Giải SBT Ngữ Văn lớp 9 CTST BÀI 10 TIẾNG VỌNG NHỮNG NGÀY QUA
16 câu hỏi
Kẻ bảng sau vào vở và liệt kê một số yếu tố thuộc nội dung và hình thức của tác phẩm văn học:
Loại yếu tố | Yếu tố cụ thể |
Các yếu tố nội dung của tác phẩm văn học | Đề tài,... |
Các yếu tố hình thức của tác phẩm văn học | Bố cục,... |
Loại yếu tố | Yếu tố cụ thể |
Các yếu tố nội dung của tác phẩm văn học | Đề tài, chủ đề, xung đột, hoàn cảnh, tính cách, tư tưởng, cảm hứng, thông điệp,... |
Các yếu tố hình thức của tác phẩm văn học | Thể loại, bố cục, ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật,... |
Phân tích nghệ thuật miêu tả bức tranh đại ngàn và thể hiện cảm xúc của con hổ trong đoạn thơ sau:
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
(Nhớ rừng, Thế Lữ)
Nghệ thuật miêu tả bức tranh đại ngàn:
- Không gian đại ngàn trong đoạn thơ có hai đặc điểm quan trọng: (1) được miêu tả qua nỗi nhớ, một đại ngàn đã thuộc về quá khứ, đối lập với hiện tại; (2) hình ảnh không gian đại ngàn được miêu tả trong sự đối lập với không gian của “vườn bách thú”.
Hai đặc điểm nêu trên với sự đối lập gay gắt giữa hình ảnh quá khứ tự do, oanh liệt và hiện tại tù ngục, bi thảm; giữa hình ảnh đại ngàn hùng vĩ, tráng lệ với vườn bách thú chật hẹp, giả tạo làm cho bức tranh đại ngàn càng trở nên tráng lệ, hoàng kim: Những đêm vàng bên bờ suối; những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn; những bình minh cây xanh nắng gội; những chiều lênh láng máu sau rừng;... Con hổ gọi đó là “thời oanh liệt”.
- Phép tu từ điệp từ ngữ, điệp cấu trúc câu, các hình ảnh ẩn dụ, nhân hoá, các câu thơ 8 chữ,... đã góp phần làm cho bức tranh đại ngàn trong kí ức của con hổ thêm rực rỡ, tráng lệ hơn.
Nghệ thuật thể hiện cảm xúc của con hổ:
- Cùng với sự đối lập giữa quá khứ tự do, oanh liệt và hiện tại tù ngục, bi thảm; đối lập giữa đại ngàn (hùng vĩ, tráng lệ) với vườn bách thú (chật hẹp, giả tạo), đoạn thơ thể hiện nỗi nhớ tiếc – nhớ rừng – sâu sắc mãnh liệt và thấm thía bội phần.
- Nỗi “nhớ rừng” trở nên thiết tha, cháy bỏng với những câu hỏi tu từ trùng điệp: Nào đâu những đêm vàng..., Đâu những ngày mưa..., Đâu những chiều...?, và đặc biệt là lời than tiếc được nhấn mạnh, tách riêng thành lời thoại dưới hình thức câu cảm thán: Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?.
Trong bài thơ Mùa xuân chín, vị trí, thời điểm quan sát, miêu tả “mùa nhân chín” của tác giả trong khổ thơ cuối so với ba khổ thơ đầu có sự thay đổi gì không? Điều đó có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện hình ảnh con người và thiên nhiên mùa xuân?
- Ở ba khổ đầu, cảnh vật được quan sát chủ yếu từ thời điểm hiện tại (tuy cũng có lúc dự báo tương lai: Ngày mai trong đám xuân xanh ấy...), người quan sát hoặc đang ngắm nhìn cảnh (Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang), hoặc đứng ở một vị trí có thể bao quát cả một bức tranh rộng lớn (Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời, Bao cô thôn nữ hát trên đồi,…; Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,…). Đồng thời, người cảm nhận bức tranh mùa xuân bằng nhiều giác quan: Thị giác cảm nhận màu sắc, đường nét (nắng ửng, khói mơ, lấm tấm vàng, sóng cỏ xanh tươi,...) thính giác cảm nhận âm thanh (sột soạt, bao cô thôn nữ hát trên đồi,...) và tổng hoà nhiều giác quan để cảm nhận (Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi/ Hổn hển như lời của nước mây/ Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc/ Nghe ra ý vị và thơ ngây).
- Ở khổ cuối, vào thời điểm “mùa xuân chín”, tự xưng là “khách xa”, người quan sát, từ một bối cảnh xa quê, nhìn vào tâm tưởng (lòng trí bâng khuâng) để nhớ và thao thức cùng không gian làng quê của mình, xa xôi, nhưng ấm áp, thân thuộc: – Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang. Đây là hình ảnh làng quê và “chị ấy” trong quá khứ hay hiện tại? Trong sự tương chiếu với câu thơ dự cảm ở khổ thứ hai: Ngày mai… có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi, hai dòng thơ cuối thể hiện cảm xúc phức tạp của người khách xa, vừa là tiếc nuối, vừa là mong mỏi.
- Như vậy, có sự thay đổi vị trí, thời điểm quan sát, miêu tả “mùa xuân chín” của tác giả trong khổ thơ cuối so với ba khổ thơ đầu. Điều này một mặt cho thấy sự thay đổi của bức tranh thiên nhiên mùa xuân cùng hình ảnh con người – những nàng xuân nữ; mặt khác thể hiện tâm trạng, cảm xúc bâng khuâng, nuối tiếc của tác giả.
Phân tích tình cảm, cảm xúc của Nguyễn Quang Thiều khi viết bài thơ Sông Đáy. Bài thơ cho thấy mối liên hệ nào giữa Sông Đáy với mẹ và kí ức của tác giả?
- Tình cảm của tác giả dành cho dòng sông quê hương (Sông Đáy) là những ân nghĩa sâu xa đối với dòng sông – “người mẹ” tần tảo nuôi dưỡng, bồi đắp yêu thương, bồi đắp tâm hồn,..
- Mối quan hệ giữa hình ảnh dòng sông và người mẹ là hình ảnh song hành soi chiếu vào nhau, làm nổi bật những phẩm chất tương đồng: Đời sông và đời mẹ; phù sa của dòng sông và “phù sa” của lòng mẹ;
Trong bài thơ Sông Đáy và mẹ được gợi nhớ song song, thường hoà nhập làm một: Sông Đáy chảy vào đời tôi/Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi buổi chiều đi làm về vất vả/ Tôi dụi mặt vào lưng người đẫm mồ hôi mát một mảnh sông đêm hoặc: Toả mát xuống cơn đau tôi là tóc mẹ bến mòn đứng đợi.
Vì thế, tác giả thương nhớ nhìn thấy hình ảnh dòng sông cũng là được nhìn thấy mẹ: Những chiều xa quê tôi mong dòng sông dâng lên ngang trời cho tôi được nhìn thấy/ Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ, nơi những chú bống đến làm tổ được giàn giụa nước mưa sông.
Cuối bài thơ, nhân vật “tôi” trò chuyện với Sông Đáy cũng là cách “tôi” gửi thương nhớ đến mẹ của mình. Kí ức của tác giả hoà kí ức về mẹ vào kí ức về Sông Đáy.
Dọc văn bản Tống biệt hành và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới:
TỐNG BIỆT HÀNH
Thâm Tâm
Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng.
– Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!
Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.
1940
(In trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân, NXB Văn học, 1988)
a. Xác định đề tài, nội dung bao quát và bố cục của bài thơ.
b. Phân tích 10 dòng thơ đầu để làm rõ:
- Khung cảnh đưa tiễn, hình ảnh người ra đi (“người”) và tình cảm, cảm xúc của người đưa tiễn (“ta”).
- Các yếu tố hình thức nghệ thuật như thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,... có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện khung cảnh, nhân vật được nêu ở mục a?
c. Phân tích 12 dòng thơ cuối và cho biết:
- Giữa thái độ “một giã gia đình một dửng dưng” (mười dòng thơ đầu) với nỗi “buồn” (tám dòng thơ giữa) và việc “đi thực” (bốn dòng thơ cuối) của người ra đi có gì mâu thuẫn không? Vì sao?
- Hình ảnh “mẹ già”, “một chị, hai chị...”, “em nhỏ ngây thơ...” được nhắc đến trong bài thơ có tác dụng gì trong việc thể hiện hình ảnh người ra đi?
d. Bài thơ cùng lúc thể hiện tình cảm, tâm sự của nhiều nhân vật nhưng chung quy vẫn là để thể hiện tình cảm, tâm sự của nhân vật xưng “ta”, có thể nói như vậy được không? Vì sao?
d. Theo em, về hình thức, bài thơ có những điểm gì độc đáo?
a.
− Đề tài: Chia tay/ chia li/ tiễn biệt/ tống biệt.
– Nội dung bao quát: Thể hiện dáng vẻ, tâm sự, tình cảm của người ra đi (“người”) và tâm sự, cảm xúc của người đưa tiễn (“ta”).
– Bố cục của bài thơ: Có nhiều cách chia bố cục bài thơ, sau đây là cách chia bố cục theo diễn biến cảm xúc của nhân vật “ta” – người tiễn, gồm hai phần chính:
Phần 1. Niềm bâng khuâng thương nhớ và sự ngưỡng mộ của người tiễn (ta) dành cho người đi (người/ li khách): Từ đầu bài thơ đến Ba năm mẹ già cũng đừng mong).
Phần 2. Niềm cảm thông của người đưa tiễn đối với nỗi buồn phải chia tay với người thân của người đi: Từ Ta biết người buồn chiều hôm trước đến hết.
Trong mỗi phần lại có thể chia các đoạn nhỏ hơn. Ví dụ: Phần đầu có thể chia hai đoạn gồm: 1a: niềm bâng khuâng thương nhớ của người tiễn dành cho người đi (bốn dòng thơ đầu); 1b: tình cảm trân trọng, ngưỡng mộ của người tiễn dành cho người đi (đoạn còn lại của phần 1);...
b.
- Khung cảnh đưa tiễn, hình ảnh người ra đi (“người”) và tình cảm, cảm xúc của người đưa tiễn (“ta”):
+ Khung cảnh một cuộc đưa tiễn: Chỉ có con đường nhỏ, khác những cuộc đưa tiễn thường thấy trong văn chương (không đưa qua sông, sao có tiếng sóng; bóng chiều không thắm, không vàng vọt).
+ Hình ảnh người đi (“người”): Tỏ ra hùng dũng, lạnh lùng, dứt khoát: Một giã gia đình một dửng dưng mang dáng vẻ li khách, tay không vẫn dựng cơ đồ bằng chí nhớn; gác bỏ tình riêng: chưa thành công là chưa hẹn ngày về: Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
+ Cảm xúc của người tiễn: Lòng dậy sóng (dù không đưa qua sông nhưng có tiếng sóng ở trong lòng) và bâng khuâng, xao xuyến, trĩu nặng nỗi buồn (đầy hoàng hôn trong mắt); tình cảm chân tình được bày tỏ bằng cách dựng lên hình ảnh người ra đi – trang li khách hùng dũng, lẫm liệt; tất cả tình cảm của “ta” là dành riêng cho người ấy (ta chỉ đưa người ấy) bằng cả niềm lưu luyến, nhớ thương và trân trọng, ngưỡng mộ.
– Tác dụng của các yếu tố hình thức nghệ thuật như thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,... trong việc thể hiện khung cảnh, nhân vật nêu ở mục a:
+ Thể “hành”: Một thể thơ cổ có ưu thế trong việc thể hiện tình cảm bi tráng
+ Những từ ngữ, hình ảnh giàu tính biểu tượng: đưa qua sông, tiếng sóng ở trong lòng, hoàng hôn trong mắt trong, con đường nhỏ, bàn tay không, chiếc lá bay, hạt bụi, hơi rượu say; từ ngữ gợi tả: sen nở nốt, như sen, dòng lệ sót,...
+ Các yếu tố hình thức khác: “nhịp thơ gấp, lời thơ gắt”, câu hỏi tu từ, câu cảm thán, câu khẳng định,...
Tất cả nhằm mang đến hai tác dụng: Dựng lên hình ảnh, tâm trạng bị tráng của người đi; thể hiện cảm xúc nhớ thương, trân trọng, cảm thông của người tiễn.
c.
– Giữa thái độ “một giã gia đình một dửng dưng” (mười dòng thơ đầu) với “buồn chiều hôm trước” / “buồn sáng hôm nay” (tám dòng thơ giữa) và việc “đi thực” (bốn dòng thơ cuối) của người ra đi, nhìn bề ngoài có vẻ mâu thuẫn nhưng thực ra, người ra đi không phải/ không hẳn đã dửng dung. Người đọc có thể hiểu người ra đi buồn là do sự quyến luyến của người thân (chị, em) và dù buồn nhiều nhưng “người” vẫn quyết đi thực. Tuy nhiên, điều đáng trân trọng ở người li khách là vượt lên trên sự mềm yếu cùng những tình cảm của chính mình để ra đi thực hiện chí nhớn. Nỗi buồn sâu kín cho thấy sự phức tạp rất “con người” ở trang li khách trong bài thơ: đằng sau cái dáng vẻ dửng dưng, lạnh lùng của tráng sĩ thời xưa là tâm trạng, cảm xúc và khát vọng của thời đại Thơ mới.
– Hình ảnh “mẹ già”, “một chị”, “hai chị, em nhỏ ngây thơ”,... được nói đến trong bài thơ nhằm làm nổi bật hoàn cảnh ra đi giàu tính lãng mạn của người li khách. Một người trai trẻ, khi giã từ tổ ấm yên vui cùng sự yêu thương, đùm bọc của gia đình, quyết chí ra đi làm một trang li khách, phía trước là chông gai, thử thách (con đường nhỏ), có dễ dàng không, có chút giằng xé nào không? Con người ấy, về ý chí thì một giã gia đình, một dửng dưng; mẹ già coi như chiếc lá bay, chị gái coi như là hạt bụi, em nhỏ coi như hơi rượu say, nhưng về tình cảm thì vẫn mang trong tim nỗi buồn chứa chan, sâu kín (buồn chiều hôm trước, buồn sáng hôm nay). Như vậy, mẹ già, nhất là lệ của hai người chị cũng như sen, chiếc khăn tay gói tròn thương tiếc và đôi mắt biếc của em nhỏ ngây thơ vừa tạo bối cảnh, không khí vừa là những hình ảnh không thể thiếu nhằm điểm tô thêm cho hình ảnh người đi. Đồng thời, điều đó cũng góp phần làm cho cảnh đưa tiễn của “ta” dù không qua sông vẫn âm vang tiếng sóng ở trong lòng và đầy hoàng hôn trong mắt trong.
d.
Bài thơ đồng thời gợi tả tình cảm, tâm sự của nhiều nhân vật: Một chị, hai chị cũng như sen, em nhỏ ngây thơ,... và cả người ra đi. Nhưng tất cả tình cảm của bấy nhiêu nhân vật đều để thể hiện sâu sắc, thấm thía tình cảm, tâm sự của người đưa tiễn xưng “ta”. Đầu bài thơ là nỗi bâng khuâng khó tả và khó hiểu của “ta” khi tống biệt một người li khách chí lớn, dửng dưng, một thần tượng lẫm liệt; giữa bài thơ là tình cảm chia sẻ, cảm thông, nỗi buồn sâu kín của người ra đi, kèm chút ái ngại về những dòng lệ sót hay chiếc khăn tay gói tròn thương tiếc của những người thân yêu. Cuối bài thơ là sự ngạc nhiên (Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực), lòng ngưỡng mộ và sự thấu cảm “ta” dành cho “người ấy” trước một cảnh tống biệt, một lựa chọn bi tráng: Mẹ thà coi như chiếc lá bay/ Chị thà coi như là hạt bụi/ Em thà coi như hơi rượu say. Đó mới thật sự là nỗi buồn tống biệt chan chứa sóng ở trong lòng và hoàng hôn trong mắt trong.
đ.
Từ cảm nhận cá nhân, em có thể nói đến một số điểm độc đáo về hình thức của bài thơ như: Âm điệu mô phỏng thể “hành” trong thơ cổ, những câu hỏi tu từ, thủ pháp trùng điệp, cách thể hiện tình cảm, cảm xúc qua việc dựng lên trong mắt người tiễn hình ảnh bị tráng, vừa quen thuộc vừa mới lạ của người li khách,...
Chỉ ra ít nhất một mô hình cấu tạo các từ ngữ mới tương tự mô hình X + thông minh (như ngôi nhà thông minh, người tiêu dùng thông minh,...). Liệt kê hai từ ngữ mới được cấu tạo từ (các) mô hình mà em vừa tìm được
X + thông minh; liệt kê được hai từ ngữ mới được cấu tạo từ (các) mô hình vừa tìm được.
Gợi ý trả lời: Mô hình cấu tạo (tương tự X + thông minh) và các từ ngữ mới:
X + nhân tạo: trí tuệ nhân tạo, mặt trời nhân tạo, đám mây nhân tạo,...
X + ảo: lớp học ảo, không gian ảo,...
Xác định nghĩa của các từ ngữ in đậm trong các trường hợp sau. Trong các trường hợp này, trường hợp nào từ ngữ được dùng theo nghĩa mới?
a1.Con cóc là cậu ông trời
Hễ ai đánh cóc thì trời đánh cho.
(Ca dao)
a2. Chúng tôi thích la cà ở những quán cóc bên hè phố.
b1. Nó trót làm sai nên bây giờ phải tìm cách chữa cháy.
b2. Lúc xảy ra hoả hoạn, đội cứu hoả đã đến kịp thời để chữa cháy.
– Trong câu a1: cóc: động vật thuộc loài ếch, mõm ngắn, da xù xì, thường ở cạn, di chuyển bằng cách nhảy.
– Trong câu a2: cóc: (quầy hàng bán trà, nước, cà phê, quà vặt bên hè phố) nhỏ, có tính tạm bợ, khi cần có thể dịch chuyển vị trí dễ dàng.
– Trong câu b1: chữa cháy: giải quyết việc cấp bách, cốt để tạm thời đối phó, chưa giải quyết vấn đề một cách căn bản.
– Trong câu b2: chữa cháy: dập tắt lửa của đám cháy, nhằm ngăn hoả hoạn.
Xác định nghĩa của từ được in đậm trong các câu sau:
a. Người chiến sĩ ấy có đôi chân dẻo dai, vượt đèo cao, suối sâu không biết mỏi.
b. Anh tôi có chân trong hội đồng giám khảo.
Chỉ ra phương thức chuyển nghĩa được sử dụng trong các trường hợp đã cho và cho biết căn cứ nào giúp em khẳng định như vậy.
Trường hợp | Nghĩa |
a. Người chiến sĩ ấy có đôi chân dẻo dai, vượt đèo cao, suối sâu không biết mỏi. | chân: bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng; thường được coi là biểu tượng của hoạt động đi lại của con người |
b. Anh tôi có chân trong hội đồng giám khảo. | chân: được coi là biểu tượng của cương vị, phận sự của một người với tư cách là thành viên của tổ chức |
Nghĩa của từ “chân” trong trường hợp a được gọi là nghĩa gốc (nghĩa đầu tiên của từ “chân” chúng ta thấy trong từ điển), còn nghĩa của từ “chân” ở trường hợp b được xem là nghĩa phái sinh, được chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ. Căn cứ xác định: dùng bộ phận cơ thể để đại diện cho cương vị, phận sự của con người.
Xác định nghĩa của từ “chuột” trong hai câu sau. Cho biết trong trường hợp nào, từ được dùng theo nghĩa mới.
a. Mèo là loại động vật chuyên bắt chuột.
b. Ngày nay, chỉ cần thực hiện động tác nhấp chuột là giải quyết được rất nhiều công việc.
a1. chuột: thú gặm nhấm, mõm nhọn, tai bầu dục, đuôi dài, thường phá hoại mùa màng và có thể truyền bệnh dịch hạch.
a2. chuột: bộ phận của máy tính, khi chuyển động trên mặt phẳng cho phép làm chuyển dịch con trỏ trên màn hình.
Trường hợp a2, từ được dùng theo nghĩa mới.
Chỉ ra sự độc đáo trong cách kết hợp từ ngữ ở các trường hợp sau (chú ý các cụm từ/ câu được in đậm):
a.
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đây hoàng hôn trong mắt trong?
(Thâm Tâm, Tống biệt hành)
b.
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi
Hổn hển như lời của nước mây
(Hàn Mặc Tử, Mùa xuân chín)
a. Hoàng hôn dùng để chỉ khoảng thời gian mặt trời lặn, ánh sáng yếu ớt và mờ dần nhưng ở đây “hoàng hôn” lại có thể kết hợp với tính từ “đầy” và cụm từ “trong mắt trong”. Cách diễn đạt này dùng để nói về ánh mắt u buồn, như có bóng hoàng hôn bên trong.
b. Vắt vẻo vốn chỉ trạng thái “ở vị trí trên cao nhưng không có thế và chỗ dựa vững chắc, tựa như chỉ vắt ngang qua cái gì đó” của người, của vật nhưng ở đây, “vắt vẻo” dùng để miêu tả âm thanh. “Tiếng ca” được hình dung như một sự vật có hình khối, có thể “vắt vẻo lưng chừng núi” được. Cách diễn đạt này vô cùng độc đáo, gây ấn tượng với người đọc.
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi bên dưới:
HIỂN LÂM CÁC
Theo Lê Đinh Phúc

Hiển Lâm Các (Ảnh: Shutterstock)
Có nhà nghiên cứu mĩ thuật Việt Nam cho rằng “Trong Đại nội, nổi bật nhất là Hiển Lâm Các, một công trình kiến trúc đẹp, gồm ba tầng, mười hai mái”. Đó là công trình kiến trúc thuộc quần thể di tích Cố đô Huế, nằm trong khu vực các miếu thờ.
Hiển Lâm Các được xây dựng cùng một lần với Thế Miếu (1821 – 1822) – thời vua Minh Mạng.
Hiển Lâm Các được xây dựng ngay phía trước Thế Miếu, trên khối nền cao hình chữ nhật, lát gạch Bát Tràng, xây bó bằng gạch vồ, vôi vữa và đắp nổi mảnh sành để trang trí. Từ dưới bước lên mặt nền bằng hai hệ thống bậc đá thanh ở trước và sau, mỗi hệ thống có chín bậc. Hai bên thành bậc được đắp hình rồng, lối đi ở giữa chỉ dành riêng cho vua.
Hiển Lâm Các được kiến trúc bằng gỗ cao tầng. Mặt bằng tầng một chia làm ba gian hai chái. Quanh ba mặt ngoài của hai chái được xây tường gạch để gia cố sức chịu lực của các hàng cột quân và bao che bớt phần nội thất. Ở hàng cột thứ ba tính từ mặt trước, dựng ở một dãy đố bản, giữa mỗi gian trổ một cửa vòm. Các hệ thống kèo, liên ba, đổ bản ở tầng này đều được chạm nổi các mô típ hình rồng cách điệu hoá thành dây leo lá cuốn. Trên cửa giữa treo tấm hoành phi lớn đề ba chữ “Hiển Lâm Các” trên nền sơn màu lục, khung chạm chín con rồng vờn mây sơn son thếp vàng.
Gian bên phải bắc chiếc cầu thang lên tầng trên. Cầu thang được trang trí rất đẹp. Hai tay vịn được chia thành các ô hộc trang trí hình chữ “thọ”, chữ “vạn” và đường nét kỉ hà. Đầu và cuối tay vịn đều được chạm nổi hình đầu và đuôi rồng uốn lượn mềm mại.
Tầng hai có ba gian. Trước đây đặt án thư và sập ngự sơn son thếp vàng. Hai mặt trước và sau đều có cửa lá sách, hai mặt bên nong ván, chung quanh là một hệ thống lan can bằng gỗ với những hàng con tiện trau chuốt tỉ mỉ. Đỡ giàn mái tầng này có bốn cột chính, bốn cột phụ với một hệ thống con sơn được chạm trổ đẹp mắt.
Tầng ba chỉ có một gian với lối đi lên là một cầu thang gỗ chín bậc. Mặt trước và mặt sau lầu dựng cửa lá sách. Có một hệ thống con sơn được đặt từ bên cột chính ở bốn góc vươn ra như những cánh tay để đỡ cho toàn bộ phần dưới của bộ mái trên cùng. Hệ thống con sơn này đã đưa các mái ra khá rộng, nó vừa có giá trị kết cấu vừa có giá trị trang trí, tạo ra nhiều mảng tối, sáng cho mặt ngoài của công trình kiến trúc, làm tăng thêm vẻ thâm nghiêm của chốn cung đình. Trên nóc tầng ba, ở giữa trang trí bầu rượu bằng pháp lam màu vàng nhạt đặt trên một áng mây pháp lam ngũ sắc tươi thắm,...
Hiển Lâm Các là công trình kiến trúc có giá trị cả về kĩ thuật lẫn thẩm mĩ. Toà nhà cao tầng nhưng có tỉ lệ cân xứng, hài hoà giữa các tầng với nhau. Sự đứng vững của toà nhà gần hai thế kỉ đã thể hiện tài năng, sự khéo léo tuyệt vời của những người thợ mộc ở cả phương diện tạo nên độ bền chắc lẫn khả năng trang trí mĩ thuật.
Chức năng chính của Hiển Lâm Các được xem như là đài kỉ niệm để ghi nhớ công tích các vua Triều Nguyễn được thờ ở Thế Miếu và các đại thần có công được thờ ở hai nhà Tả Tùng tự và Hữu Bằng tự gần trước mặt.
Hiển Lâm Các là một trong số ít công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ đạt trình độ rất cao ở Huế. Cùng với Thế Miếu và Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các đã trở thành điểm nhấn trong toàn bộ quần thể di tích Cố đô Huế và là điểm đến không thể bỏ qua của du khách khi đến tham quan Di sản văn hoá thế giới này ở Việt Nam.
(In trong Huế – di tích lịch sử – văn hoá – danh thắng, NXB Chính trị quốc gia, 1997)
a. Xác định bố cục của bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử được thể hiện trong bài viết trên và nội dung chính của từng phần.
b. Bài viết chủ yếu chọn trình bày thông tin theo cách nào? Tác dụng của cách trình bày thông tin ấy là gì?
c. Chỉ ra tác dụng của việc sử dụng kết hợp các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự (nếu có) trong bài viết trên.
d. Nhận xét về vai trò của phương tiện phi ngôn ngữ trong bài viết. Hãy rút ra ít nhất một kinh nghiệm về việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ từ bài viết trên.
đ. Trong bài viết trên, người viết đã chọn thuyết minh chi tiết về yếu tố nào của di tích Hiển Lâm Các? Ý nghĩa của việc lựa chọn ấy là gì?
e. Dùng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử ở Bài 3 (Những di tích lịch sử và danh thắng - Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo) để đánh giá và xác định (những) tiêu chí mà bài viết chưa đạt được (nếu có).
a. Bố cục của bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử được thể hiện trong bài viết Hiển Lâm Các:
Bố cục của bài văn | Nội dung chính của từng phần |
Mở đầu: từ đầu đến “nằm trong khu vực các miếu thờ” | Giới thiệu khái quát về di tích lịch sử Hiển Lâm Các |
Nội dung: từ “Hiển Lâm Các được xây dựng cùng một lần với Thế Miếu” đến “các đại thần có công thờ ở hai nhà Tả Tùng tự và Hữu Tùng tự gần trước mặt” | Trình bày các thông tin chi tiết về di tích lịch sử như: lịch sử hình thành, đặc điểm kiến trúc, chức năng,… |
Kết thúc: phần còn lại | Đánh giá khái quát và bày tỏ suy nghĩ về di tích lịch sử |
b. Bài viết chủ yếu chọn trình bày thông tin theo trật tự không gian của di tích Hiển Lâm Các. Cách trình bày thông tin ấy giúp người đọc hình dung rõ hơn về bố cục không gian và đặc điểm kiến trúc của từng khu vực ở Hiển Lâm Các.
c. Trong bài viết trên, người viết đã thuyết minh kết hợp với yếu tố miêu tả, chẳng hạn như: Hệ thống con sơn này đã đưa các mái ra khá rộng, nó vừa có giá trị kết cấu vừa có giá trị trang trí, tạo ra nhiều mảng tối, sáng cho mặt ngoài của công trình kiến trúc, làm tăng thêm vẻ thâm nghiêm của chốn cung đình. Trên nóc tầng ba, ở giữa trang trí bầu rượu bằng pháp lam màu vàng nhạt đặt trên một áng mây pháp lam ngũ sắc tươi thắm,...
Tác dụng: Cung cấp thêm thông tin chi tiết để người đọc hình dung rõ hơn về đối tượng thuyết minh.
d. Loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong bài viết: hình ảnh.
Vai trò của phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong bài viết: minh hoạ trực quan cho nội dung thông tin được trình bày trong văn bản, từ đó giúp văn bản trở nên dễ hiểu, dễ hình dung hơn với người đọc. Học sinh có thể rút ra một số kinh nghiệm về việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ từ bài viết như: Tìm được loại phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp để hỗ trợ biểu đạt thông tin; xác định vị trí đặt phương tiện phi ngôn ngữ để thu hút sự quan tâm, chú ý của người đọc; trình bày phương tiện phi ngôn ngữ, đặt tên cho phương tiện và cung cấp thông tin đầy đủ về nguồn trích dẫn;...
đ. Trong bài viết trên, người viết đã chọn thuyết minh chi tiết về kiến trúc của Hiển Lâm Các, bao gồm các tầng, trang trí và chức năng chính. Ý nghĩa của việc lựa chọn này là nhằm khắc họa giá trị nghệ thuật và kiến trúc của Hiển Lâm Các, từ đó thể hiện sự vĩ đại và độc đáo của di tích trong bối cảnh văn hóa lịch sử của Huế.
e. Em dựa vào Bảng kiểm dưới đây để đánh giá.
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử
| Tiêu chí | Đạt | Chưa đạt |
Mở bài | Nêu tên của danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
|
Giới thiệu khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
| |
Thân bài
| Trình bày có hệ thống những thông tin liên quan đến các phương diện khác nhau của danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
|
Kết hợp thuyết minh với miêu tả, tự sự, biểu cảm, … |
|
| |
Kết bài
| Đánh giá khái quát về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
|
Bày tỏ suy nghĩ, tình cảm của người viết về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử |
|
| |
Đưa ra lời mời gọi tham quan (nếu cần) |
|
| |
Hình thức và diễn đạt | Nhan đề và các đề mục nêu được thông tin chính của bài viết |
|
|
Sử dụng hiệu quả phương tiện phi ngôn ngữ để làm rõ thông tin quan trọng |
|
| |
Sử dụng hiệu quả (các) cách trình bày thông tin |
|
| |
Chú thích tên cho các phương tiện phi ngôn ngữ và trích dẫn nguồn (nếu có) |
|
| |
Diễn đạt mạch lạc |
|
| |
Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, viết câu |
|
|
So với Bài 3, em rút ra được thêm (những) kinh nghiệm/ lưu ý gì về kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử trong bài học này?
Những kinh nghiệm/ lưu ý về kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử trong bài học này:
- Nắm rõ lịch sử, văn hóa, kiến trúc và những đặc điểm nổi bật của địa điểm.
- Tham khảo sách, tài liệu, bài viết từ các trang web uy tín.
- Sử dụng từ ngữ gợi cảm, có sức cuốn hút, tạo cảm xúc cho người đọc.
…
Thực hiện đề bài sau:
Đề bài: Trong vai trò phóng viên chuyên mục Du lịch của một tờ báo địa phương, em hãy chọn viết bài văn thuyết minh giới thiệu với bạn đọc trong và ngoài nước về một di tích lịch sử tiêu biểu của địa phương ấy.
Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết
– Xác định đề tài, người đọc, mục đích viết:
+ Đề tài bài viết ở đây là viết về một di tích lịch sử tiêu biểu cho một địa phương cụ thể của Việt Nam.
+ Người đọc: Bạn đọc chuyên mục Du lịch của tờ báo địa phương.
+ Mục đích viết: Giới thiệu về một di tích lịch sử tiêu biểu cho điểm đến của một địa phương trên đất nước ta.
– Thu thập tư liệu: Thực hiện theo hướng dẫn trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, đối với mục đích viết của bài văn này, học sinh nên chú ý thu thập những thông tin thể hiện rõ tính chất tiêu biểu, độc đáo của di tích lịch sử ở địa phương mà em muốn giới thiệu. Chú ý thu thập tư liệu về những khía cạnh sau của di tích lịch sử: lịch sử hình thành, đặc điểm kiến trúc (kết cấu, bố cục, chất liệu xây dựng, hình dáng công trình, cách thức thi công,...), cảnh quan xung quanh, giá trị văn hoá, lịch sử, cách thức tham quan,... Khi thu thập tư liệu, em nên lưu ý kiểm tra tính chính xác, độ tin cậy và cập nhật của thông tin.
Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý
– Tìm ý cho bài viết được thực hiện dựa trên việc hệ thống và phân loại các thông tin đã thu thập được có liên quan đến di tích lịch sử. Đối với mục đích viết của bài viết này, cần chú ý xác định rõ (những) thông tin quan trọng thể hiện được vẻ đẹp tiêu biểu, độc đáo của di tích lịch sử mà em muốn giới thiệu.
– Lập dàn ý theo sơ đồ dàn ý trong sách giáo khoa. Em có thể sắp xếp ý theo cách trình bày thông tin phù hợp với từng nội dung/ phần cụ của bài viết. Ví dụ, phần nội dung liên quan đến lịch sử hình thành/ xây dựng của di tích lịch sử, em có thể sắp xếp thông tin theo trình tự thời gian; hoặc phần nội dung liên quan đến đặc điểm kiến trúc của di tích, em có thể tổ chức ý theo trình tự không gian;...
Bước 3: Viết bài
– Trước khi viết, em cần đọc lại một số lưu ý được trình bày trong sách giáo khoa và Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (xem Bài 3) để hiểu rõ hơn về yêu cầu của kiểu bài.
– Dựa trên dàn ý đã lập, em tiến hành viết bài.
– Khi viết, chú ý thuyết minh chi tiết một số thông tin quan trọng làm rõ nét tiêu biểu của khu di tích lịch sử để tạo điểm nhấn cho bài viết. Chẳng hạn trong bài viết Hiển Lâm Các, người viết đã chọn trình bày cụ thể một vài chi tiết cho từng khu vực như chi tiết về tấm hoành phi lớn đề ba chữ “Hiển Lâm Các” ở cửa giữa của mặt bằng tầng một, chi tiết về cách trang trí tay vịn cầu thang bắc lên tầng ba, chi tiết hệ thống con sơn đỡ giàn mái của tầng ba hoặc cái bầu rượu pháp lam màu vàng nhạt đặt giữa nóc của tầng ba,... Tất cả những chi tiết ấy đã góp phần làm rõ tính chất tiêu biểu, độc đáo của khu di tích lịch sử này.
– Trong khi viết em nên thường xuyên đọc lại những phần đã viết, đối chiếu với những tiêu chí của bảng kiểm để đảm bảo bài viết luôn đáp ứng tốt các yêu cầu của kiểu bài.
* Bài văn mẫu tham khảo:
Gắn liền với chiều dài ngàn năm văn hiến của thủ đô Hà Nội, ta không thể không nhắc đến Văn Miếu – Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của nước ta, là biểu tượng cho truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam ta.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám được xây dựng vào thế kỷ 11 dưới thời Lý, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long. Suốt hơn 800 năm, Văn Miếu- Quốc Tử Giám đã đào tạo ra nhiều nhân tài cho từng thời đại, người đỗ Tiến sĩ qua các khoa thi thời Lê sơ, thời Mạc và thời Lê Trung Hưng được dựng bia để tôn vinh các bậc hiền tài theo quan điểm Hiền tài là nguyên khí quốc gia.
Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hiện nay Văn Miếu- Quốc Tử Giám đã có nhiều thay đổi về mặt kiến trúc so với thời nhà Lý với lối kiến trúc phương Đông, ảnh hưởng đậm nét bởi Nho giáo và Phật giáo. Nơi đây nằm giữa bốn dãy phố cổng chính là phố Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc là phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng, phía Đông là phố Văn Miếu. Văn miếu bao gồm hai di tích chính là Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy đầu tiên của trường học.
Ban đầu nơi đây chỉ dành cho con vua và các bậc đại quyền quý, sau đã được mở rộng cho người ở cả nước. Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn, khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch vồ từ thời Hậu Lê. Hiện nay, quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được chia làm ba khu vực chính: Văn hồ, vườn Giám và khu nội tự. Hồ Văn nằm đối diện với cổng chính của Quốc Tử Giám, đây là một hồ nước trong, quanh bờ cây cối râm mát tạo cho hồ một không khí mát mẻ, thư thái để giải tỏa căng thẳng sau những ngày làm việc, học tập mệt mỏi.

Khu nội tự của Văn Miếu – Quốc Tử Giám được ngăn cách với Vườn Giám và không gian bên ngoài bởi bức tường gạch vồ, được chia làm năm lớp, mỗi lớp được giới hạn bằng tường gạch và các cửa thông nhau: một cửa chính giữa và hai cửa phụ hai bên với các kiến trúc chủ thể là: cổng Văn Miếu, cổng Đại Trung, Khuê Văn các, cổng Đại Thành, khu điện thờ, cổng Thái Học và kết thúc là khu Thái Học.
Trước khi khám phá kiến trúc bên trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ta phải bước qua Văn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng, cổng có ba cửa, cửa giữa cao to và xây 2 tầng. Từ Văn Miếu môn vào là khu Nhập Đạo với ba cửa chính theo thứ tự từ trái sang phải là Đại Trung, Thành Đức và Đại Tài.
Tiếp đến là Khuê Văn các với kiến trúc một lầu vuông tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái hạ, cao gần chín thước được xây dựng dưới thời Nguyễn, là nơi khi xưa dùng để họp bình các bài văn hay của các sĩ tử đỗ kỳ thi hội. Khu tiếp theo là giếng Thiên Quang và hai vườn bia Tiến sĩ, nơi đây có 82 tấm bia Tiến sĩ hình con rùa bằng đá xanh theo quan niệm của ông cha ta rùa chính là thần Kim Quy biểu tượng cho tinh thần, sức mạnh, sự đùm bọc đoàn kết của dân tộc. Kế tiếp khu tiến sĩ và giếng Thiên Quang là Đại Thành môn với kiến trúc ba gian và hai hàng cột hiên trước sau và một hàng cột giữa.
Qua Đại Thành môn là đến khu điện thờ, đây là khu vực chính của di tích Quốc Tử Giám, là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ Phối, Thất thập nhị hiền v.v… và cũng là nơi giảng dạy của trường giám thời xưa. Khu Khải Thánh hay còn gọi là khu Thái học là khu sau cùng của di tích, không chỉ là nơi thờ cha mẹ của Khổng Tử mà còn là nơi rèn đúc nhân tài cho nhiều triều đại.
Nhà Tiền Đường, Hậu Đường là công trình mới nằm trong công trình trùng tu khu Thái Học trong đó Tiền Đường là nơi trưng bày truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo ngày nay, đồng thời cũng là nơi tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, văn hoá nghệ thuật dân tộc, Hậu Đường là nơi tôn vinh vị danh sư Chu Văn An, tôn vinh nền giáo dục Nho học Việt Nam và tôn vinh những người đã có công xây dựng Văn Miếu – Quốc Tử Giám.
Không chỉ có ý nghĩa khuyến khích hiền tài giúp nước mà Văn Miếu – Quốc Tử Giám còn là biểu tượng lưu dấu quá trình hình thành và phát triển của tầng lớp trí thức Nho học Việt Nam, những người đã tiếp thu và phát huy xuất sắc tinh hoa của các nền văn minh phương Đông để sáng tạo ra cả kho tàng văn hiến Hán Nôm giàu đậm tinh thần yêu nước và bản sắc dân tộc, nơi đây gắn liền với nhiều nét mộc mạc của thời đại phong kiến, chứa đựng tinh hoa văn hóa qua các triều đại, đóng vai trò sử đá của nền giáo dục khoa cử Việt Nam.
Tuy có không ít sự đổi thay nhưng Văn Miếu – Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên được những nét đẹp truyền thống. Nơi đây mỗi độ tết đến xuân về, hình ảnh cổ xưa lại hiện về qua hình ảnh những ông đồ già với hoạt động xin chữ đầu năm _ nét văn hóa của người Hà Nội. Với những giá trị lịch sử và văn hóa như vậy, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã trở thành niềm tự hào của người dân thủ đô nói chung và người Việt Nam nói riêng.
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Sau khi viết, em tự đánh giá bài viết của mình bằng Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử đã sử dụng ở bước 3. Sau đó, em có thể tưởng tượng mình là người đọc bài văn thuyết minh này và trả lời các câu hỏi sau:
– Bài viết có khiến tôi muốn tìm hiểu/ tham quan di tích lịch sử này không?
– Tôi có thể điều chính như thế nào để bài viết hấp dẫn, thu hút người đọc hơn nữa?
Để trình bày hiệu quả ý kiến của cá nhân về một sự việc có tính thời sự, em cần chú ý (những) thao tác nào? Hãy lí giải cụ thể về sự lựa chọn của em.
Để lí giải cho sự lựa chọn của mình, em có thể dựa trên tính chất cần thiết/ mức độ quan trọng của thao tác trong quá trình thực hiện kĩ năng trình bày hoặc ý nghĩa của thao tác đối với chính kinh nghiệm của bản thân. Chẳng hạn như việc tìm ý, lập dàn ý cho đề tài mà cá nhân sẽ trình bày đóng vai trò rất quan trọng vì nếu không có sự chuẩn bị tốt về luận điểm, lí lẽ, bằng chứng thì sẽ rất khó khăn trong việc thuyết phục người khác nghe và tin theo ý kiến của mình. Hoặc ở bước trao đổi, đánh giá, việc lắng nghe và ghi nhận câu hỏi của người nghe, trao đổi lại với thái độ nhã nhặn, lịch sự không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ nội dung và mong muốn của người nghe mà còn góp phần duy trì không khí lịch sự trong quá trình trao đổi, từ đó cũng giúp người nghe dễ chấp nhận và đồng ý với những ý kiến/ quan điểm của mình hơn,...
Theo em, để nghe và nhận biết tính thuyết phục của một ý kiến, thao tác nào là quan trọng nhất? Vì sao em lại xác định như vậy?
Theo em, để nghe và nhận biết tính thuyết phục của một ý kiến, việc lắng nghe kết hợp với việc ghi chép tóm tắt nội dung chính của bài nói và (những) ý tưởng, câu hỏi muốn trao đổi rất quan trọng vì nó sẽ giúp em có cơ sở, căn cứ tiến hành trao đổi, chia sẻ với các bạn khác sau khi nghe.
Thực hiện theo nhóm những nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ nói: Trình bày ý kiến của em với các bạn trong nhóm về một trong những sự việc có tính thời sự liên quan đến đời sống học đường, lứa mới học sinh, chẳng hạn như:
- Làm thế nào để giải quyết vấn nạn bạo lực học đường hiện nay?
- Cách thức để tạo ra một trường học hạnh phúc là gì?
- Nên hay không nên tự tìm hiểu những vấn đề liên quan đến giới tính ở lứa tuổi dậy thì?
- Nên hay không nên trao đổi về tình yêu tuổi học trò với cha mẹ?
Nhiệm vụ nghe: Nghe, tóm tắt phần trình bày của bạn và nhận xét về tính thuyết phục của (những) ý kiến mà bạn đã đưa ra, chỉ ra những hạn chế (nếu có) về lập luận, bằng chứng.
Em và các bạn trong nhóm có thể thực hành nói và nghe bằng cách chia nhau thực hiện một trong hai vai sau:
– Trong vai người nói: Chọn một sự việc có tính thời sự mà đề bài đã gợi ý để tiến hành trình bày ý kiến cá nhân dựa trên những hướng dẫn trong sách giáo khoa.
Ví dụ: Vấn đề: Làm thế nào để giải quyết vấn nạn bạo lực học đường hiện nay?
Xin chào thầy cô và các bạn. Bạo lực học đường luôn là vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. Hậu quả mà bạo lực học đường gây ra rất nghiêm trọng, thậm chí là ảnh hưởng đến cả tương lai của con em chúng ta sau này. Phòng tránh bạo lực học đường không phải là việc đơn giản, chỉ một vài cá nhân sẽ không thể chấm dứt được vấn đề nhức nhối này mà sẽ cần cả cộng đồng cùng chung tay góp sức. Vậy, phải làm thế nào để phòng tránh bạo lực học đường?
Bạo lực học đường là những hành vi thô bạo, bất chấp đạo đức, bất chấp công lý, ngang ngược được thực hiện bởi một nhóm học sinh hay một học sinh lên đối tượng là học sinh khác nhằm trấn áp, gây ra những tổn thương về thể xác lẫn tinh thần xảy ra trong phạm vi trường học.
Theo số liệu thống kê hiện nay, bạo lực học đường xảy ra rất thường xuyên và dưới nhiều hình thức khác nhau. Các hình thức bạo lực học đường có thể là các hành vi bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, sự tấn công bằng lời nói, thậm chí là cả bạo lực tình dục, hiếp dâm, quấy rối tình dục, bôi nhọ, sỉ nhục, trấn lột, cướp đồ, bắt bạn khác làm theo ý mình, bạo lực điện tử, mang vũ khí tới trường,...
Hậu quả do bạo lực học đường gây ra rất nghiêm trọng, đặc biệt là với đối tượng là trẻ em, học sinh trực tiếp chịu những ảnh hưởng xấu do bạo lực học đường. Một số tác hại có thể kể đến là ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tâm lý, ảnh hưởng đến kết quả học tập, các mối quan hệ của trẻ. Trẻ nhỏ là nạn nhân của bạo lực học đường có thể mang nỗi ám ảnh tâm lý nặng nề cho tới khi trưởng thành. Cụ thể:
Ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất. Đây là hậu quả dễ nhận biết cũng như phổ biến nhất do bạo lực học đường gây ra. Nạn nhân có thể bị đánh đập, hành hung bởi 1 người hoặc một nhóm người. Tùy theo từng trường hợp khác nhau mà mức độ thương tích của nạn nhân cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế, không ít những trường hợp nạn nhân bị đánh đập đến nỗi tàn phế hoặc mất mạng.
Trong môi trường giáo dục, chúng ta không khó để bắt gặp những cuộc cãi vã, đánh nhau xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ nhất. Nếu không kịp thời phát hiện và ngăn chặn, mâu thuẫn nhỏ có thể dẫn đến những cuộc bạo lực học đường nghiêm trọng, gây ra những hậu quả lâu dài không ai mong muốn.
Ảnh hưởng đến tâm lý. Tâm lý của nạn nhân bị bạo lực học đường cũng bị ảnh hưởng nặng nề, những vết thương trong tâm hồn thậm chí còn lâu lành hơn những vết thương ngoài cơ thể. Có thể thấy, nhiều nạn nhân sau khi bị bắt nạt đã trở nên vô cùng suy sụp, tự ngược đãi bản thân, hay tự ti, sợ sệt không dám tiếp xúc với nhiều người. Sự ám ảnh tâm lý kéo dài vì luôn phải tìm cách đối phó với những kẻ bắt nạt khiến cho nạn nhân luôn sống trong căng thẳng, stress dẫn đến trầm cảm, ảnh hưởng vô cùng lớn đến tâm lý.
Ảnh hưởng kết quả học tập. Khi đã bị tổn thương cả về thể chất lẫn tâm lý, lẽ đương nhiên kết quả học tập của nạn nhân cũng sẽ bị ảnh hưởng. Trẻ sẽ luôn sợ hãi khi phải đến trường, không thể tập trung học, không muốn đi học, trốn tiết thường xuyên khiến cho kết quả học tập sa sút, yếu kém đi trông thấy. Việc này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai của trẻ sau này, trẻ sẽ khó có thể tìm kiếm được một việc làm tốt trong tương lai đồng thời gặp khó khăn trong việc hòa nhập vào cộng đồng.
Ảnh hưởng đến các mối quan hệ. Bạo lực học đường còn gây ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ của trẻ. Trẻ sẽ xấu hổ, tự ti, thường xuyên lo sợ, rối loạn lo âu mà không dám chia sẻ cho bất cứ ai về việc mình bị bạo lực, bao gồm cả những người thân trong gia đình. Một số trường hợp trẻ bị bạo hành trước mặt người khác nhưng không nhận được sự giúp đỡ, dẫn đến việc trẻ mất dần niềm tin vào những người xung quanh.
Từ đó, những trẻ là nạn nhân của bạo lực học đường thường có xu hướng sống khép kín, từ chối các mối quan hệ và sống tách biệt, cô độc, không muốn giao lưu với người khác, không xây dựng được thêm các mối quan hệ ngoài xã hội.
Không chỉ những nạn nhân mới phải chịu hậu quả, những kẻ bắt nạt học đường cũng sẽ luôn phải sống trong trạng thái bất ổn. Lối sống bạo lực, bắt nạt người khác sẽ gây ra những sai lệch nghiêm trọng trong sự phát triển nhân cách, mất đi sự lương thiện và nguy cơ cao phải đối mặt với sự trừng trị của pháp luật, sự dè bỉu của xã hội, khiến cho tương lai bị ảnh hưởng, bố mẹ phiền lòng.
Để phòng tránh bạo lực học đường, với cương vị là học sinh, bạn cần: Tích cực rèn luyện các kỹ năng sống, ngoan ngoãn lễ phép với người lớn, hòa đồng với bạn bè đồng trang lứa. Chấp hành tốt các quy định của trường lớp. Tránh xa bạo lực học đường, nói không với bạo lực học đường dưới mọi hình thức. Báo ngay cho người lớn hoặc các cơ quan có thẩm quyền khi nhận thấy các hiện tượng bạo lực học đường. Học cách kiềm chế cảm xúc, kiểm soát căng thẳng, stress. Tích cực tham gia các hoạt động tăng tính hướng thiện và tính thiện được nhà trường tổ chức.
Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý giáo dục và nhà trường, giáo viên cần: Tích cực rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường. Tổ chức các hoạt động mang tính hướng thiện. Có hình phạt, cách giáo dục nghiêm khắc đối với những học sinh gây ra bạo lực học đường. Hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời cho các nạn nhân bị tổn thương tâm lý do bạo lực học đường. Vận động, tuyên truyền tác hại và cách phòng tránh bạo lực học đường đối với giáo viên và học sinh. Kết hợp cùng với các cơ quan đoàn thể, gia đình học sinh để phòng chống bạo lực học đường. Luôn quan tâm, nắm bắt tình hình của các em học sinh trong lớp, tạo ra môi trường học tập lành mạnh.
Gia đình học sinh cũng cần: Tạo cho con môi trường sống lành mạnh, tràn ngập yêu thương. Giáo dục cho con cách cư xử, cách kiềm chế cảm xúc, tránh xa mọi hành vi bạo lực, bắt nạt. Phối hợp với giáo viên, nhà trường để nắm bắt sát sao tình hình học tập của con em mình tại trường.
Việc phòng tránh bạo lực học đường là việc không hề đơn giản, sẽ cần sự chung tay của cả cộng đồng, đặc biệt là các cơ sở giáo dục, gia đình phụ huynh và bản thân các em học sinh. Mong rằng những thông tin được đề cập trong bài viết sẽ giúp các em nhận thức đúng đắn về tính nghiêm trọng của bạo lực học đường, từ đó nâng cao ý thức, cùng chung tay xây dựng một môi trường học tập lành mạnh, không có bạo lực.
– Trong vai người nghe: Nghe, ghi chép nội dung trình bày của bạn, sau đó tóm tắt lại phần trình bày đó, nhận xét về tính thuyết phục của ý kiến mà bạn đã đưa ra, chỉ ra những hạn chế (nếu có) về lập luận và bằng chứng theo các bước đã được hướng dẫn trong sách giáo khoa. Khi trao đổi, em cần chỉ ra những ưu điểm trong phần trình bày của bạn trước, nhất là cách bạn lập luận để tạo ra tính thuyết phục cho bài nói. Nếu phần trình bày của bạn còn những hạn chế về cách lập luận, bằng chứng em nên đề xuất hướng điều chỉnh để hỗ trợ bạn làm tăng tính thuyết phục cho bài trình bày.
