Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 2 GIÁ TRỊ CỦA VĂN CHƯƠNG
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 2 GIÁ TRỊ CỦA VĂN CHƯƠNG

A
Admin
VănLớp 953 lượt thi
15 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

So sánh sự khác nhau của cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong văn bản nghị luận dựa vào bảng sau (làm vào vở):

 

Cách trình bày vấn đề khách quan

Cách trình bày vấn đề chủ quan

Đặc điểm

……..

……..

Tác dụng

……..

……..

Ví dụ

……..

……..

Xem đáp án

 

Cách trình bày vấn đề

khách quan

Cách trình bày vấn đề

chủ quan

Đặc điểm

Cách trình bày vấn đề khách quan chỉ đưa thông tin, bằng chứng khách quan (số liệu, lời trích dẫn trực tiếp,…)

Cách trình bày vấn đề chủ quan đưa ra ý kiến, đánh giá chủ quan, thể hiện rõ tình cảm, quan điểm của người viết.

Tác dụng

nhằm tạo cơ sở vững chắc cho các lập luận

nhằm tác động đến cảm xúc của người đọc, khơi gợi sự đồng cảm, quan tâm của người đọc đối với vấn đề.  

Ví dụ

* Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương: Cách trình bày vấn đề khách quan của tác giả là đưa ra các thông tin về cách làm bánh trôi từ đó liên hệ tới hình ảnh bánh trôi trong bài thơ của Hồ Xuân Hương.

* Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương: cách trình bày vấn đề chủ quan của tác giả là đưa ra cảm nhận, ý kiến, đánh giá về chiếc bánh trôi chỉ riêng bài thơ Hồ Xuân Hương mới tạo nên được. Ẩn sau đó là biết bao nỗi niềm, tâm tư của Hồ Xuân Hương gửi gắm.

2. Tự luận
1 điểm

Phân tích sự kết hợp giữa cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trọng đoạn văn sau:

Chủ đề cách ứng xử với thiên nhiên được tô đậm hơn qua những chuyển biến trong nhận thức của nhân vật Hoài. Ban đầu, Hoài chưa hiểu quyết định trả tự do cho chim bồng chanh đỏ, nên đã trách anh Hiền. Lời nói của anh đã thức tỉnh Hoài, đồng thời thức tỉnh chúng ta những người đọc: “Nếu có đứa nào phá rối nhà mày thì mày tính sao... Vậy thì mày có muốn đóng vai thằng ăn cướp đối với gia đình con bồng chanh không?”. Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chim bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người. Vì thế, những điều ta không muốn xảy đến với mình, ta đừng gây ra cho tự nhiên và các loài vật. Từ đó, Hoài “thương đôi bồng chanh bây giờ đã tha con đến một cánh đồng nào, ở một đầm nước xa lạ, chúng lại cùng nhau xây tổ để tránh mưa tránh nắng...”. Tình thương ấy xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn. Vì hành động nhất thời của hai anh em, chim bồng chanh đã phải bỏ tổ để đi nơi khác. Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩn trọng khi ứng xử với thiên nhiên, vì bất kì hành động vô tâm nào cũng có thể gây ra những tổn thương đối với muôn loài.

(Trích Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn “Bồng chanh đỏ”,

Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

Xem đáp án

– Cách trình bày khách quan: đoạn văn dẫn ra những bằng chứng từ trong truyện ngắn Bồng chanh đỏ để làm sáng tỏ ý kiến của mình (bằng cách trực tiếp và gián tiếp).

– Cách trình bày chủ quan: đoạn văn thể hiện những ý kiến, đánh giá chủ quan của người viết đối với các bằng chứng dẫn ra từ truyện ngắn Bồng chanh đỏ. Những bài học, ý nghĩa rút ra từ đó là góc nhìn riêng của người viết (Những lời ấy khiến Hoài nhận ra giữa thiên nhiên và con người luôn có sự tương quan, chìm bồng chanh cũng có mong muốn bảo vệ tổ ấm của nó, giống như con người; Chi tiết này nhắc nhở chúng ta cần cẩu trọng khi ứng xử với thiên nhiên...), thể hiện cách đánh giá, cảm xúc của người viết về tác phẩm (Tình thương ấy phát từ lòng trắc ẩn và sự đồng cảm, dù muộn mằn).

– Tác dụng của việc kết hợp hai cách trình bày vấn đề: vừa đảm bảo tính đúng đắn của lập luận (dựa vào cách trình bày vấn đề khách quan), cho thấy những ý kiến, quan điểm của người viết có cơ sở, căn cứ từ văn bản chứ không phải sự suy diễn tuỳ tiện, vừa thể hiện tình cảm, cảm xúc, khơi gợi được sự đồng cảm của người đọc, trình bày được các cách nhìn chủ quan, sự khám phá của người viết bài với tác phẩm Bồng chanh đỏ (dựa vào cách trình bày vấn đề chủ quan).

3. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

TIẾNG NÓI CỦA VĂN NGHỆ

Nguyễn Đình Thi

Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.

Nguyễn Du viết:

Cỏ non xanh tận chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.

nào phải để cho ta biết cảnh mùa xuân ra sao mà thôi, hai câu thơ làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả đã nhìn thấy trong cảnh vật, rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân lại như tái sinh, tươi trẻ mãi, và cảm thấy trong lòng ta có những sự sống tươi trẻ luôn luôn tái sinh ấy. Tất cả những cảnh, những tình, những con người, những sự việc của một cuốn tiểu thuyết, nếu chỉ làm cho trí tò mò hiểu biết của ta thoả mãn thì đóng quyển sách lại cũng không còn gì. Nhưng chúng ta đọc các dòng cuối cùng rồi, chúng ta biết hết đầu đuôi câu chuyện rồi, chúng ta biết nàng Kiều mười lăm năm chìm nổi những gì, hay là An-na Ca-rê-nhi-na (Anna Karenina) đã chết thảm khốc ra sao, chúng ta không còn cần biết gì thêm, mà vẫn còn ngồi mãi trước trang sách chưa muốn gấp, đầu óc bâng khuâng nặng những suy nghĩ, trong lòng còn vương vất những vui buồn không bao giờ quên được nữa: chúng ta vừa nghe thấy lời gửi từ mấy trăm năm trước của Nguyễn Du hay Tôn-xtôi.

Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội. [...] Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết luân lí, triết học, mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phẫn khích, và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đương hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa. Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi, ánh sáng ấy bây giờ biến thành của ta, và chiếu toả lên mọi việc chúng ta sống, mọi con người ta gặp, làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ. Những nghệ sĩ lớn đem tới được cho cả thời đại họ một cách sống của tâm hồn.

[...] Lời gửi của văn nghệ là sự sống. Sự sống ấy toả đều cho mọi vẻ, mọi mặt của tâm hồn. Văn nghệ nói chuyện với tất cả tâm hồn chúng ta, không riêng gì trí tuệ, nhất là trí thức.

Có lẽ văn nghệ rất kị “trí thức hoá” nữa. Một nghệ thuật đã trí thức hoá thường là trừu tượng, khô héo. Nhưng văn nghệ vẫn nói nhiều nhất với cảm xúc, nơi đụng chạm của tâm hồn với cuộc sống hằng ngày. Vì văn nghệ không thể sống xa lìa cuộc sống, và cuộc sống là gì, nếu không phải trước hết là hành động, là làm lụng, là cần lao”. [...] Chỗ đứng của văn nghệ chính là chỗ giao nhau của tâm hồn con người với cuộc sống hành động, cuộc đời sản xuất, cuộc đời làm lụng hằng ngày, giữa thiên nhiên và giữa những người làm lụng khác. Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tỉnh yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta. Cảm giác tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ. Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống. Tư tưởng nghệ thuật không bao giờ là trí thức trừu tượng một minh trên cao. Một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, cho đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm chúng ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc chúng ta nằm lười yên một chỗ. Những nghệ sĩ không đến mở cuộc thảo luận lộ liễu và khô khan với chúng ta về một vấn đề khoa học hay triết học. Anh làm cho chúng ta nhìn, nghe, rồi từ những con người, những câu chuyện, những hình ảnh, những nỗi niềm của tác phẩm sẽ khơi mung lung trong trí óc ta những vấn đề suy nghĩ. Cái tư tưởng trong nghệ thuật là một tư tưởng náu mình, yên lặng. Và cái yên lặng của một câu thơ lắng sâu xuống tư tưởng. Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta sẽ dừng lại trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Cả tâm hồn chúng ta đọc, không phải chỉ có trí thức. Và khác với cách đọc riêng bằng trí thức, lần đọc thứ hai chậm hơn, đòi hỏi nhiều cố gắng hơn, nhiều chỗ chúng ta dừng lại hơn. Cho đến một câu thơ kia, người đọc nghe thì thầm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy. [...]

(Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)

a. Nhận xét về cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày vấn đề chủ quan trong đoạn “Lời gửi của nghệ thuật ... cách sống của tâm hồn”.

b. Luận đề của văn bản là gì? Xác định bố cục và luận điểm của văn bản dựa vào gợi ý sau:

Bố cục của văn bản

Luận điểm

Phần 1 (Từ đầu đến “cách sống của tâm hồn”)

Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ.

Phần 2 ….

 

Phần 3 ….

 

 

c. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Những lí lẽ, bằng chứng trong đoạn cuối văn bản đã làm sáng tỏ luận đề như thế nào?

d. Em ấn tượng nhất với đoạn văn nào trong bài viết? Hãy chia sẻ ấn tượng ấy với các bạn.

đ. Có bạn trẻ cho rằng: Khi đọc tác phẩm truyện, chỉ cần tập trung vào cốt truyện cho thoả trí tò mò là đủ. Em có đồng ý với cách đọc này hay không? Từ nội dung văn bản và trải nghiệm đọc của bản thân, hãy trao đổi với bạn về cách đọc mà em cho là phù hợp nhất.

Xem đáp án

a.

- Cách trình bày vấn đề khách quan thể hiện ở chỗ đoạn văn đã nêu được những quy luật khách quan của văn nghệ (Lời gửi của nghệ thuật không những là một bài học luân lí hay một triết lí về đời người, hay những lời khuyên xử thế, hay một sự thực tâm lí, hoặc xã hội,...).

- Cách trình bày vấn đề chủ quan thể hiện sự đánh giá, tình cảm yêu thích của tác giả với những điều mới mẻ mà văn nghệ đem đến, thông qua các yếu tố về ngôn từ trong đoạn văn. Chẳng hạn: phép điệp và liệt kê trong đoạn “và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ, từng trang sách, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra đường hằng ngày chung quanh ta, một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người trước kia ta chưa nhìn thấy, bao nhiêu vẻ mới mẻ, bao nhiêu vấn đề mà ta ngạc nhiên tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta nữa.”; hình ảnh so sánh “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một ánh sáng riêng, không bao giờ nhoà đi”.

= > Hai cách trình bày thông tin này khi kết hợp với nhau vừa thể hiện tính đúng đắn, xác thực của luận điểm, vừa thể hiện góc nhìn riêng của người viết, khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc.

b.

- Luận đề của văn bản: những đặc điểm của văn nghệ và sự tác động của văn nghệ đến đời sống.

- Bố cục và luận điểm của văn bản:

Bố cục của văn bản

Luận điểm

Phần 1 (Từ đầu đến “Cách sống của tâm hồn”)

Tác phẩm nghệ thuật vừa được xây dựng từ những vật liệu có sẵn, vừa gửi gắm lời nhắn gửi của người nghệ sĩ.

Phần 2 (Từ “Lời gửi của văn nghệ” đến “tình cảm”

Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.

Phần 3 (còn lại)

Nghệ thuật là tiếng nói của tư tưởng.

 

c. Trong đoạn cuối văn bản, tác giả đã đưa ra các bằng chứng về đặc điểm của tác phẩm văn nghệ đối với tư tưởng người đọc (một câu thơ, một trang truyện, một vở kịch, đến một bức tranh, một bản đàn, ngay khi làm ta rung động trong cảm xúc, có bao giờ để trí óc ta nằm lười yên một chỗ); cách người nghệ sĩ trao đổi, thảo luận tư tưởng với bạn đọc và cách đọc một bài thơ hay bằng cả tâm hồn, trong sự đối sánh với “cách đọc riêng bằng trí thức”. Những bằng chứng này giúp củng cố cho lí lẽ: sự tác động vào tư tưởng của văn nghệ phải thông qua trí tưởng tượng, phải “thấm mình vào cuộc sống”. Từ đó, lí lẽ và bằng chứng góp phần làm sáng tỏ luận điểm (nghệ thuật là tiếng nói của tư tưởng) và luận đề (đặc điểm của văn nghệ và tác động của văn nghệ đến đời sống).

d. Em ấn tượng với đoạn văn: Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người. Nhưng trong nghệ thuật, tư tưởng từ ngay cuộc sống hằng ngày nảy ra, và thấm trong tất cả cuộc sống.

=> Đoạn văn làm nổi bật phương diện nội dung  chủ đề, tư tưởng mà tác phẩm muốn thể hiện.

đ. Việc đọc một tác phẩm truyện nói riêng và tác phẩm văn học nói chung không chỉ dừng lại ở việc hiểu nội dung bề mặt của văn bản, mà còn là hành trình khám phá nội dung tiềm ẩn, bề sâu, hiểu được sự tác động của văn bản với tâm hồn của bản thân và cuộc sống.

4. Tự luận
1 điểm

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống:

Đạo văn là hành vi ………………………. lời nói, ý tưởng, quan điểm,... của người khác và coi nó như là của riêng mình. Đây là hành vi ……………………………... trong học tập, nghiên cứu.

Để tránh lỗi đạo văn, chúng ta cần ……………………………… chính xác và đúng quy định khi sử dụng lời nói, ý tưởng, quan điểm,... của người khác.

Xem đáp án

- Đạo văn là hành vi sao chép lời nói, ý tưởng, quan điểm,... của người khác và coi nó như là của riêng mình. Đây là hành vi vi phạm đạo đức trong học tập, nghiên cứu.

- Để tránh lỗi đạo văn, chúng ta cần trích dẫn chính xác và đúng quy định khi sử dụng lời nói, ý tưởng, quan điểm.... của người khác.

5. Tự luận
1 điểm

Ở mục 3, phần Đọc, nhóm biên soạn đã dẫn nguồn văn bản Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi) như thế nào? Chỉ ra những yếu tố trong phần dẫn nguồn đó.

Xem đáp án

- Ở mục 3, phần Đọc, ngoài việc viết nhan đề và tên tác giả bên dưới tên nhan đẻ, nhóm biên soạn đã dẫn nguồn văn bản Tiếng nói của văn nghệ (Nguyễn Đình Thi) như sau: “(Trích trong Tuyển tập, Tập III, NXB Văn học, Hà Nội, 1997)”. Phần dẫn nguồn này gồm các nội dung: tên công trình (Tuyển tập, Tập III), nhà xuất bản (NXB Văn học), nơi xuất bản (Hà Nội), năm xuất bản (1997).

6. Tự luận
1 điểm

Tìm một ví dụ về việc dẫn nguồn lời nói, ý tưởng, quan điểm,... của người khác trong khi viết và chỉ ra các yếu tố trong phần dẫn nguồn đó.

Xem đáp án

- Ví dụ: "Chúng ta phải hành động ngay lập tức để bảo vệ môi trường. Không có thời gian để chần chừ nữa", tuyên bố mạnh mẽ của nhà hoạt động môi trường.

- Yếu tố tạo nên đó là đặt lời nói trong dấu ngoặc kép.

7. Tự luận
1 điểm

Xác định phần trích dẫn trong các trường hợp sau. Chỉ ra sự khác biệt giữa những phần trích dẫn đó.

a. Tài nguyên rừng đang bị thu hẹp từng ngày, diện tích rừng tự nhiên che phủ giảm dần do khai thác trái phép, đất rừng bị chuyển qua đất nông, công nghiệp, các loài sinh vật quý hiếm đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là nước phá rừng nguyên sinh đứng thứ hai thế giới.

(Theo Hồ Quang Trung, Hãy yêu mến, bảo vệ thiên nhiên, ngày 6/6/2010,

Ngữ văn 8, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

b. Năm 2000, khi sang thăm Việt Nam, trong buổi nói chuyện với sinh viên ở Hà Nội, Tổng thống Mỹ Biu Clin-tơn (Bill Clinton) đã đọc thơ Hồ Xuân Hương dịch sang tiếng Anh. Ông Hen-ri Lốp-pơ (Henri Lopes), Phó Tổng Giám đốc UNESCO, trong bài tựa tập thơ Hồ Xuân Hương xuất bản ở Pa-ri (Paris) năm 1987, cũng đánh giá cao tài năng của nhà thơ bằng những lời nồng nhiệt: “Là nữ thi sĩ hay nữ nhạc sĩ, tôi không biết nữa, có điều nàng đã vĩnh viễn đổi thay vẻ đẹp những tiếng kêu thương của tâm hồn thoát ra trong bí mật những đêm tối hoặc những nơi cô tịch”.

(Theo Lưu Khánh Thơ, Kì nữ Hồ Xuân Hương –

Đời và thơ, https:/ /ct.qdnd.vn/,ngày 24/12/2021)

Xem đáp án

a. Phần trích dẫn: Theo báo cáo số liệu năm 2005 của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Việt Nam là nước phá rừng nguyên sinh đứng thứ hai thế giới.

b. Phần trích dẫn: Ông Hen-ri Lốp-pơ (Henri Lopes), Phó Tổng Giám đốc UNESCO, trong bài tựa tập thơ Hồ Xuân Hương xuất bản ở Pa-ri (Paris) năm 1987, cũng đánh giá cao tài năng của nhà thơ bằng những lời nồng nhiệt: “Là nữ thi sĩ hay nữ nhạc sĩ, tôi không biết nữa, có điều nàng đã vĩnh viễn đổi thay vẻ đẹp những tiếng kêu thương của tâm hồn thoát ra trong bí mật những đêm tối hoặc những nơi cô tịch”.

Sự khác biệt giữa hai phần trích dẫn: Ở ngữ liệu b, người viết trích dẫn nguyên văn lời đánh giá của ông Hen-ri Lốp-pơ (Henri Lopes) trong dấu ngoặc kép (trích dẫn trực tiếp). Phần trích dẫn có các thông tin: tác giả (Hen-ri Lốp-pơ), tác phẩm (Bài tựa tập thơ Hồ Xuân Hương), năm xuất bản (1987), nơi xuất bản (Pa-ri). Ở ngữ liệu a, người viết không đặt phần trích dẫn trong dấu ngoặc kép mà viết lại ý tưởng của người khác theo cách diễn đạt của mình (trích dẫn gián tiếp). Phần trích dẫn gián tiếp này cũng có thông tin về tác giả (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc), năm xuất bản (2005).

8. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra phần dẫn nguồn các ảnh dưới đây:

Ảnh tác giả Bằng Việt

Ảnh Sông Đà

Media VietJack

Bằng Việt

(Ảnh do tác giả cung cấp)

Media VietJack

Sông Đà

(Ảnh: Đinh Văn Hải)

 (Bài 1, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, 2024)

Xem đáp án

Ở Bài 1, sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo, khi sử dụng các ảnh, nhóm biên soạn đã viết rõ nguồn: Với ảnh Bằng Việt, nhóm biên soạn viết nguồn “Ảnh do tác giả cung cấp”; với ảnh Sông Đà, nhóm tác giả viết nguồn “Ảnh: Đinh Văn Hải”.

9. Tự luận
1 điểm

Trình bày khái niệm kiểu bài văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật

Xem đáp án

- Phân tích một tác phẩm văn học (nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và hiệu quả thẩm mĩ của nó) thuộc kiểu bài nghị luận văn học, trong đó người viết dùng lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hiệu quả của nó đối với việc thể hiện nội dung tác phẩm.

10. Tự luận
1 điểm

Với kiểu bài văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học, cần lưu ý điều gì khi phân tích nội dung chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật?

Xem đáp án

Với kiểu bài văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật, cần lưu ý:

– Về kĩ năng phân tích nội dung chủ đề: cần xác định chủ đề và các căn cứ để xác định chủ đề, sau đó soi chiếu chủ đề vào các khía cạnh nội dung và nghệ thuật của văn bản để nhận xét, đánh giá về ý nghĩa, giá trị của chủ đề. Có thể thực hiện như sau: gọi tên chủ đề → phân tích các khía cạnh, biểu hiện của chủ đề trong văn bản → đánh giá ý nghĩa, giá trị của chủ đề.

– Về kĩ năng phân tích, đánh giá những nét đặc sắc nghệ thuật: cần chú ý đến những chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, đặc trưng cho thể loại, hoặc nổi bật trong tác phẩm. Cần đưa ra lí lẽ, bằng chứng hợp lí, thuyết phục để làm sáng tỏ tác dụng, cái hay, cái đẹp của nghệ thuật đó.

11. Tự luận
1 điểm

Dùng Bảng kiểm kĩ năng viết văn bản nghị luận phân tích tác phẩm văn học: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật để tự đánh giá, rút kinh nghiệm từ văn bản Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn “Bồng chanh đỏ”.

Xem đáp án

+ Em dựa vào bảng kiểm để đánh giá các tiêu chí của kiểu bài đối với văn bản Bài văn phân tích, đánh giá truyện ngắn “Bồng chanh đỏ”.

+ Em rút ra được những kinh nghiệm khi viết văn bản nghị luận phân tích tác phẩm văn học. (Dựa vào việc đối chiếu bài viết của bản thân với bảng kiểm hoặc những góp ý, nhận xét từ thầy cô, bạn bè)

12. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Đề bài:

Tình huống: Câu lạc bộ đọc sách phát động viết bài cho tập san với chủ đề “Tình cảm gia đình qua một số tác phẩm văn học”.

Nhiệm vụ: Hãy chọn một tác phẩm em yêu thích viết về đề tài gia đình (thơ hoặc truyện), viết bài văn phân tích tác phẩm để gửi cho câu lạc bộ đọc sách.

Yêu cầu:

– Chọn được tác phẩm viết về đề tài gia đình (thơ hoặc truyện).

– Có luận điểm về chủ đề, những nét đặc sắc nghệ thuật.

– Phân tích được lí lẽ và bằng chứng phù hợp để làm sáng tỏ luận điểm.

Xem đáp án

Thực hiện đề bài dựa vào gợi ý sau:

Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết

• Đề tài của bài viết là một tác phẩm văn học (thơ hoặc truyện) về đề tài gia đình mà em yêu thích. Em có thể tham khảo một số gợi ý về các tác phẩm sau:

– Nói với con (Y Phương)

– Bếp lửa (Bằng Việt)

– Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)

– Không gia đình (Héc-to Ma-lốt (Hector Malot))

– …..

Bài viết của em sẽ được đăng trong tập san của Câu lạc bộ đọc sách. Em hãy cân nhắc: Mục đích viết là gì? Người đọc là ai? Với mục đích viết và người đọc ấy, chọn cách viết nào là phù hợp?

• Với tác phẩm lựa chọn để viết, em hãy thu thập tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm và những ghi chú của bản thân khi đọc, từ đó lập bảng thống kê tư liệu.

Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý

Em tiến hành tìm ý dựa vào sơ đồ sau:

Từ các ý tìm được, em chọn lọc, sắp xếp thành dàn ý hoàn chỉnh dựa vào tri thức về kiểu bài.

Bước 3: Viết bài

Từ dàn ý, em viết bài văn hoàn chỉnh. Trước khi viết, có thể tham khảo Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật để bài viết đi đúng hướng và đáp ứng các yêu cầu của kiểu bài. Bài viết sẽ được đăng trong tập san của Câu lạc bộ đọc sách, vì vậy em cần thể hiện cảm nhận, suy nghĩ riêng của em trong bài viết bằng cách kết hợp cách đưa thông tin khách quan và chủ quan trọng văn nghị luận.

Bài văn mẫu tham khảo:

Viết về đề tài kháng chiến không thể không kể đến thành công rất vang dội của rất nhiều nhà văn. Nó thậm chí còn trở thành những bằng chứng thép về những tháng ngày đau thương mà hào hùng của cả dân tộc. Những tác phẩm đi sâu bám sát từng diễn biến của cuộc kháng chiến lịch sử gợi cho người đọc biết bao nhiêu liên tưởng.

Thế nhưng có lẽ trong hướng đi chung đó, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã tạo nên cái riêng đầy khác biệt. Không đi sâu vào cuộc kháng chiến, không miêu tả cặn kẽ nỗi đau thương mà ông đi vào thứ tình cảm gia đình trong kháng chiến. Một cái riêng trong cái chung đầy vĩ đại ấy đó chính là đứa con tinh thần “chiếc lược ngà”. Câu chuyện tình cha con cảm động trong kháng chiến ấy đã lấy đi nước mắt của không biết bao nhiêu người. Tình cảm gia đình trong thời chiến có lẽ không được nhiều nhà văn chú trọng bởi lẽ trong những thời khắc cam go đó đi sâu sát vào diễn biến cuộc kháng chiến mới là ưu tiên hàng đầu. Thế nhưng “Chiếc lược ngà” chính là một nốt ngân vang trong bản nhạc hào hùng đó. Nó như xoáy sâu vào nỗi đau chiến tranh đồng thời đó là tiếng lòng của những con người, những số phận về cuộc chiến tranh phi nghĩa mà giặc đã gieo nên trên mảnh đất Việt Nam.

Tình cảm cha con của ông Sáu và bé Thu chính là thứ tình cảm đại diện trong thời buổi loạn lạc đó. Thứ tình cảm dung dị đặc biệt mà bom đạn không thể vùi lấp được. Ông Sáu xa nhà khi con còn nằm trong bụng mẹ mãi đến năm con gái tám tuổi ông mới có dịp về thăm nhà. Thế nhưng vì vết sẹo trên mặt mà đứa con gái tên Thu không nhận ra cha vì quá khác so với hình. Nó nhất quyết không nhận ông là cha. Chỉ đến khi ông chào từ biệt mọi người về chiến khu thì đứa con mới nhận ra cha. Tình ca con thức dậy mãnh liệt là lúc hai cha con phải chia ly. Ở chiến khu ông gửi gắm tình yêu thương con bằng việc khắc chiếc lược ngà tặng con song chiếc lược chưa đến tay con cũng là lúc ông hi sinh trong một trận càn lớn của giặc. Trong giờ phút ngắn ngủi đó ông đã kịp trao chiếc lược cho bác Ba nhờ bác chuyển cho con gái. Viết “Chiếc lược ngà” nhà văn Nguyễn Quang Sáng không tập trung miêu tả cặn kẽ tình cảm gia đình trong chiến tranh mà chủ yếu tập trung khai thác diễn biến tâm trạng nhân vật. Song nhà văn đã khéo léo lồng ghép để làm bừng sáng tư tưởng cách mạng khát vọng tự do trong đó. Và điều này đòi hỏi nhà văn phải là người có cái nhìn đúng đắn và giàu sức thuyết phục.

Sự yêu thương con nỗi khát khao gặp con khiến người cha không thể kìm nổi xúc động. Không chờ xuồng cập bến ông Sáu đã nhảy tót lên bờ làm chiếc xuồng chòng chành và cất tiếng gọi tha thiết: “Con! Thu”. Người cha không kìm nổi xúc động đến mức run run. Thế nhưng đáp lại tiếng gọi tha thiết ấy đứa con gái đứng ngơ ngác không hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình, rồi co chạy bỏ chạy. Bỏ mặc người cha lúc này đứng chết sững, mặt sầm lại vô cùng đáng thương, hai tay buông thõng như bị gãy. Cuộc đời như đang tạo nên cho ông nhiều tình huống dở khóc dở cười. Trong suốt mấy ngày ở nhà ông càng ra sức gần gũi chào hỏi thì con bé càng đẩy ông ra xa. Điều ông mong mỏi chỉ là một tiếng ba thân thương thế nhưng con bé lại chẳng bao giờ chịu gọi. Những lúc như thế ông chỉ nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu và cười vì khổ tâm đến mức không thể khóc nổi. Thế rồi những lúc vì khổ tâm quá không thể kìm chế được ông đã đánh con. Sau đó ông hối hận không thôi. Nỗi mâu thuẫn cứ giằng xé trong lòng người cha tội nghiệp.

Càng đến ngày hết phép cũng là lúc ông càng tuyệt vọng vì có lẽ tiếng cha sẽ mãi mãi chẳng bao giờ được nghe. Nỗi đau của ông cũng chính là nỗi đau của rất nhiều những chiến sĩ bấy giờ. Ngày đêm chiến đấu vì lí tưởng vĩ đại nhưng chưa bao giờ nguôi nỗi nhớ thương gia đình.

Những tưởng người cha khốn khổ ấy sẽ mang nỗi đau đáu đến khi ra chiến trường thì đến phút cuối cùng đứa con gái đã trao cho anh Sáu một tiếng gọi ngọt ngào. Người cha đứng chào mọi người, lặng lẽ đưa mắt nhìn đứa trẻ núp sau cánh cửa anh cũng muốn đến ôm nó lắm nhưng chỉ sợ nó lại chạy đi. Anh chỉ dám nhìn con từ xa và bảo “Ba đi nghen con”. Ai ngờ trong giây phút ấy bé Thu chạy đến gọi “Ba”. Sự ngọt ngào khiến người cha như nín thở, giây phút này anh đã chờ đợi bao lâu. Cái ôm đầy bịn rịn đứa con dường như chẳng nỡ rời xa cha mình. Chỉ khi anh hứa sẽ mang tặng con mình chiếc lược ngà đứa con mới bịn rịn rời lưng cha. Thế nhưng người cha ấy đã mang theo lời hứa mãi mãi nằm lại nơi chiến trường mưa bom bão đạn. Trong một trận càn lớn của địch anh Sáu đã hi sinh, trong cái thời khắc ấy khi chẳng còn sức lực để chăng chối điều gì anh chỉ lặng lẽ rút chiếc lược trong túi đưa vào tay bác Ba với mong muốn chuyển đến tay người con gái yêu thương của mình. Chiếc lược được người cha làm nên bởi những nhớ nhung khắc khoải và cả những ân hận trong những lần nỡ xuống tay đánh con mình. Chiếc lược người cha đã cặm cụi làm nên trong những giờ buông súng nghỉ ngơi, thỉnh thoảng lại mang ra chải tóc cho lược thêm bóng. Hình như ở cái giờ phút sinh li tử biệt đó, mọi đau thương đều nhường chỗ cho tình yêu thương, tình phụ tử. Chỉ có tình phụ tử là bất diệt trước mũi tên hòn đạn mà thôi.

Ta không thể phủ nhận một điều rằng hoàn cảnh của anh Sáu trong Chiếc lược ngà là một câu chuyện về tình cha con sâu sắc nhưng nó cũng chỉ là một trong vô số những câu chuyện gia đình cảm động trong hoàn cảnh chiến tranh thời bấy giờ. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã tạo nên một câu chuyện vô cùng ấn tượng, một điểm sáng chói lòa trong bầu trời văn học kháng chiến. Nó thể hiện tình người sâu sắc, tình cảm gia đình bất diệt dù trong mọi hoàn cảnh vẫn sáng ngời bất diệt. Và cũng chỉ có thứ tình cảm dung dị đó mới là động lực bất diệt khiến con người ta chiến đấu quả cảm và anh dũng đến vậy mà thôi.

Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm

Em đọc lại bài viết và dựa vào Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật để đánh giá bài viết của bản thân. Ghi lại những điều em thích, chưa thích về bài viết và những kinh nghiệm rút ra để viết tốt hơn lần sau.

13. Tự luận
1 điểm

Tóm tắt quy trình thực hiện kĩ năng nghe và nhận biết tính thuyết phục của một ý kiến dựa vào bảng sau (làm vào vở):

Quy trình thực hiện

Thao tác cần làm

Lưu ý

Bước 1: Chuẩn bị trước khi nghe

……..

……..

Bước 2: Nghe và ghi chép

……..

……..

Bước 3: Đọc lại, chỉnh sửa và chia sẻ

……..

……..

Xem đáp án

Quy trình thực hiện

Thao tác cần làm

Lưu ý

Bước 1: Chuẩn bị trước khi nghe

-  Xác định mục đích: nghe để hiểu thêm về vai trò, ích lợi của văn chương với đời sống.

- Tìm hiểu trước về chủ đề buổi thuyết trình bằng cách đọc lại văn bản Ý nghĩa văn chương, tìm đọc thêm tư liệu liên quan đến chủ đề.

- Chuẩn bị giấy, bút (bút màu, bút dạ quang....) để ghi chép và đánh dấu hoặc gạch chân những thông tin quan trọng.

- Chuẩn bị phiếu ghi chép

 

Bước 2: Nghe và ghi chép

- Tập trung nghe và ghi các ý chỉnh, từ khoá trong bài thuyết trình để nhận ra các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng.

- Ghi những câu hỏi mà em muốn trao đổi với người thuyết trình.

 

Bước 3: Đọc lại, chỉnh sửa và chia sẻ

- Đọc lại và trao đổi nội dung ghi chép với các bạn khác và chỉnh sửa (nếu có).

- Nhận biết tỉnh thuyết phục của ý kiến và hạn

Khi lập luận, cần tránh các biểu hiện sau:

- Từ một điểm, một mặt giống nhau mà kết luận hai sự vật, hiện tượng là hoàn toàn giống nhau.

- Cho rằng vấn đề chỉ có thể đúng hoặc sai trong khi thực tế có thể trung lập giữa đúng và sai.

- Thay vì bàn về nội dung thì công kích để hạ bệ danh dự, uy tín của người tranh luận.

14. Tự luận
1 điểm

Vẽ sơ đồ tóm tắt một số lỗi về lập luận và bằng chứng dựa vào nội dung tham khảo sau:

Vẽ sơ đồ tóm tắt một số lỗi về lập luận và bằng chứng dựa vào nội dung tham khảo sau: (ảnh 1)

Xem đáp án

- Về lập luận, cần tránh các lỗi sau:

+ Khẳng định một vấn đề đúng bởi vì số đông cho rằng nó đúng.

+ Cho rằng hễ những gì thuộc về truyền thống thì luôn đúng.

+ Từ một điểm, một mặt giống nhau mà kết luận hai sự vật,  hiện tượng là hoàn toàn giống nhau.

+ Cho rằng vấn đề chỉ có thể đúng hoặc sai trong thực tế có thể trung lập giữa đúng và sai.

+ Thay vì bàn về nội dung thì công kích để hạ bệ danh dự, uy tín của người tranh luận.

- Lưu ý một số lỗi về bằng chứng thường gặp:

+ Bằng chứng chưa tiêu biểu: Bằng chứng đưa ra có tính chất cá biệt, không có sức khái quát, không thể hiện rõ đặc điểm của luận điểm cần phân tích.

+ Bằng chứng chưa cụ thể: Bằng chứng nêu ra chung chung, thiếu các thông tin cụ thể để làm rõ cho luận điểm.

+  Bằng chứng chưa xác thực: Bằng chứng chưa được kiểm chứng, bị ngụy tạo, bị trích dẫn sai hoặc trích dẫn tách khỏi ngữ cảnh dẫn đến bị hiểu sai, hiểu chưa đầy đủ.

15. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Đề bài: Từ các bài viết trong tập san, Câu lạc bộ đọc sách tổ chức buổi toạ đàm với chủ đề “Tình cảm gia đình qua một số tác phẩm văn học”.

Nhiệm vụ: Em hãy tham gia buổi toạ đàm để lắng nghe các bài trình bày, ghi chép và nhận xét về tính thuyết phục của ý kiến.

Yêu cầu:

– Chuẩn bị trước phiếu nghe và ghi chép.

– Ôn lại về các lỗi lập luận và bằng chứng để rút kinh nghiệm khi thuyết trình.

– Tập trung nghe và ghi chép nội dung bài nói một cách ngắn gọn, đầy đủ.

– Nhận xét về tính thuyết phục của ý kiến hoặc các lỗi lập luận (nếu có).

Xem đáp án

Học sinh thực hiện như sau:

Bước 1: Chuẩn bị trước khi nghe

• Xác định mục đích: nghe và hiểu thêm về một số tác phẩm văn học viết về đề tài gia đình.

• Tìm hiểu trước về buổi toạ đàm bằng cách tìm đọc tập san đã phát hành của Câu lạc bộ đọc sách, đọc lại bài viết bản thân đã thực hiện để gửi cho câu lạc bộ.

• Chuẩn bị giấy, bút, phiếu ghi chép.

Bước 2: Nghe và ghi chép

• Tập trung nghe và ghi các ý chính, từ khoá trong bài thuyết trình để nhận ra các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng mà người nói sử dụng.

• Ghi lại những câu hỏi mà em muốn trao đổi với người nói.

Tham khảo:

I. Mở đầu:

- Lời chào, lời giới thiệu.

- Tình cảm gia đình là những tình cảm thân thương, gắn bó trong tâm hồn của mỗi con người, nó đã trở thành một đề tài quen thuộc trong văn học.

- Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là bài ca về tình phụ tử thiêng liêng trong hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc.

II. Triển khai:

 

1. Tình cảm cha con

* Trước khi bé Thu nhận cha

- Sau tám năm xa cách, bé Thu không chịu nhận cha:

+ Lúc mới gặp ông Sáu: “Con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác lạ lùng”.

+ Nhìn vết thẹo dài trên má ông Sáu nó càng hoảng hốt, sợ hãi “mặt nó tái đi, vụt chạy rồi kêu thét lên”.

+ Suốt ba ngày, con bé bộc lộ sự bướng bỉnh, nhất quyết không gọi ông Sáu bằng ba, chỉ nói trổng (khi mời ông Sáu ăn cơm, khi muốn nhờ ông chắt nước…).

+ Hất văng ra khỏi chén cái trứng cá ông Sáu gắp cho.

+ Bị ông Sáu đánh, nó bỏ sang nhà bà ngoại.

=> Bé Thu bộc lộ sự ương ngạnh, bướng bỉnh vừa đáng giận vừa đáng thương nhưng không đáng trách.

- Nguyên nhân:

+ Bé Thu không nhận ông Sáu là ba vì ông có vết thẹo trên mặt “không giống cái hình ba chụp với má”.

+ Với lứa tuổi của mình, Thu không thể hiểu những tình thế éo le, khắc nghiệt của chiến tranh. Vậy mà, vết sẹo chiến tranh hằn trên gương mặt ông Sáu đã làm Thu không nhận ra được cha mình.

=> Hậu quả mà chiến tranh gây ra khiến con người xót xa.

- Ông Sáu rất đau lòng, thất vọng vì bé Thu không nhận mình:

+ Xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã nhảy lên bờ gọi, đưa tay đón con, rất xúc động làm vết thẹo đỏ ửng giần giật, “giọng lắp bắp, run run”.

+ Khi bé Thu chạy vụt đi, hét lên hoảng hốt, sợ hãi: “nỗi đau đớn khiến mặt anh tối sầm lại trông rất đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

+ Trong ba ngày phép, càng muốn gần gũi, yêu thương con, bé Thu càng lảng tránh, lạnh lùng, vô lễ. Ông càng đau khổ hơn (tám năm mới được gặp con, những ngày phép ngắn dần mà con không chịu nhận ba, không một lần được ôm con trìu mến…)

* Sau khi bé Thu nhận cha

- Tình cảm thắm thiết mà ông Sáu dành cho con:

+ Lúc chia tay, ông Sáu muốn ôm hôn con nhưng sợ con không chịu, ông chỉ nhìn con bằng đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”. Khi Thu nhận cha, ông Sáu đã khóc vì sung sướng và xúc động.

+ Lúc ở rừng, tại khu căn cứ: ông Sáu sung sướng khi tìm được khúc ngày (“hớt hải chạy về”, “hớn hở như trẻ con được quà”); lúc rỗi ông “cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, khắc dòng chữ nhỏ với bao tình cảm “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”

+ Lúc nhớ con, “lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”, có cây lược ông càng mong gặp con.

+ Trong giờ phút cuối cùng, tình cha con vẫn da diết “không đủ sức trăn trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được”.

+ Ông gửi cây lược cho đồng đội nhờ đưa cho con, lúc ấy mới nhắm mắt xuôi tay.

- Tình cảm bé Thu đối với cha:

+ Trước lúc ông Sáu đi, ba gọi tiếng ba đầu tiên, xé lòng như thét lên: “Ba…a…a… Ba!”

=> Tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao năm nay, tiếng ba như vỡ tung từ đáy lòng nó.

+ Nó vừa kêu “vừa chạy xô tới”, “dang tay ôm chặt cổ, nó hôn ba nó cùng khắp, nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết sẹo dài trên má ba nó nữa”, “dang cả hai chân rồi câu chặt lấy ba nó” (muốn giữ ba nó ở lại), khóc mếu máo với lời dặn “ba mua cho con một cái lược, nghe ba”

=> Bé Thu đã hiểu, muốn bù đắp tình cảm những ngày qua.

2. Tình cảm vợ chồng

- Suốt mấy năm chồng đi kháng chiến, vợ chồng ông Sáu chỉ gặp nhau có mấy lần, những lần đi thăm rất khó khăn (qua rừng, xa xôi,…), mỗi lần chỉ gặp nhau vài ngày.

=> Họ sống trong nhớ thương, chờ đợi.

- Bà Sáu vẫn vượt đường xa, nguy hiểm đến thăm chồng.

- Khi ông Sáu về phép, bà lo lắng chăm sóc cho chồng (lo chuẩn bị đồ đạc, xếp từng chiếc áo,…)

3. Tình cảm bà cháu

- Bà là người mà bé Thu cảm thấy tin tưởng nhất.

- Bà ngoại cũng là người giảng giải cho bé thu hiểu vì sao ba nó lại có vết thẹo trên mặt. Cũng nhờ vậy mà bé Thu hiểu ra và nhận lại ba.

=> Bà ngoại chính là cầu nói giúp Thu giải tỏa khúc mắc trong lòng và nhận lại cha.

III. Kết thúc

- “Chiếc lược ngà” – một câu chuyện xúc động về tình phụ tử thiêng liêng trong chiến tranh.

- Câu chuyện thêm một lần nữa khẳng định tình cảm gia đình đặc biệt là tình cha con luôn bất diệt trong mọi hoàn cảnh.

- Lời chào, cảm ơn, ý kiến đóng góp của mọi người.

Bước 3: Đọc lại, chỉnh sửa và chia sẻ

• Đọc lại và trao đổi nội dung ghi chép với các bạn khác để chỉnh sửa (nếu có).

• Nhận xét tính thuyết phục của ý kiến và hạn chế của lập luận (nếu có).