch, với những buổi đi xuyên rừng đước, thoả thích chụp ảnh các loài chim, thú, hít thở bầu không khí trong lành và lắng nghe những âm thanh vọng về từ cây lá, chim muông,... Du khách cũng sẽ rất ngạc nhiên và thích thú khi được biết Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm” với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện. Nơi đây hiện có hơn 100 loài động vật quý hiếm đang sinh sống.

Quần thể động thực vật phong phú

Do điều kiện thiên nhiên đặc trưng nên hệ động vật của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau rất phong phú, đa dạng với lớp thú có 13 loài thuộc 9 họ, trong đó có hai loài trong Sách đỏ thế giới IUCN' là khỉ đuôi dài và con cà khu. Một số loài phổ biến thường gặp là rái cá, sóc, chồn, khỉ,... Hằng năm, vào tháng Tám, những đàn chim di cư về rừng được làm tổ, sớm chiều theo con nước kiếm ăn, bầu trời rừng đước lại rộn rã như ngày hội. Lớp chim ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có hơn 74 loài thuộc 23 họ, trong đó có 5 loài có trong Sách đỏ của IUCN gồm cò Trung Quốc, bồ nông chân xám, giang sen, rẽ mỏ cong hông nâu và quắn trắng.

Theo thống kê của các nhà khoa học ở Đất Mũi, mỗi năm đất nơi đây lấn biển khoảng 100 mét, đi theo quá trình bồi tụ là sự sống của cây cỏ và các loài sinh vật. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi nơi đây bạt ngàn rừng ngập mặn, tiếng lá cây và tiếng gió biển hoà quyện vào nhau trong một không gian thanh bình, yên ả.

Phải đến với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau mới thấy hết vẻ đẹp của những dãy rừng ngập mặn trù phú dọc theo bờ biển và bờ sông như những bức tường phòng hộ, chống gió, chống xói lở. Những loài cây ngập mặn tiên phong có tác dụng thúc đẩy quá trình lắng đọng phù sa, tích tụ mới ở biển. Điều kiện tự nhiên nơi đây cũng đã ngẫu nhiên tạo ra một môi trường sinh trưởng, phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể.

Mũi đất hướng ra biển

Nhìn trên bản đồ Việt Nam, mũi đất chỉ là một doi đất hơi nhọn hướng ra biển về phía tây, nhưng thực tế tại đây lại là một khoảng không gian rộng lớn, nơi đất mới bồi là một bãi sình lầy bằng phẳng, sâu trong đất liền là rừng được xanh ngút ngàn. Phải phóng tầm mắt thật xa mới thấy thấp thoáng xóm Đất Mũi nằm lẫn với rừng cây. Còn khi nhìn về phía biển trong cái nắng chói chang có thể thấy mờ mờ hình dáng Hòn Khoai ngoài khơi xa. Không những thế, từ vọng hải đài, phóng tầm mắt ra khoi quay mặt hứng luồng gió biển lồng lộng, hít thật sâu vào hai lá phổi, du khách tưởng chừng như ngửi được mùi cá, mùi muối đặc trưng của vùng nước mặn mà từ đó cảm thấy Tổ quốc mình thật gần gũi, mến yêu.

Đất Mũi được nhắc đến như một vùng đất thiêng liêng trong tâm thức người Việt Nam và trong đời, ai cũng ước một lần được đến. Nơi đây có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú. Đến với Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biển, tham quan khu mô phỏng làng rừng kháng chiến; chụp hình dưới chân biểu tượng Mũi Cà Mau và được chiêm ngưỡng nhiều điều kì thú khi hoàng hôn buông xuống, ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la. Bên trái là biển Đông, bên phải là biển Tây, đứng ở Mũi Cà Mau, du khách như đang đứng trên mũi tàu khổng lồ của Tổ quốc rẽ sóng ra khơi.

(Theo Hỏi – đáp về những cánh rừng và vườn quốc gia Việt Nam, Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh, NXB Quân đội nhân dân, 2009, tr. 178 – 181)

a. Mục đích viết của văn bản Nét đặc trưng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là gì? Những đặc điểm nào của văn bản đã giúp em nhận ra mục đích ấy?

b. Văn bản đã trình bày những thông tin cơ bản nào? Nhan đề của văn bản có mối quan hệ như thế nào với những thông tin cơ bản ấy?

c. Xác định cách trình bày thông tin của phần văn bản: “Quần thể động thực vật phong phú. phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể”. Tác dụng của cách trình bày thông tin ấy trong văn bản là gì?

d. Tìm ít nhất một chi tiết quan trọng mà tác giả đã sử dụng để làm rõ nét đặc trưng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. Em đánh giá như thế nào về vai trò của chi tiết ấy trong toàn văn bản?

đ. Xác định loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản và vai trò của chúng trong việc biểu đạt thông tin của văn bản.

e. Qua thông tin “Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm” với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện”, em có suy nghĩ gì về trách nhiệm và vai trò của cá nhân trong việc bảo tồn các giá trị nổi bật của những khu vườn quốc gia?

Xem đáp án

a. Mục đích của văn bản Nét đặc trưng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau là cung cấp cho người đọc thông tin về những nét riêng, độc đáo của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau. Những đặc điểm sau đây của văn bản giúp người đọc có thể xác định được điều đó:

– Cấu trúc của văn bản: có ba phần

+ Phần mở đầu: Từ đầu đến “....”Đất lành chim đậu”, “Rùng là vàng biển là bạc”... → Giới thiệu khái quát về Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

+ Phần nội dung: Từ “Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được thành lập năm 2002...” đến “...từ đó cảm thấy Tổ quốc mình thật gần gũi, mến yêu” → Giới thiệu về lịch sử hình thành, vị trí toạ lạc, diện tích và hai đặc điểm tạo nên nét riêng, khó lẫn của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau (quần thể động thực vật phong phú và vẻ đẹp của mũi đất hướng ra biển).

+ Phần kết thúc: Phần còn lại → Nhận xét khái quát về giá trị của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau và bày tỏ niềm tự hào của người viết về vẻ đẹp rất riêng của vùng đất mũi.

– Đặc điểm hình thức: Văn bản sử dụng các đề mục để làm nổi bật thông tin chính, một số từ ngữ chuyên ngành (địa lí tự nhiên, sinh vật,...), hình ảnh minh hoạ,...

– Cách trình bày thông tin: Văn bản sử dụng một số cách trình bày thông tin như mức độ quan trọng của thông tin (giới thiệu một số thông tin khái quát về vườn quốc gia trước; sau đó làm rõ những nét đặc trưng của vườn, trong đó ưu tiên trình bày chi tiết đặc trưng về quần thể động thực vật của vườn quốc gia), phân loại đối tượng (trình bày đặc điểm của hệ động vật và thực vật của vườn quốc gia).

b.

– Văn bản đã trình bày những thông tin cơ bản như:

+ Khái quát về lịch sử hình thành, vị trí toạ lạc, diện tích, giá trị của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

+ Trình bày chi tiết về những nét đặc trưng của quần thể động thực vật và mũi đất hướng ra biển ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

- Mối quan hệ về mặt ý nghĩa giữa nhan đề với những thông tin cơ bản của văn bản: nhan đề (Nét đặc trưng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau) đã khái quát được những thông tin cơ bản của văn bản (thông tin khái quát và chi tiết về những nét đặc trưng của vườn quốc gia), giúp người đọc có định hướng tiếp nhận văn bản tốt hơn.

c.

– Thông tin của phần văn bản “Quần thể động thực vật phong phú.. phát triển lí tưởng cho các loài tôm cá và nhuyễn thể” được trình bày theo cách phân loại đối tượng (nét đặc trưng của hệ động vật và thực vật ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau).

– Tác dụng của cách trình bày thông tin ấy trong văn bản: làm rõ những nét riêng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau về quần thể động, thực vật; góp phần làm rõ nội dung chính của văn bản.

d.

Chi tiết quan trọng mà tác giả đã sử dụng để làm rõ nét đặc biệt của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau như:

+ Chi tiết về hai loài động vật sinh sống ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có trong Sách đỏ của IUCN là khỉ đuôi dài và con cà khu.

+ Chi tiết về cây đước, cây mắm, hai loài thực vật chiếm ưu thế ở Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

+ Chi tiết về mũi đất hướng ra biển và vẻ đẹp của vườn quốc gia nhìn từ doi đất ấy.

– Vai trò của những chi tiết ấy trong toàn văn bản:

+ Làm rõ những nét đặc trưng của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.

+ Tạo điểm nhấn tiêu biểu cho vẻ đẹp, sức hấp dẫn của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau đối với du khách.

+...

đ.

– Loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: hình ảnh.

– Vai trò của loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: hỗ trợ biểu đạt trực quan nội dung thông tin của văn bản (đặc biệt là minh hoạ, làm rõ thêm cho phần văn bản mũi đất hướng ra biển).

e. Đây là câu hỏi mở. Học sinh trình bày câu trả lời dựa trên hiểu biết của cá nhân đối với những nét độc đáo của Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, đặc biệt là thông tin Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau chính là nơi bảo tồn “nguồn gen đặc hữu quý hiếm” với 22 loài thực vật ngập mặn đã được phát hiện”.

7. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

CHUYỆN TRÒ VỀ THƠ VỚI HUY CẬN

Theo Phan Hoàng

Huy Cận là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn sót lại của phong trào Thơ mới. Vừa đặt chân đến Hà Nội, chúng tôi (sáu người trong đoàn nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh) tham dự hội nghị công tác Nhà văn trẻ toàn quốc lần thứ IV, rời nhà khách Chính phủ để đến thắp hương cho nhà thơ Xuân Diệu và thăm nhà thơ Huy Cận. Buồn thay, nhà thơ Huy Cận vắng nhà. Nhưng rồi chúng tôi cũng đã được gặp ông trong hội nghị. Và ông đã dành riêng cho chúng tôi một cuộc chuyện trò thú vị về thơ.

[...]

– Cái tên Huy Cận không xa lạ gì đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại. Nhưng để đi đến đỉnh cao vinh quang ấy, chàng Huy Cận bắt đầu từ đâu, thưa ông?

Hồi nhỏ tôi rất thích thơ. Quê hương tôi lại là vùng có truyền thống văn nghệ. Tôi sinh năm 1919, tại làng An Phú thuộc huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Bố tôi là một ông đồ Nho đậu Tam trường, có biết tiếng Tây. Ông đi làm hương sư, sau chán, trở về quê cày ruộng và mở lớp dạy chữ Hán. Bố tôi rất mê văn chương, thuộc Truyện Kiều kinh khủng và hay bình Kiều. Mẹ tôi cũng mê Kiều và nể phục tài của chồng.

Còn cái làng tôi thì yêu văn nghệ vô cùng. Vào những đêm trăng thanh gió mát, nhất là vào mùa hè, thường là cả xóm kéo nhau ra bãi cát, gọi là bãi Giang, để hát dặm hát ví với nhau. Nam nữ thanh niên ứng khẩu những câu ví dặm rất hay, rất tình. Không khí thơ mộng chưa thấy ở bất cứ đâu. Và nhiều cuộc tình duyên cũng đã nảy nở, hình thành trong

hoàn cảnh ấy.

Nhà nghèo, nên tôi phải sớm vào Huế nhờ ông cậu nuôi ăn học. Lúc bấy giờ mới bảy tuổi, tôi chưa biết Kiều là gì. Nhưng đêm đêm, có ông quản gia nhà bà con với tôi nằm đọc Kiều sang sảng: “Đề huề lưng túi gió trăng/ Sau lưng theo một vài thằng con con...”. Tôi không biết “đề huề” là gì, “lưng túi” là gì, nhưng vẫn thấy rất hay.

Tất cả những cái đó làm cho mình đâm ra thích thơ, mặc dù tôi là thằng học sinh giỏi cả khoa học nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, nhưng rất mê thơ.

Ông bắt đầu làm thơ từ khi nào?

– Lúc học ở Huế, năm lớp nhất thành chung, mười ba tuổi, tôi làm những bài thơ đầu tiên. Năm đệ tam, mười sáu tuổi, tôi mới có thơ đăng báo ở Huế như Tràng An, Sông Hương,... Đến năm mười tám tuổi, thơ tôi đăng liên tiếp ở báo Ngày nay. Và tôi bắt đầu nổi tiếng từ đó.

– Là nhà thơ rất thành công về thể thơ lục bát, ông nghĩ gì về thể thơ này?

– Lục bát là thể thơ rất Việt Nam, như là hơi thở của giống nòi. Theo nhận định của một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học thì thơ Việt Nam có ba giai đoạn lục bát: lục bát của ca dao, lục bát của Nguyễn Du và lục bát của Huy Cận. Còn lục bát khác cũng có nhiều cái hay, nhưng nó không hẳn thành ra một giai đoạn lục bát.

Tại sao tôi viết được lục bát như vậy? Trước tiên là mê Kiều. Nhưng mê Kiều thì cũng có nhiều người mê kia mà? Điều quan trọng là lục bát thấm vào tôi từ nhỏ với những bài ví dặm câu năm chữ xen những câu lục bát. Như bài Mẹ goá con côi cực hay:

Cực lòng mẹ quá con ôi

Đi thời thương tiếc phải ngồi nuôi con

Ru duyên hời, phận hỡi

Ru duyên hời, phận hỡi

Ru duyên hời, phận hỡi

Ru con ăn con nhởi

Ru non nước tình chung

Ru xuân hạ thu đông

Ru bốn mùa ơ tình cảnh

Bóng trăng lên xấp xách...

– Theo ông, lục bát Huy Cận khác gì lục bát Nguyễn Bính?

Có loại lục bát vè. Có loại lục bát thơ. Lục bát của Nguyễn Bính và lục bát Huy Cận đều là lục bát thơ. Thơ lục bát của tôi cô đọng, đông đặc, nhưng không bí hiểm. So với Nguyễn Bính thì lục bát Huy Cận có phần cô đúc, sâu lắng hơn. Lục bát Nguyễn Bính gần với ca dao, có chất thơ.

Ông nghĩ gì về lục bát của các nhà thơ hôm nay?

Có nhiều bài lục bát tài tình đấy. Như Cây tre của Nguyễn Duy chẳng hạn. Kĩ thuật lục bát bây giờ của nhiều anh cũng tài cũng nhuyễn. Thế nhưng, để có cái hồn riêng của từng người thì thật khó.

– Nhà thơ bây giờ như “lá rụng mùa thu”, nhưng ít người có cái “riêng” chứ chưa nói là hay. Vậy theo ông, một nhà thơ trước hết cần tố chất gì?

– Tài năng. Anh bỏ hàng năm để làm một bài thơ, nhưng không có tài thì cũng hỏng. Nhưng tài năng thể hiện ở chỗ nào? Ở cảm xúc tổng thể, cảm xúc của trái tim, cảm xúc của cơ thể, cảm xúc của cả trí tuệ nữa, tức sự rung động về trí tuệ, vì nếu không thì anh làm xã luận, chứ không làm thơ được.

– Xin cảm ơn ông!

(In trong Phỏng vấn người Hà Nội, Phan Hoàng, NXB Trẻ, 2000)

a. Văn bản trên có phải là một bài phỏng vấn không? Dựa vào đâu em xác định như vậy?

b. Mục đích của văn bản này là gì? Hệ thống câu hỏi trong văn bản có giúp người phỏng vấn đạt được mục đích hay không? Vì sao?

c. Xác định những thông tin cơ bản của văn bản. Nhan đề Chuyện trò về thơ với Huy Cận đã khái quát được nội dung của toàn văn bản chưa? Giải thích suy nghĩ của em.

d. Có ý kiến cho rằng một người phỏng vấn giỏi phải biết ẩn mình khơi gợi, tạo cảm hứng cho nhân vật và người đọc. Theo em, người phỏng vấn trong văn bản trên đã đáp ứng được yêu cầu đó chưa? Phân tích một ví dụ để làm rõ ý kiến của em.

Xem đáp án

a. Văn bản trên là một bài phỏng vấn. Cơ sở xác định:

– Văn bản trình bày nội dung cuộc trao đổi về thơ giữa nhà báo Phan Hoàng và nhà thơ Huy Cận. Bài phỏng vấn được trình bày dưới hình thức ghi chép sau khi đã được biên tập.

– Về bố cục: đảm bảo bố cục ba phần của một bài phỏng vấn.

− Về hình thức:

+ Phân biệt hệ thống câu hỏi và câu trả lời bằng cách dùng kiểu chữ: câu hỏi in nghiêng, câu trả lời in thường, dấu gạch ngang đầu dòng (-).

+ Sử dụng hệ thống câu hỏi mở và thuật ngữ chuyên ngành như: hát ví hát dặm, thơ lục bát, kĩ thuật lục bát, xã luận, để thu thập thông tin về vấn đề cần phỏng vấn.

b. Mục đích của bài phỏng vấn này là thu thập thông tin về khởi nguồn của hồn thơ Huy Cận, ý kiến của Huy Cận về thể thơ lục bát và việc sáng tác thơ lục bát, tố chất cần có của một nhà thơ. Hệ thống câu hỏi trong văn bản đã giúp người phỏng vấn đạt được mục đích phỏng vấn. Cụ thể như sau:

Mục đích

Hệ thống câu hỏi phỏng vấn

Tìm hiểu về khởi nguồn của hồn thơ Huy Cận.

– Cái tên Huy Cận không xa lạ gì đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại. Nhưng để đi đến đỉnh cao vinh quang ấy, chàng Huy Cận bắt đầu từ đâu, thưa ông?

– Ông bắt đầu làm thơ từ khi nào?

Tìm hiểu suy nghĩ của Huy Cận về thơ lục bát và việc sáng tác thơ lục bát.

– Là nhà thơ rất thành công về thể thơ lục bát, ông nghĩ gì về thể thơ này?

– Theo ông, lục bát Huy Cận khác gì lục bát Nguyễn Bính?

– Ông nghĩ gì về lục bát của các nhà thơ hôm nay?

Tìm hiểu suy nghĩ của Huy Cận về tố chất cần có của một nhà thơ.

– Nhà thơ bây giờ như“lá rụng mùa thư”, nhưng ít người có cái “riêng” chứ chưa nói là hay. Vậy theo ông, một nhà thơ trước hết cần tố chất gì?

 

c. Những thông tin cơ bản của văn bản là: khởi nguồn của hồn thơ Huy Cận, ý kiến của ông về thơ lục bát và việc sáng tác thơ lục bát, tố chất cần có của một nhà thơ.

Nhan đề Chuyện trò về thơ với Huy Cận đã khái quát được nội dung của toàn văn bản vì nội dung văn bản trình bày cuộc trò chuyện giữa Phan Hoàng và Huy Cận về những vấn đề liên quan đến thơ như: khởi nguồn của hồn thơ Huy Cận, những suy nghĩ của ông về thể thơ lục bát, so sánh lục bát Huy Cận và lục bát Nguyễn Bính, nhận xét của ông về tình hình sáng tác thơ lục bát hiện nay (thời điểm phỏng vấn) cũng như tố chất cần có của một nhà thơ.

d.

Người phỏng vấn trong văn bản trên đã đáp ứng được yêu cầu biết ẩn mình, khơi gợi, tạo cảm hứng cho nhân vật và người đọc.

Cụ thể:

(1) Người phỏng vấn không nói gì về bản thân, chỉ tập trung nêu sáu câu hỏi với nội dung cho thấy người phỏng vấn đã tìm hiểu kĩ về vấn đề và người được phỏng vấn;

(2) Người phỏng vấn biết khơi mở, tạo cảm hứng cho người trả lời bằng cách: khẳng định vị thế, tài năng của Huy Cận trước khi nêu câu hỏi (Cái tên Huy Cận không xa lạ gì đối với nền thi ca Việt Nam hiện đại, Là nhà thơ rất thành công về thể thơ lục bát); dẫn dắt khéo léo (Nhà thơ bây giờ như “lá rụng mùa thu”, nhưng ít người có cái “riêng” chứ chưa nói là hay);

(3) Trong suốt cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn thể hiện thái độ cầu thị, tôn trọng người được phỏng vấn (Thưa ông, Theo ông, Xin cảm ơn ông,...);

(4) Bài phỏng vấn được biên tập cẩn thận, các nội dung phỏng vấn được sắp xếp theo trình tự logic và cuốn hút người đọc.

8. Tự luận
1 điểm

Theo sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, lựa chọn nào sau đây không phải là tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản thông tin?

a. Cung cấp thông tin chi tiết một cách trực quan.

b. Cung cấp thêm thông tin về đối tượng mà chưa được thể hiện bằng ngôn ngữ.

c. Tăng cường tính hấp dẫn của thông tin được trình bày trong văn bản.

d. Làm nổi bật những thông tin quan trọng.

Xem đáp án

Đáp án đúng là C.

9. Tự luận
1 điểm

UN là tên viết tắt của tổ chức quốc tế nào?

a. Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.

b. Tổ chức Y tế Thế giới.

c. Tổ chức Thương mại Thế giới.

d. Liên hợp quốc (Liên hiệp quốc).

Xem đáp án

Đáp án đúng là D

10. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Vườn Quốc gia Cúc Phương (Bài 3, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo) và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

a. Chọn loại phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp nhất và tóm tắt thông tin được trình bày trong phần văn bản Quần thể động, thực vật bằng loại phương tiện này.

b. Liệt kê (những) loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong phần văn bản Cảnh quan thiên nhiên và giá trị văn hoá và cho biết tác dụng của chúng trong việc biểu đạt thông tin.

Xem đáp án

a. Có thể lựa chọn một trong các phương tiện phi ngôn ngữ như sơ đồ, bảng biểu để tóm tắt thông tin được trình bày trong phần văn bản Quần thể động, thực vật của văn bản Vườn Quốc gia Cúc Phương.

Sơ đồ gợi ý:

Media VietJack

b.

- Loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong phần văn bản Cảnh quan thiên nhiên và giá trị văn hoá: hình ảnh (hình 4).

- Tác dụng: Hình ảnh bản làng của cộng đồng người Mường mang tính trực quan, sinh động, khiến người đọc dễ hình dung nét riêng về kiến trúc, nếp sinh hoạt,... của dân tộc Mường.

11. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu bên dưới:

Media VietJack

TĂNG CÔNG SUẤT NĂNG LƯỢNG SẠCH

ĐỂ “NÍU GIỮ” MỤC TIÊU KHÍ HẬU ĐẾN NĂM 2023

a. Phân tích tác dụng của việc sử dụng phối hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản trên.

b. TTXVN là tên viết tắt của tổ chức nào?

Xem đáp án

a. Tác dụng của việc sử dụng phối hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản: trình bày thông tin một cách trực quan và làm nổi bật những thông tin quan trọng như:

– Thực trạng: Nhiệt độ trung bình toàn cầu hiện nay ấm hơn 1,1 độ C so với thời kì tiền công nghiệp và nhiệt độ năm 2023 cũng đã có lúc cao kỉ lục.

– Vai trò của năng lượng sạch trong việc “níu giữ” mục tiêu khí hậu đến năm 2023: Các công nghệ năng lượng sạch đảm nhận 1/3 trọng trách giảm khí thải.

– Cách thức tăng công suất năng lượng sạch để đảm bảo mục tiêu khí hậu năm 2023.

b. TTXVN là tên viết tắt của Thông tấn xã Việt Nam

12. Tự luận
1 điểm

Giải thích tên viết tắt được in đậm trong các đoạn trích sau và cho biết đâu là tên viết tắt của tổ chức quốc tế:

a. “Các bạn hãy xem cát như tiền và dòng sông là ngân hàng. Con người là khách vay, và hiện tại chúng ta đang mắc nợ đầm đìa, tức đã khai thác quá nhiều so với khả năng cung cấp tự nhiên của dòng sông”, ông Mác-Gấu-choi (Marc Goichot), Quản lí Chương trình Nước ngọt của WWF khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nói.

(Ngọc Tài – Hoàng Nam – Thu Hằng, Trả nợ dòng Mekong, https://onexpress.net/tra-no-dong-mekong-4641735.html, ngày 17.8.2023)

b. Vào tháng 10/2022, WHO đã bày tỏ lo ngại về tình trạng gia tăng các ca mắc lao mới trên toàn thế giới vào năm 2021. Theo dữ liệu của WHO, khoảng 10,6 triệu người đã mắc căn bệnh này trong năm 2021.

(TTXVN, WHO cảnh báo số ca tử vong do bệnh lao tại Châu Âu đang tăng trở lại, https://nhandan.vn/who-canh-bao-so-ca-tu-vong-do-benh-lao-

tai-chau-au-dang-tang-tro-lai-post744595.html, ngày 24.3.2023)

c. Với niềm đam mê, sự hết lòng với nghề và tâm nguyện được phụng sự cho sự nghiệp điện ảnh của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung, mảng phim Kí sự Truyền hình của TFS đã gây được tiếng vang và có đóng góp rất đáng kể. Chúng ta có thể dễ dàng kể ra hàng loạt tác phẩm kí sự như: Mekong kí sự, Kí sự hoả xa, Kí sự sông Hằng, Kí sự “Hành trình theo chân Bác”...

(Thanh Nhàn, Huyền thoại “Mekong kí sự”,

https://tozozo.hto.com.on/huyen-thoai-mekong-ky-su, ngày 1.5.2020)

Xem đáp án

a. WWF (World Wide Fund For Nature): Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên. Đây là tên viết tắt của tổ chức quốc tế.

b. WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới. Đây là tên viết tắt của tổ chức quốc tế.

c. TFS (Ho Chi Minh City Television Film Studios): Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh.

13. Tự luận
1 điểm

Trình bày các yêu cầu của bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

Xem đáp án

Yêu cầu của bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử:

- Giới thiệu rõ ràng, cụ thể về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

- Trình bày thông tin theo một số kiểu cấu trúc như: trật tự không gian, trật tự thời gian, quan hệ nhân quả, phân loại đối tượng…

- Dùng đề mục và các dấu hiệu hình thức để làm nổi bật thông tin quan trọng.

- Sử dụng kết hợp một số phương tiện phi ngôn ngữ (sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh…) để minh họa và làm nổi bật thông tin.

- Có thể kết hợp thuyết minh với miêu tả, biểu cảm, tự sự để hấp dẫn, thu hút người đọc.

- Trình bày thông tin chính xác, rõ ràng, hấp dẫn.

14. Tự luận
1 điểm

Liệt kê một số kĩ năng cần lưu ý khi viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

Xem đáp án

Một số kĩ năng viết cần lưu ý khi viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử như: kĩ năng thu thập tư liệu cần cho một bài văn thuyết minh, kĩ năng trình bày thông tin để đạt được mục đích viết, kĩ năng sử dụng một số dấu hiệu hình thức để làm nổi bật thông tin quan trọng, kĩ năng lựa chọn và sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng kết hợp thuyết minh với miêu tả, biểu cảm, tự sự,...

15. Tự luận
1 điểm

Theo em, khi viết văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử, người viết nên chọn trình bày thông tin theo (những) kiểu cấu trúc nào? Vì sao?

Xem đáp án

- Khi viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử, cần đảm bảo cấu trúc 3 phần: 

+ Mở bài: giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử. 

+ Thân bài: lần lượt trình bày các thông tin về đặc điểm của danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử: vị trí tọa lạc, lịch sử hình thành, đặc điểm kiến trúc, cảnh quan,…; giá trị văn hóa, lịch sử, cách thức tham quan,… 

+ Kết bài: đánh giá khái quát về danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử; bày tỏ suy nghĩ, tình cảm về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (có thể đưa ra lời mời tham quan).   

- Vì theo cấu trúc này mới thể hiện và làm nổi bật được danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

16. Tự luận
1 điểm

Lí giải cụ thể tác dụng của việc sử dụng kết hợp các yếu tố như miêu tả, biểu cảm, tự sự trong bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử.

Xem đáp án

Việc sử dụng kết hợp với các yếu tố khác trong bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử

Tác dụng

Miêu tả

Cung cấp thông tin chi tiết, cụ thể về một số phương diện của danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử như vị trí toạ lạc, đặc điểm kiến trúc, cảnh quan,...

Biểu cảm

Bày tỏ tình cảm, cảm xúc, thái độ của bản thân đối với danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử.

Tự sự

Kể lại những sự việc liên quan đến lịch sử hình thành, giá trị văn hoá, lịch sử,... của danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử,...

17. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Nhân dịp em được tham gia trại hè quốc tế, để giới thiệu vẻ đẹp của đất nước Việt Nam với bạn bè năm châu, em sẽ chọn giới thiệu về danh lam thắng cảnh tiêu biểu nào? Hãy viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh của đất nước mà em yêu thích để thực hiện nhiệm vụ trên.

Xem đáp án

Em thực hiện viết bài văn theo quy trình viết bốn bước cụ thể như sau:

Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết

– Xác định đề tài, người đọc, mục đích viết:

+ Đề tài bài viết ở đây là một danh lam thắng cảnh tiêu biểu cho đất nước Việt Nam.

+ Người đọc: Bạn bè đến từ nhiều quốc gia ở một trại hè quốc tế, họ mong muốn được biết về một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của đất nước Việt Nam.

+ Mục đích viết: Giới thiệu về một danh lam thắng cảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp của đất nước Việt Nam.

– Thu thập tư liệu: Thực hiện theo hướng dẫn trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, đối với mục đích viết của bài văn này, học sinh nên chú ý thu thập những thông tin thể hiện rõ tính chất vẻ đẹp tiêu biểu, độc đáo của danh lam thắng cảnh mà em muốn giới thiệu. Khi thu thập tư liệu, học sinh nên lưu ý kiểm tra tính chính xác, độ tin cậy và cập nhật của thông tin.

Buớc 2: Tìm ý và lập dàn ý

- Tìm ý cho bài viết được thực hiện dựa trên việc hệ thống và phân loại các thông tin đã thu thập được có liên quan đến danh lam thắng cảnh. Xác định rõ (những) thông tin liên quan đến việc làm rõ vẻ đẹp tiêu biểu độc đáo của danh lam thắng cảnh mà em muốn giới thiệu.

– Lập dàn ý theo sơ đồ dàn ý trong sách giáo khoa.

Bước 3: Viết bài

Dựa trên dàn ý đã lập, em tiến hành viết bài.

Trước khi viết, em cần đọc lại một số lưu ý được trình bày trong sách giao khoa và Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử trong sách giáo khoa để hiểu rõ hơn về yêu cầu của kiểu bài.

Trong khi viết, em nên thường xuyên đọc lại những phần đã viết, đối chiếu với những tiêu chí của bảng kiểm để đảm bảo bài viết luôn đáp ứng tốt các yêu cầu của kiểu bài.

Bài văn mẫu tham khảo:

Đất nước hình chữ S nhỏ bé của chúng ta có rất nhiều địa điểm du lịch độc đáo và nổi tiếng. Tự hào được thiên nhiên ưu ái, nước Việt Nam ta có rất nhiều bãi biển, vũng vịnh tuyệt đẹp. Có thể kể đến rất nhiều những địa điểm như thế. Nhưng không thể nào thiếu Vịnh Hạ Long.

Hạ long là cái tên tự hào của người Việt Nam. Được UNESCO công nhận là bảy kỳ quan thiên nhiên đẹp nhất thế giới, Vịnh Hạ Long đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng hình ảnh đẹp của chúng ta trong mắt bạn bè quốc tế. Vịnh Hạ Long nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc một phần của vịnh Bắc Bộ. Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh – Việt Nam bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, và một phần của huyện đảo Vân Đồn. Phía tây nam vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần con lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km với tổng diện tích 1553 km². Vịnh Hạ Long gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ. Đảo ở đây có hai loại là đảo đá vôi và đảo phiến thạch tập trung ở Bái Tử Long và vịnh Hạ Long. Ở đây, chúng ta có thể tham gia chiêm ngưỡng hàng loạt những hang động đẹp, nổi tiếng. Vùng di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận có diện tích 434 km² gồm 775 đảo. Phần thiên nhiên được công nhận này như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Đầu Gỗ ở phía Tây, hồ Ba Hầm ở phía nam và đảo Cống Tây ở phía đông. Sự độc đáo của vịnh Hạ Long chính là hình dáng, đặc điểm của những hòn đảo nhỏ ấy. Các hang động đẹp cũng là điểm nhấn lớn của Hạ Long. Từng đảo, từng đảo quần tụ lại nhìn xa cứ như lớp lớp chồng lên nhau, tiến lại gần thì như xen kẽ nhau tạo thành một quần thể đẹp đến lạ lùng. Phải tự hào chúng ta được tạo hóa ưu ái. Từng đảo của vịnh không mang những đẹp mà còn mang hình hài của vạn vật. Từ hòn Trống Mái, hòn Ông Sư, hòn Lã Vọng rồi đến đảo Tuần Châu, hang Trinh Nữ….

Vịnh Hạ Long không chỉ đẹp bởi đảo đá, núi đá, hang động, mà còn đẹp bởi nước biển ở đây. Nước biển rất trong xanh. Chính vì thế mà du khách tới đây thường để tắm biển và ngắm đảo, hang động. Tên gọi Vịnh Hạ Long có từ thời Pháp thuộc. Trước đây vịnh có tên là Lục Châu, Lục Hải. Thời nhà Lý, vịnh có tên là Hải Châu. Đến thời vua Trần, Lê được gọi bằng các tên như: An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn, Lục Thủy. Tên của vịnh được thay đổi nhiều qua các thời kỳ. Cái tên vịnh Hạ Long xuất phát từ truyền thuyết Rồng đáp xuống bảo vệ chúng ta khỏi lũ giặc ngoại xâm. Theo nghĩa Hán Việt "Long" là rồng, "hạ" là đáp xuống. Cái tên Hạ Long chính là để nhắc về truyền thuyết này. Vịnh Hạ Long được vinh danh là kỳ quan thiên nhiên thế giới không chỉ bằng vẻ đẹp mà còn bởi nhiều yếu tố khác. Chẳng hạn như, ở nơi đây có rất nhiều địa danh khảo cổ học nổi tiếng: Đồng Mang, Soi Nhụ, Thoi Giếng… Nó đã chứng minh, Hạ Long là cái nôi của nền văn minh con người thời kỳ Hậu đồ đá. Hơn hết, ở đây còn có sự đa dạng sinh học bậc nhất. Với sự tập trung của nhiều loài động thực vật đặc trưng cho từng kiểu hệ sinh thái: hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… cùng với hàng ngàn loài động vật biển quý hiếm chỉ có ở vịnh Hạ Long. Điểm quan trọng không kém của vịnh Hạ Long này chính là nó gắn liền với nhiều giai thoại lịch sử của dân tộc, với nhiều chiến công chống giặc ngoại xâm lẫy lừng của các vị tướng anh hùng. Có thể kể đến: chiến thắng sông Bạch Đằng lẫy lừng năm xưa.

Một kỳ quan thiên nhiên, một dấu ấn lịch sử. Đến vịnh Hạ Long bạn không chỉ được tận hưởng một không gian đẹp, thiên nhiên bao trùm, cảnh sắc thoải mái nhẹ nhàng và êm dịu, mà còn được thưởng thức những món ăn ngon chế biến từ hải sản, các hoạt động giải trí. Đến Hạ Long chắc chắn bạn sẽ có một kì nghỉ dưỡng tuyệt vời.

Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

Sau khi viết, em tự đánh giá lại bài viết của mình bằng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử đã sử dụng ở Bước 3. Tiếp theo, đối chiếu với kết quả bài viết đã thực hiện trên lớp để xác định ở bài viết này:

– Kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh/ di tích lịch sử của em đã tiến bộ hơn bài viết trước ở (những) tiêu chí nào?

– Em cần tiếp tục cải thiện kĩ năng viết kiểu bài này ở (những) tiêu chí nào và bằng cách nào?

18. Tự luận
1 điểm

Quy trình thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử gồm những bước nào? Ở bước Trao đổi, đánh giá cần sử dụng công cụ gì để tự đánh giá và đánh giá bài nói của bạn?

Xem đáp án

Quy trình thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử gồm bốn bước: Chuẩn bị bài nói; Tìm ý, lập dàn ý; Luyện tập, trình bày, Trao đổi, đánh giá.

Ở bước Trao đổi, đánh giá cần sử dụng công cụ bảng kiểm kĩ năng thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử để tự đánh giá và đánh giá bài nói của bạn (Bài 3, Ngữ văn 9, tập một). Ngoài ra, em có thể phát triển bảng kiểm thành thang đánh giá hoặc rubric để tự đánh giá và đánh giá mức độ đạt được các yêu cầu về kĩ năng thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử của bạn.

19. Tự luận
1 điểm

Ở phần Nội dung chính của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, cần trình bày những nội dung gì?

Xem đáp án

Ở phần Nội dung chính của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, cần trình bày có hệ thống các thông tin liên quan đến các phương diện khác nhau của danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử như: vị trí toạ lạc; lịch sử hình thành; đặc điểm kiến trúc, cảnh quan; giá trị lịch sử, văn hoá; cách thức tham quan;...

20. Tự luận
1 điểm

Có thể sử dụng những loại phương tiện phi ngôn ngữ nào để bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử thêm phần hấp dẫn, thú vị?

Xem đáp án

Có thể sử dụng những loại phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như hình ảnh, đoạn phim, sơ đồ, đồ thị, bảng biểu,... để bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử thêm hấp dẫn, thú vị.

21. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Em được phân công thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử nơi em sống để trình bày trong buổi sinh hoạt ngoại khoá của học sinh khối 9 với chủ đề Vẻ đẹp quê hương. Hãy chuẩn bị bài nói để trình bày trong buổi sinh hoạt.

Xem đáp án

Tham khảo

Giả sử em chọn thuyết minh về Di tích lịch sử Bến Nhà Rồng, em cần tiến hành lần lượt các bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị bài nói

Em tiến hành tìm hiểu các thông tin cho bài nói của mình.

- Đối tượng người nghe: các bạn học sinh khối 9, thầy cô, khách mời,

- Địa điểm trình bày: Sân trườn

- Thời lượng trình bày: khoảng 10 – 15 phút

- Thông tin về Di tích lịch sử Bến Nhà Rồng: tìm hiểu bằng cách tham quan và ghi chép thông tin vào phiếu thu thập thông tin danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (tham khảo phần Viết, Bài 3, Ngữ văn 9, tập một). Ngoài ra, có thể tìm tư liệu về Bến Nhà Rồng trong sách baosm trên Internet, sách chuyên khảo, tạp chí,…

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý

- Đọc, phân loại, sắp xếp các thông tin; đánh dấu các thông tin quan trọng; ghi chú nguồn trích dẫn và thư mục tham khảo mà em sử dụng cho bài nói.

- Từ thông tin thu thập, lập dàn ý cho bài nói (tham khảo dàn ý sau):

+ Mở đầu: Nêu tên và giới thiệu khái quát về Bến Nhà Rồng (Di tích lịch sử nổi tiếng gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước vĩ đại của chủ tịch Hồ Chí Minh. Trở thành một biểu tượng của thành phố mang tên Bác)

+ Nội dung chính:

* Vị trí tọa lạc: Nằm ở số 1 Nguyễn Tất Thành, phường 12, quận 4. Hiện nay, Bến Nhà Rồng có bốn khu vực chính là Bảo tàng Hồ Chí Minh, tượng đài Bác Hồ, khuôn viên bến cảng và đài phun nước. Các tín đồ du lịch vẫn thường hay gọi tòa nhà bảo tàng là Nhà Rồng và bến cảng ở ngay bên cạnh là Bến Nhà Rồng. Khu vực bảo tàng ở Bến Nhà Rồng hiện tại có tổng diện tích lên đến 1500 m2 với 1 tầng trệt, 2 tầng lầu và 9 phòng trưng bày đẹp mắt.

* Lịch sử hình thành: Bến Nhà Rồng nằm bên sông Sài Gòn, trước kia là trụ sở của hãng vận tải Messageries Maritimes (từ năm 1864-1955) được xây dựng từ giữa năm 1862, là một trong những công trình đầu tiên thực dân Pháp xây dựng sau khi chiếm được vùng đất này. Công trình có lối kiến trúc công sở phương Tây với hành lang bao quanh và những vòm cuốn, nhưng lại có mái mang nét kiến trúc phương Đông. Đặc biệt, trên đỉnh mái có trang trí đôi rồng kiểu lưỡng long chầu nguyệt - một lối trang trí phổ biến trên các kiến trúc truyền thống Việt Nam. Và kiến trúc ấy được gọi là Nhà Rồng hay Bến Nhà Rồng. Sau khi thực dân Pháp thất bại ở Đông Dương năm 1954, Bến Nhà Rồng được chính quyền miền Nam Việt Nam quản lý, sử dụng phục vụ cảng đường thủy của chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Bến Nhà Rồng được tu sửa, trang trí lại.

* Đặc điểm kiến trúc, cảnh quan:  

Kiến trúc của Bến Nhà Rồng mang đậm hơi hướng Á Đông với phần đỉnh được tạo tác theo hướng “Lưỡng long chầu nguyệt”. Tính đến nay, công trình vẫn còn lưu giữ được nét đẹp vẹn nguyên như ngày đầu dù đã trải qua nhiều lần thay đổi chỉnh sửa. 

Bảo tàng Hồ Chí Minh trong khuôn viên của Bến Nhà Rồng hiện có đến 9 phòng trưng bày, trong đó 6 phòng lưu trữ các hiện và tư liệu liên quan đến Bác.Hiện tại, các gian trưng bày của Bảo tàng Hồ Chí Minh được chia thành 5 chủ đề xoay quanh các giai đoạn trong cuộc đời của Bác.

* Giá trị lịch sử, văn hóa: Bến Nhà Rồng chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc. Nơi này từng là trung tâm giao thương quan trọng của khu vực, nhiều thương thuyền quốc tế ghé thăm, trao đổi buôn bán. Từ Bến Nhà Rồng cũng mở ra con đường cách mạng cho nhân dân Việt Nam khi đây là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.

+ Kết thúc: Đánh giá khái quát về di tích lịch sử, bày tỏ suy nghĩ tình cảm về di tích, đưa ra một lời mời gọi tham quan (nếu cần)

- Chuẩn bị các phương tiện phi ngôn ngữ để tăng sự hấp dẫn cho bài nói (hình ảnh Bến Nhà Rồng qua các thời kì, sơ đồ tham quan, đoạn phim về Bến Nhà Rồng…)

Bước 3: Luyện tập, trình bày

- Luyện tập ở nhà bằng cách trình bày trước gương hoặc quay video để xem lại và chỉnh sửa.

- Trình bày các thông tin rõ ràng, chính xác.

- Kết hợp số liệu, phương tiện, phi ngôn ngữ.

- Những kiến, các câu hỏi của người nghe và câu trả lời.

- Có thể trình bày trước cho ba mẹ, bạn bè, thầy cô xem để nhận những đóng góp phản hồi, hoàn thiện bài trình bày.

Bước 4: Trao đổi, đánh giá

Sau khi trình bày học sinh sử dụng bảng kiểm đánh giá kỹ năng thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (Ngữ văn 9, tập một) để tự đánh giá và góp ý cho bài nói của các bạn khác trong buổi sinh hoạt ngoại khóa.