Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Ôn tập học kì i có đáp án
21 câu hỏi
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Đoạn trích trên thuộc thể loại nào?
A. Truyện truyền kì
B. Truyện thơ Nôm
C. Khúc ngâm
D. Thơ trữ tình
Đáp án B. Truyện thơ Nôm.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Căn cứ vào nội dung, hãy cho biết vị trí của đoạn trích trong tác phẩm Truyện Kiều.
A. Phần giữa của truyện
B. Phần cuối của truyện
C. Phần đầu của truyện
D. Không thể xác định
Đáp án C. Phần đầu của truyện.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong hai câu thơ sau?
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
A. Nhân hoá, ẩn dụ
B. Nói giảm nói tránh, ẩn dụ
C. Điệp ngữ, nói quá
D. So sánh, hoán dụ
Đáp án A. Nhân hoá, ẩn dụ.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Câu thơ nào sau đây sử dụng điển tích, điển cố?
A. Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
B. Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
C. Một hai nghiêng nước nghiêng thành
D. Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Đáp án C. Một hai nghiêng nước nghiêng thành.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Nội dung chính của đoạn trích là gì?
Đoạn trích giới thiệu về thời gian xảy ra câu chuyện (năm Gia Tĩnh triều Minh) và các nhân vật chính của câu chuyện. Gia đình Vương viên ngoại – một gia đình trung lưu – có 3 người con: con gái đầu lòng là Thuý Kiều, con gái thứ hai là Thuý Vân, con trai út là Vương Quan. Thuý Vân rất xinh đẹp, nhưng không sánh nổi vẻ đẹp của chị. Không những xinh đẹp, Kiều còn rất tài hoa: chơi rất điêu luyện loại đàn hồ cầm và tự soạn một bản nhạc có tên là Bạc mệnh. Hai chị em đã đến tuổi lấy chồng, nhưng vẫn chưa hề vướng bận chuyện tình duyên.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Tính chất truyện và tính chất thơ thể hiện như thế nào trong đoạn trích Từ đó, nêu nhận xét khái quát về thể loại truyện thơ.
- Tính chất truyện thể hiện trong đoạn trích: có người kể chuyện (ngôi thứ ba); có ngôn ngữ người kể chuyện (toàn bộ đoạn trích chỉ có lời người kể chuyện); lời kể giới thiệu về thời gian, không gian, giới thiệu và miêu tả đặc điểm của nhân vật, làm rõ mối quan hệ giữa các nhân vật.
- Tính chất thơ thể hiện trong đoạn trích: thể thơ lục bát (với các đặc trưng về vần, nhịp, thanh điệu của thể thơ này); dùng từ ngữ giàu tính biểu cảm, sử dụng nhiều biện pháp tu từ có giá trị biểu đạt cao.
- Từ hai tính chất trên, có thể thấy truyện thơ là thể loại văn học có đặc điểm nổi bật: kể chuyện bằng thơ, ở đó tính chất truyện và tính chất thơ hòa quyện, xuyên thấm vào nhau.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Nhận xét về cách Nguyễn Du miêu tả nhân vật Thuý Kiều và Thuý Vân.
– Giới thiệu chung về nhân vật (Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân/ Mai cốt cách tuyết tinh thần/ Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười).
– Miêu tả nhân vật Thuý Vân trước, nhân vật Thuý Kiều sau với hàm ý: Thuý Vân đã đẹp như thế, nhưng Thuý Kiều còn đẹp hơn bội phần. Cách miêu tả này nhằm gây ấn tượng mạnh cho người đọc.
– Miêu tả sự hài hoà giữa sắc đẹp và tài năng của Thuý Kiều, làm cho nhân vật trở nên hoàn hảo.
– Lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để khắc hoạ vẻ đẹp của con người (hoa cười ngọc thốt, mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da, làn thu thuỷ, nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn,...).
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Người kể chuyện có thái độ như thế nào đối với các nhân vật được nói đến trong đoạn trích?
– Cảm nhận chung: Chỉ qua một đoạn giới thiệu ngắn, các nhân vật đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng đẹp. Chính thái độ thiện cảm của người kể chuyện đối với các nhân vật đã tạo nên hiệu quả nghệ thuật ấy.
– Những lời nhận xét, bình phẩm càng cho ta thấy rõ thiện cảm của người kể chuyện đối với nhân vật. Chẳng hạn “Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia” (con nhà truyền thống gia giáo); “Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười” (người kể chuyện đánh giá Thuý Kiều và Thuý Vân là những cô gái hoàn hảo). Những cụm từ được dùng để nói về Thuý Vân (trang trọng khác vời, đầy đặn, nở nang, đoan trang, mây thua, tuyết nhường) và các cụm từ dùng để tả Thuý Kiều (sắc sảo mặn mà, hoa ghen, liễu hờn, nghiêng nước nghiêng thành, thông minh, làu bậc ngũ âm, nghề riêng ăn đứt,..) đều cho thấy người kể chuyện không tiếc lời ngợi ca, thể hiện tình cảm nồng hậu đối với nhân vật.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
CHỊ EM THUÝ KIỀU
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du)
Rằng: năm Gia Tĩnh triều Minh,
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng.
Có nhà viên ngoại họ Vương,
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung.
Một trai con thứ rốt lòng,
Vương Quan là chữ nối dòng Nho gia
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm
Cung thương lâu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên xoang,
Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang khảo đính, chú giải,
NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991, tr. 14 – 17)
Phân tích đặc điểm ngôn ngữ của đoạn trích.
- Sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt (viên ngoại, gia tư, Nho gia, tố nga, cốt cách, tinh thần, trang trọng, đoan trang, thu thuỷ, xuân sơn, thi hoạ, cung thương, ngũ âm, bạc mệnh, cập kê,...); điển cố (nghiêng nước nghiêng thành) khiến cho lời văn có tính chất hàm súc, trang nhã.
- Dùng các biện pháp tu từ như nhân hoá (hoa cười ngọc thốt, mây thua tuyết nhường, hoa ghen, liễu hờn); đối giữa hai vế của các câu thơ (bốn phương phẳng lặng >< hai kinh vững vàng; khuôn trăng đầy đặn >< nét ngài nở nang; mây thua nước tóc >< tuyết nhường màu da; làn thu thuỷ >< nét xuân sơn; hoa ghen thua thắm >< liễu hờn kém xanh; pha nghề thi hoạ >< đủ mùi ca ngâm) để gia tăng khả năng biểu đạt của ngôn ngữ.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Văn bản trên đây thuộc loại nào?
A. Văn bản thông tin
B. Văn bản nghị luận xã hội
C. Văn bản nghị luận văn học
D. Văn bản đa phương thức
Đáp án C. Văn bản nghị luận văn học.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Dòng nào sau đây khái quát đúng về nội dung của văn bản?
A. Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết
B. Ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết
C. Ảnh hưởng của văn học viết đối với văn học dân gian
D. Sự phân biệt văn học dân gian với văn học viết
Đáp án B. Ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Theo em, ý nào sau đây cho thấy nhận thức của tác giả về mục đích nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết?
A. Rút ra những bài học cụ thể trong việc tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới
B. Thấy được sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết
C. Thấy được các tác phẩm văn học viết xuất sắc đã chi phối việc sáng tác của các nhà văn, nhà thơ như thế nào
D. Thấy được tầm ảnh hưởng lớn lao của các tác phẩm xuất sắc trong nền văn học viết đối với văn học và văn hoá dân gian
Đáp án A. Rút ra những bài học cụ thể trong việc tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Câu nào sau đây nói đến sự cần thiết của việc dùng bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề?
A. Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian.
B. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế.
C. Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn.
D. Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Đáp án D. Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể..
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Theo tác giả, điều gì quyết định hiệu quả của việc học tập, sử dụng văn học dân gian trong sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ? Vì sao?
Theo nội dung được thể hiện trong văn bản, yếu tố quyết định hiệu quả của việc học tập, sử dụng văn học dân gian là “quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, cùng với “tài năng và trình độ nghề nghiệp” của chính tác giả đó. Sở dĩ như vậy là bởi, sản phẩm mà nhà văn, nhà thơ sáng tạo ra phải mang tính chất riêng biệt, độc đáo, thể hiện tài năng và tâm huyết, in đậm dấu ấn tư tưởng riêng. Chính điều này quyết định mọi khía cạnh của sáng tạo, trong đó có việc học tập, sử dụng văn học dân gian.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Những bằng chứng nào đã được tác giả sử dụng trong văn bản? Những bằng chứng đó nhằm làm sáng tỏ ý kiến nào?
Trong văn bản, tác giả sử dụng hai bằng chứng tiêu biểu thuộc văn học trung đại, đó là Truyện Kiều của Nguyễn Du và Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Các bằng chứng này xuất hiện hai lần, nhằm minh hoạ cho ý kiến: các tác phẩm văn học xuất sắc có ảnh hưởng ngược trở lại đối với văn học dân gian, nghĩa là các tác giả dân gian đã dùng một số yếu tố của tác phẩm văn học viết (như Truyện Kiều hoặc Truyện Lục Vân Tiên) vào việc sáng tạo của mình.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Việc sử dụng kinh nghiệm và chất liệu văn học dân gian có tất yếu dẫn các nhà văn đến thành công trong sáng tác không? Tác giả đã lí giải như thế nào về điều này?
Việc sử dụng kinh nghiệm và chất liệu văn học dân gian, theo tác giả, có thể dẫn đến hai khả năng: có khi tạo ra những “giá trị thẩm mĩ mới”, những “tác phẩm bậc thầy”, nhưng cũng có những trường hợp “chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị”, nghĩa là không tất yếu dẫn đến thành công. Sự thành công hay không đã được tác giả lí giải: “Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian [....] phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.”.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Cần xác định cái riêng, cái độc đáo của mỗi tác giả trong việc sử dụng, cải biến, đồng hoá chất liệu dân gian và hiệu quả tư tưởng, thẩm mĩ của sự sáng tạo đó. Đây là một phương diện thể hiện cá tính và bản lĩnh nghệ thuật của tác giả. Từ đó có thể nói đến những bài học cụ thể trong tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm nghệ thuật dân gian vào việc sáng tạo nền văn học mới.
Hiệu quả nghệ thuật của việc học tập, sử dụng văn học dân gian không phải được xác định bởi phân lượng, bởi tỉ lệ phần trăm của chất liệu dân gian có mặt trong tác phẩm văn học viết, mà trước hết phụ thuộc vào quan điểm tư tưởng, thẩm mĩ của tác giả, phụ thuộc vào tài năng và trình độ nghề nghiệp của anh ta.
Có khi việc sử dụng kinh nghiệm nghệ thuật phong phú của văn học dân gian có thể tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới, những tác phẩm bậc thầy. Nhưng có trường hợp cũng bằng những vốn liếng vay mượn ấy, bằng những thủ đoạn và phương pháp ấy lại chỉ tạo ra sự tầm thường, vô vị.
Tất cả cái đó chỉ có thể được làm sáng tỏ trong quá trình phân tích những trường hợp cụ thể với những tác phẩm cụ thể.
Việc nghiên cứu ảnh hưởng ngược lại của văn học viết đối với văn học dân gian thường chỉ được đặt ra đối với những tác phẩm ưu tú của các nhà văn lớn, có nội dung và nghệ thuật gần gũi và dễ hiểu đối với nhân dân. Thường đó cũng là những tác phẩm chịu ảnh hưởng tốt đẹp và sâu sắc của văn học dân gian. Trong lịch sử văn học Việt Nam, “Truyện Kiều”, “Lục Vân Tiên” là những trường hợp như thế. Những tác phẩm này đã cung cấp cho văn học dân gian, văn nghệ dân gian chất liệu và kinh nghiệm nghệ thuật, tích truyện, một số hình ảnh, hình tượng nghệ thuật, tính cách nhân vật, những cách nói, lời nói tiêu biểu. Nhiều đề tài và nguồn cảm hứng của các nghệ nhân dân gian được khởi phát từ các tác phẩm bậc thầy ấy và rồi trong môi trường văn nghệ dân gian, các tác phẩm ấy lại tiếp tục đời sống sinh động của chúng và có những biến dạng thẩm mĩ mới. Nghiên cứu những biến dạng này, một lần nữa chúng ta lại có thể thấy sự chi phối của những quan điểm, thị hiếu thẩm mĩ, phong cách nghệ thuật và thi pháp dân gian đối với tác phẩm văn học viết trong khâu lưu truyền, trong giai đoạn hậu sáng tác của tác phẩm.
Bên cạnh “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”, nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết.
(Lê Kinh Khiên, Một số vấn đề lí thuyết chung về mối quan hệ văn học dân gian – văn học viết, in trong Những trang văn ở lại, tập một, NXB Đại học Vinh, 2018, tr. 153 – 154)
Sự ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết có phải chỉ biểu hiện ở Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên hay không? Căn cứ vào đâu để xác định như vậy?
Sự ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết biểu hiện qua hai tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam là Truyện Kiều và Truyện Lục Vân Tiên. Tuy nhiên, không chỉ như vậy. Theo tác giả, “nhiều truyện Nôm bình dân cũng đã có ảnh hưởng khá sâu rộng trong văn học dân gian. Nghiên cứu quá trình hình thành cốt truyện truyện Nôm bình dân từ các cốt truyện dân gian cũng như tìm hiểu cuộc sống thứ hai của các tác phẩm này trong môi trường sinh hoạt văn nghệ dân gian, chúng ta có thể hình dung được một cách khá cụ thể ảnh hưởng qua lại giữa văn học dân gian và văn học viết”.
Trách nhiệm của học sinh trong việc tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến học tập và sinh hoạt của bản thân.
Tham khảo:
Như một người học sinh, tôi luôn nhận thức được nhiệm vụ của mình trong việc học tập và rèn luyện. Ngày hôm nay, nhiệm vụ của tôi là đặt tâm huyết và nỗ lực vào công việc học tập để tiếp thu kiến thức một cách tốt nhất.
Trong quá trình học tập, tôi hiểu rằng trách nhiệm của mình không chỉ dừng lại ở việc thu thập thông tin từ sách giáo trình, mà cần phải áp dụng kiến thức vào thực tế và phát triển kỹ năng sáng tạo, tư duy logic và khả năng giải quyết vấn đề. Tôi cố gắng chăm chỉ tham gia vào các hoạt động học tập như làm bài tập, tham gia tranh luận và thực hành để trau dồi kỹ năng và hiểu biết. Ngoài ra, tôi không chỉ chú trọng vào việc học mà còn quan tâm đến việc rèn luyện bản thân. Tôi hiểu rằng để trở thành một con người hoàn thiện, cần phải có sự cống hiến và tự cải thiện liên tục. Do đó, ngày mai và trong tương lai, tôi cam kết tiếp tục đóng góp và cống hiến hơn nữa. Ngày mai, tôi sẽ không chỉ tập trung vào việc học tập mà còn tìm kiếm cơ hội để phát triển các kỹ năng mềm, như giao tiếp, lãnh đạo và làm việc nhóm. Tôi sẽ tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, clb, tổ chức xã hội và tình nguyện để rèn luyện cái nhìn toàn diện về thế giới xung quanh. Đồng thời, tôi cũng sẽ luôn đặt mục tiêu và lập kế hoạch cho bản thân trong học tập và cuộc sống. Tôi sẽ không ngừng học hỏi từ những người có kinh nghiệm và tìm kiếm cách phát triển bản thân một cách liên tục.
Tổng kết lại, nhiệm vụ của một người học sinh là không chỉ học tập, mà còn rèn luyện bản thân và cống hiến cho ngày mai. Tôi tin rằng việc hoàn thành nhiệm vụ này sẽ giúp tôi trở thành người có ích cho xã hội và đạt được thành công trong tương lai.
Việc rèn luyện kĩ năng sống của học sinh hiện nay.
Muốn hiểu biết về thế giới và con người xung quanh, chúng ta cần nỗ lực học tập để có được tri thức. Nhưng muốn có được cuộc sống hạnh phúc và sự tương tác hài hòa với mọi người xung quanh, với chính mình, bên cạnh kiến thức, con người cần rèn luyện cho mình những kĩ năng sống. Có thể khẳng định, kĩ năng sống có vai trò quan trọng đối với con người bất kể ở thời đại nào và ở thời điểm nào trong cuộc đời.
Vậy kĩ năng sống là gì? Tại sao kĩ năng sống lại quan trọng đối với chúng ta? Có hay không có kĩ năng sống, cuộc đời của chúng ta có gì khác biệt? Thực ra, trên thế giới và ở Việt Nam, có nhiều tổ chức đưa ra những cách hiểu khác nhau về kĩ năng sống như cách hiểu của Tổ chức Y tế thế giới WHO, Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc Unicef, Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc Unesco hay trong các đơn vị trường học ở Việt Nam cũng có cách hiểu cụ thể gắn với điều kiện của mình. Nhưng hiểu một cách đơn giản, kĩ năng sống là khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với mọi người xung quanh và khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống.
Những khả năng ấy được biểu hiện bằng lời nói và hành động cụ thể trước những tình huống cụ thể. Ví dụ, trong học tập, có hai nhóm cùng làm việc. Nhóm một, người này làm việc người khác lại ngồi chơi, khi tranh luận thì cãi vã và giận dỗi lẫn nhau. Nhóm hai, tất cả cùng làm việc, cách đưa ra ý kiến riêng thẳng thắn và thiện chí, tranh luận mà không cãi vã và đưa ra được kết quả làm việc tập thể. Với ví dụ trên, nhóm hai có kĩ năng sống quan trọng là kĩ năng làm việc nhóm. Ngoài ra, còn có hàng loạt các kĩ năng sống khác như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết trình…
Có nhiều lí do khiến kĩ năng sống chiếm vai trò quan trọng đối với con người, đặc biệt đối với các bạn học sinh. Lí do đầu tiên phải kể đến là cuộc sống luôn nảy sinh những tình huống cần chúng ta xử lí và kĩ năng sống là công cụ có những ưu điểm to lớn giúp ta giải quyết chúng. Tình huống ấy có khi là người lạ đến nhà mà cha mẹ đi vắng, là việc bạn bè xấu rủ rê hút thuốc lá khi ở trường, là khi cần bày tỏ tình cảm, sự quan tâm tới những người xung quanh, là khi giải quyết khó khăn trong học tập… Đối với tất cả những tình huống ấy, chúng ta đều cần có kĩ năng sống để ứng xử khéo léo, hiệu quả. Ví như ta cần ứng xử lịch sự và biết đề phòng người lạ để giữ an toàn, ta cần biết cách từ chối khi bị rủ rê hay cần bình tĩnh và kiên nhẫn khi gặp khó khăn. Mặt khác, chúng ta không sống một mình mà chung sống cùng gia đình và cộng đồng xung quanh với thầy cô, bạn bè, làng xóm,… Muốn có được niềm vui và sự hài hòa với mọi người, kĩ năng sống cũng có vai trò quan trọng giúp đem lại điều đó. Một lời nói, một cử chỉ, một nụ cười hay một hành động nhỏ cũng có thể giúp mọi người xung quanh ấm lòng và cuộc sống trở nên thú vị hơn.
Thái độ lễ phép, cử chỉ lịch sự, lời nói dễ nghe, hành động giúp, đỡ quan tâm tới mọi người xung quanh luôn giúp cho chúng ta được yêu quý. Không chỉ cần kĩ năng sống để ứng xử với mọi người xung quanh, chúng ta cần kĩ năng sống để ứng xử với chính mình. Khi nổi giận, khi tìm kiếm sự hỗ trợ, khi cần có được sự tự tin… mỗi người đều cần rèn luyện để có được sự cân bằng và vui vẻ.
Cuộc sống khi có và khi không có kĩ năng sống thực sự rất khác biệt. Một người không có kĩ năng sống, cuộc đời sẽ gặp nhiều khó khăn, một cộng đồng không có kĩ năng sống sẽ ẩn chứa nhiều xung đột và hạn chế, một quốc gia không có kĩ năng sống sẽ chẳng thể vươn lên phía trước. Ta có thể thấy ngay điều đó, một học sinh không có kĩ năng sống thường nản chí khi gặp bài tập khó, dễ sa ngã khi bị bạn bè xấu rủ rê, dễ cãi vã khi bạn bè có suy nghĩ khác mình… Người không có kĩ năng sống cũng thường gặp nhiều khó khăn, nhiều cảm xúc tiêu cực hơn trong học tập, làm việc. Rèn luyện kĩ năng sống, chúng ta sẽ có những hành xử đẹp và hiệu quả. Chứng kiến một vụ việc bạo lực học đường, có bạn đứng xem vì tò mò, có bạn sợ hãi, có bạn cổ vũ, có bạn đứng quay video để tung lên mạng, nhưng bạn có kĩ năng sống sẽ phân tích ngay mức độ nghiêm trọng của sự việc và có những tác động kịp thời như can ngăn nếu sự việc không quá nghiêm trọng, tìm cách giải quyết như thông báo cho người bảo vệ, tổ an ninh, thầy cô giáo, hoặc gọi điện cho công an để giải quyết.
Kĩ năng sống rất quan trọng với mỗi học sinh còn bởi đây là lứa tuổi hình thành nhân cách, tư duy, nhận thức, kinh nghiệm… Bởi vậy, càng được rèn luyện kĩ năng sớm, các bạn càng có nhiều thuận lợi khi bước vào đời. Chúng ta có thể học kĩ năng sống qua các chương trình truyền hình có liên quan, qua tấm gương đẹp của những người xung quanh, qua sách dạy kĩ năng… Kĩ năng sống không có sẵn trong mỗi chúng ta, mỗi người phải nhận thức được tầm quan trọng và ích lợi to lớn của kĩ năng sống đối với thực tiễn để trau dồi, rèn luyện bằng cách tự lựa chọn những lời nói, cử chỉ, hành động, quyết định phù hợp để xử lí tình huống một cách hiệu quả, khéo léo và vui vẻ.
Tóm lại, kĩ năng sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng không chỉ với học sinh mà với tất cả mọi người. Dù sống ở đâu, làm nghề gì và đang ở thời điểm nào của cuộc đời, chúng ta cũng cần có kĩ năng sống bên cạnh những kiến thức và hiểu biết để luôn được suôn sẻ và hạnh phúc. Khi thay đổi nhận thức về kĩ năng sống, nhiều điều trong cuộc sống và học tập của tôi đã thay đổi. Còn bạn thì sao?
Thái độ tôn trọng lẫn nhau của học sinh trong học tập và sinh hoạt.
HS tham khảo dàn ý:
I. Mở bài:
- Dẫn dắt đến vấn đề cần thảo luận: Sử dụng một câu nói tục ngữ hoặc một câu ca dao để nêu lên vấn đề tôn trọng người khác.
- Giới thiệu vấn đề cần thảo luận: Mục đích của câu nói trên là nhấn mạnh việc quan trọng của việc tôn trọng người khác.
II. Phần chính:
1. Diễn giải vấn đề:
- Tôn trọng người khác là: Hành động đúng mực, tôn trọng danh dự, phẩm chất và quyền lợi của mỗi cá nhân. Đồng thời, phải biết sống hòa hợp, yêu thương mọi người.
- Tôn trọng tất cả mọi người: Không phân biệt giàu nghèo hay sắc tộc.
=> Điều này thể hiện tính văn minh của con người đương đại.
2. Lý do cần biết tôn trọng người khác:
- Trước hết, khi biết tôn trọng người khác, chúng ta cũng sẽ được họ tôn trọng lại.
- Việc tôn trọng người khác cho thấy chúng ta là những người có văn hóa, có lòng tự trọng và trí tuệ.
- Sống trong một cộng đồng, việc biết tôn trọng những người xung quanh sẽ tạo ra mối quan hệ xã hội tích cực hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho công việc và cuộc sống.
- Những người biết tôn trọng người khác thường được mọi người đánh giá cao và được yêu quý.
3. Cách thể hiện
* Thái độ tôn trọng người khác:
- Trong cách cư xử và giao tiếp
+ Thể hiện sự tôn trọng đối với mọi người xung quanh: không phân biệt tuổi tác, trình độ hoặc tình cảm. Mỗi cá nhân trong xã hội đều xứng đáng được tôn trọng.
+ Giao tiếp luôn tuân thủ đúng quy tắc: lịch sự khi chào hỏi người lớn tuổi, nói chuyện nhẹ nhàng và tôn trọng khi ở nơi công cộng…
* Trên hành động và lối sống:
+ Thái độ lịch sự, tuân thủ quy tắc chung: xếp hàng khi thanh toán hoặc mua sắm, nhường chỗ ngồi trên xe buýt cho người già, trẻ em và phụ nữ có thai, vứt rác đúng nơi quy định…
+ Chân thành tiếp nhận ý kiến đóng góp từ mọi người, tích cực tham gia vào các hoạt động cộng đồng…
* Không biết tôn trọng: Con cái đánh đập, mắng mỏ cha mẹ; Vợ chồng cãi vã, xô xát; Đồng nghiệp nói xấu lẫn nhau...
4. Mở rộng:
- Đặc biệt, với học sinh là tương lai của đất nước, cần phải thúc đẩy ý thức tôn trọng người khác.
+ Đối với gia đình: chào hỏi bố mẹ trước và sau khi đi học, trò chuyện với người lớn trong gia đình một cách lễ phép và tôn trọng, không cãi lại, đối xử nhẹ nhàng với các em nhỏ…
+ Đối với trường học: tôn trọng thầy cô, giúp đỡ bạn bè trong học tập, không coi thường hoàn cảnh gia đình bạn bè…
- Tuy nhiên, vẫn có một số học sinh chưa hiểu rõ về việc tôn trọng mọi người xung quanh: nói xấu thầy cô, phản đối bố mẹ, sử dụng ngôn ngữ tục tĩu...
III. Kết bài
- Ý thức tôn trọng người khác phần lớn phụ thuộc vào việc được giáo dục từ gia đình, nhà trường và xã hội.
- Mỗi cá nhân cũng cần tự ý thức về việc tôn trọng người khác.
Học sinh với các hoạt động công ích ở địa phương nơi mình sinh sống.
HS tham khảo dàn ý:
1. Mở bài
+ Trong xã hội hiện đại, việc có ý thức và giữ gìn ý thức cộng đồng đã trở thành một chuẩn mực cũng như là thước đo những giá trị đạo đức và phẩm cách của một con người.
2. Thân bài
* Khái niệm:
+ Ý thức là một đặc thù của con người mà không một giống loài nào khác có được→ Nó có vai trò quyết định trong đời sống của con người, một cá thể khó có thể tự sinh sống độc lập nếu như không có ý thức.
+ Ý thức cộng đồng lại là phần nhận thức về các giá trị chung, theo chuẩn mực đạo đức, mà mọi người có trách nhiệm tuân thủ, hướng đến một xã hội văn minh tốt đẹp.
* Vai trò của ý thức cộng đồng:
+ Ý thức cộng đồng, thể hiện tư chất đạo đức, trí tuệ và trình độ văn hóa của một con người.
+ Người có ý thức cộng đồng sẽ dễ dàng kết giao, có nhiều mối quan hệ hữu ích.
* Biểu hiện của ý thức cộng đồng:
+ Giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp, ý thức giữ gìn của công, ...
+ Khả năng hạ thấp cái "tôi" cá nhân, hòa nhập với tập thể, hy sinh lợi ích cá nhân vì cộng đồng.
+ Thống nhất về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán của mỗi dân tộc, mỗi địa phương.
+ Đoàn kết, yêu thương đùm bọc giữa con người với con người.
* Thực trạng
+ Trong xã hội cũng có rất nhiều cá thể hoàn toàn không có ý thức cộng đồng, điều đó thể hiện ở sự ích kỷ, bo bo giữ mình, chỉ biết đến lợi ích của bản thân.
+ Đó là sự khiếm khuyết trong tâm hồn và nhận thức, người sống như vậy là người có một tâm hồn trống rỗng thiếu đi sự thấu cảm, sẻ chia, sẽ dễ bị cô lập và bị mọi người xa lánh.
3. Kết bài
+ Ý thức cộng đồng là thứ chỉ cần chúng ta chịu mở lòng, chịu học tập, buông xống sự ích kỷ của bản thân là có thể dễ dàng học được, người có ý thức cộng đồng cao là người có một tâm hồn thật đẹp, thật rực rỡ, thật sôi nổi.
+ Tôi tin rằng, cuộc sống sẽ không phụ lòng những người như vậy, họ sẽ sớm thành công bởi những gì họ cống hiến cho cuộc đời.
