Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 9. Đi và suy ngẫm có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 9. Đi và suy ngẫm có đáp án

A
Admin
VănLớp 958 lượt thi
43 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Trong văn bản Yên Tử, núi thiêng, việc tác giả miêu tả một hành trình giả định cho du khách có ý nghĩa như thế nào? Qua đối chiếu văn bản này với những văn bản thực hiện chức năng tương tự, em có nhận xét gì về mô hình chung của các đoạn văn miêu tả loại hành trình giả định này?

Xem đáp án

- Giả định được Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (Chủ biên) giải thích là: “coi điều nào đó như là có thật, lấy đó làm căn cứ”. Ở đây, hành trình giả định do tác giả tưởng tượng ra, trong đó tác giả đóng vai trò là người dẫn độc giả tham gia cuộc hành hương lên Yên Tử. Qua hành trình giả định này, độc giả hình dung được rõ rệt hơn về các chặng mà mình có thể trải qua trên tuyến đường đến với danh lam thắng cảnh Yên Tử.

- Trong các văn bản giới thiệu một danh lam thắng cảnh thường có đoạn miêu tả hành trình giả định. Ở đó, các đại từ ta, chúng ta, bạn luôn xuất hiện cùng với một số mẫu câu quen thuộc: Ta/ Chúng ta/ Bạn bắt đầu hành trình khám phá ... từ ... Đây là nơi ...; Tiếp đó, ta/ chúng ta/ bạn sẽ đi tới ...; Ta/ Chúng ta/ Bạn nên ......

2. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Dựa vào những thông tin trong văn bản, hãy cho biết vì sao Yên Tử có thể được xem là một quần thể du lịch tâm linh.

Xem đáp án

Trong văn bản, tác giả không trực tiếp dùng cụm từ quần thể du lịch tâm linh, tuy nhiên, mọi thông tin đã được trình bày đều hướng đến việc làm rõ đặc điểm này của danh lam thắng cảnh Yên Tử. Khi trả lời câu hỏi, em cần đặc biệt chú ý các từ quần thể và tâm linh. Đã dùng từ quần thể thì không thể chỉ nói về sự tồn tại của một vài đối tượng đơn lẻ. Đã nói đến tâm linh thì phải nghĩ ngay đến nơi có thể phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của công chúng. Yên Tử có thể được xem là quần thể du lịch tâm linh vì:

– Có rất nhiều địa điểm, di tích đáng chú ý, gắn với nhau trong một tổng thể hài hoà.

– Có những cảnh quan làm say lòng người bên cạnh rất nhiều am, chùa thờ Phật hoặc các vị có công trạng trong việc phát triển Phật giáo ở nước ta, làm thoả mãn nhu cầu mộ đạo hay chiêm bái của du khách.

3. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Nêu nhận xét của em về sự pha trộn giữa truyền thuyết dân gian và cứ liệu lịch sử trong cách tác giả diễn giải lai lịch một số đối tượng thuộc danh lam thắng cảnh Yên Tử.

Xem đáp án

Khi diễn giải lai lịch một số đối tượng thuộc danh lam thắng cảnh Yên Tử, tác giả đã pha trộn truyền thuyết dân gian và cứ liệu lịch sử. Cần thấy lí do của sự “pha trộn” này từ các phương diện:

– Phương diện tư liệu về cảnh quan, di tích: Những ghi chép còn lại của chính sử, địa chí về Yên Tử không đủ để giải đáp hết những điều người ta muốn biết về mọi địa danh, di tích ở đây. Vì vậy, những người viết về Yên Tử thường phải huy động thêm những cách giải thích của dân gian trong một số truyền thuyết.

– Phương diện kiểu văn bản cùng tính đặc thù của nó: Một văn bản giới thiệu về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử không chỉ hấp dẫn người đọc bằng các thông tin khách quan có thể kiểm chứng mà còn bằng các thông tin về cảm nhận, tưởng tượng, đánh giá của bao thế hệ về đối tượng đó. Loại thông tin thứ hai cho thấy mỗi danh lam thắng cảnh hay di tích luôn có một không khí tinh thần đặc biệt bao quanh, khiến chúng nhuốm màu huyền thoại, gợi rất nhiều tò mò và khát khao khám phá.

4. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Theo những gì được gợi ra trong văn bản, em cảm nhận như thế nào về vai trò của vua Trần Nhân Tông trong việc tạo cho thắng cảnh Yên Tử một giá trị mới.

Xem đáp án

Tuy chỉ yêu cầu phát biểu cảm nhận về vai trò của vua Trần Nhân Tông với Yên Tử, nhưng câu hỏi cũng nêu gợi ý về những thông tin mà em cần biết sâu thêm về vấn đề, qua việc tìm đọc một số tài liệu có liên quan. Khi trả lời câu hỏi, cần đặc biệt chú ý câu cuối cùng của văn bản.

5. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Tìm hiểu thêm một số sáng tác thơ, văn viết về Yên Tử. Kể tên những tác phẩm mà em đã tìm đọc được (chú ý ghi kèm tên tác giả). Nêu nhận xét chung về sự khác biệt giữa các tác phẩm ấy với văn bản Yên Tử, núi thiêng trên cả hai phương diện nội dung và cách thể hiện.

Xem đáp án

Để giải quyết yêu cầu của câu hỏi, có thể sử dụng công cụ tìm kiếm của Google, gõ từ khoá thơ văn về Yên Tử để đọc những sáng tác viết về danh lam thắng cảnh này. Khi tìm đọc, cần loại trừ các văn bản thuộc loại văn bản thông tin, vì câu hỏi chỉ yêu cầu đọc “sáng tác thơ, văn”, nghĩa là đọc những văn bản thuộc loại văn bản văn học, Dựa trên những kiến thức đã học về các loại văn bản và sự đối chiếu cụ thể, em sẽ tìm được câu trả lời thoả đáng cho vấn đề mà câu hỏi nêu lên.

6. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Yên Tử, núi thiêng trong SGK (tr. 91 – 94) và trả lời các câu hỏi:

Chọn trong văn bản một số câu phù hợp để viết lại theo hướng mở rộng cấu trúc của các câu đó. Nêu rõ sự khác nhau giữa câu gốc và câu được viết lại xét từ phương diện cung cấp thông tin.

Xem đáp án

Ví dụ 1:

- Câu gốc: Từ đó cảnh sắc thiên nhiên ngoạn mục hòa quyện với chùa, am, tháp cổ kính của Yên Tử, vừa như chốn thần tiên, vừa lại gần gũi, gắn bó với con người.  

- Câu mở rộng: Từ đó cảnh sắc thiên nhiên ngoạn mục hòa quyện với chùa, am, tháp cổ kính của Yên Tử được các triều đại sau tôn tạo, xây dựng suốt từ chân lên tới đỉnh núi vừa như chốn thần tiên, vừa lại gần gũi, gắn bó với con người.

Ví dụ 2:

- Câu gốc: Nhưng Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâ, náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông đến Yên Tử tu hành.   

- Câu mở rộng: Nhưng Yên Tử thật sự trở thành nơi trung tâ, náo nhiệt của Phật giáo Trúc Lâm chỉ từ khi vua Trần Nhân Tông – một trong những vị vua anh minh nhất của lịch sử Việt Nam - đến Yên Tử tu hành.   

=> Câu mở rộng cung cấp đa dạng thông tin hơn.

7. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Theo em, nếu nhan đề của văn bản được đặt lại là Thú chơi hoa – cây cảnh thì có được không? Vì sao?

Xem đáp án

Tuy là một yếu tố quan trọng cấu thành văn bản, nhưng nhiều khi nhan đề chỉ mang tính chất gợi hướng cảm nhận, suy luận, không nhất thiết phải “thâu tóm” được đầy đủ nội dung hay tinh thần của văn bản, miễn những điều triển khai sau đó không đi chệch ra ngoài cái hướng do chính nó gợi ra. Trong ngữ cảnh cụ thể của văn bản, các khái niệm thú hay văn hoá có thể mang nghĩa tương đương, tuỳ thuộc vào cách tác giả quan niệm hoặc làm rõ nội dung của khái niệm thú (suy cho cùng, đằng sau mỗi cái thú luôn có một nền tảng văn hoá nào đó).

8. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Em hiểu như thế nào về khái niệm thiên nhiên thứ hai được tác giả sử dụng trong văn bản? Thiên nhiên thứ hai đó cho biết điều gì về lịch sử phát triển của loài người?

Xem đáp án

Khi trả lời về sau của câu hỏi, đầu tiên, em cần tự đặt cho mình một số câu hỏi tìm ý như: Phải chăng thiên nhiên thứ hai là thứ thiên nhiên có sẵn? Có phải ngay từ thuở ban sơ, con người đã tạo được thiên nhiên thứ hai? Thiên nhiên thứ hai xuất hiện khi nào và sau những hoạt động gì của con người? Cần chú ý các từ khoá đã được tác giả nhắc đến như lệ thuộc, ứng biến – thích ứng, biến đổi xây dựng để có thể vẽ ra sơ đồ đơn giản về lịch sử phát triển của loài người (xét theo quan hệ giữa con người với tự nhiên, thiên nhiên).

9. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Khi nói về cách ứng xử của người Việt với thiên nhiên, tác giả đã triển khai những thông tin chính nào?

Xem đáp án

Khi nói về cách ứng xử của người Việt với thiên nhiên, tác giả đã triển khai những thông tin chính là:

+ Thông tin về các công trình nhân tạo được bố trí hài hoà với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp.

+ Thông tin về sự tồn tại trải đều trên nhiều vùng đất của các làng, trại, chợ hoa – cây cảnh.

+ Thông tin về cách người Việt đưa thiên nhiên vào mỗi ngôi nhà, vào từng không gian cư trú riêng tư.

10. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Nếu được phép bổ sung một số cứ liệu ngôn ngữ và văn học cho bài viết của tác giả Trần Quốc Vượng, em sẽ bổ sung như thế nào? Nêu phương án phân bố các cứ liệu em vừa tìm được vào các đoạn cụ thể của văn bản.

Xem đáp án

Câu hỏi nhắc em ghi lại những liên tưởng nảy sinh khi đọc chuỗi dẫn chứng được tác giả đưa ra trong các đoạn nói về văn hoá hoa – cây cảnh của người Việt. Đó phải là những câu thơ, văn khái quát về tình cảm của con người đối với thiên nhiên hay những từ ngữ mang tính ẩn dụ thể hiện cách nhìn thiên nhiên như đối tượng có linh hồn. Các ngữ liệu mới mà em chợt nghĩ đến hay vừa tìm ra có thể được đặt xen kẽ hoặc tiếp nối chuỗi dẫn chứng do tác giả nêu sau từng thông tin khái quát. Ví dụ: Có thể bổ sung câu thơ sau đây để minh hoạ cho ý nói về việc người Việt biết chọn nơi non nước hữu tình để xây dựng đền – chùa – tháp – miếu:

Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá

Sư cụ nằm chung với khói mây.

(Nguyễn Khuyến, Nhớ cảnh chùa Đại)

Một số câu thơ, lời nhạc hay cụm từ khác có thể dùng để đặt xen vào đoạn từ Phương Đông đến tục thờ cây cối... trong văn bản: Nước còn cau mặt với tang thương (Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ); Mây che trên đầu và nắng trên vai (Trịnh Công Sơn, Một cõi đi về); Đỡ lấy đài xiêu, nưng lấy nhị,/ Hồn ơi, phong cảnh cũng là ngươi! (Xuân Diệu, Xuân rụng); biển gào, sóng thét, gió reo,..

11. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Qua việc tìm hiểu văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh, nêu suy nghĩ của em về những gì cần chuẩn bị khi viết một văn bản nói về văn hoá truyền thống hay thắng cảnh và di tích.

Xem đáp án

Có thể đó là ấn tượng về kiến thức phong phú và khả năng bao quát vấn đề của tác giả. Có thể đó là ấn tượng về lối triển khai thông tin linh hoạt, sinh động trong văn bản,... Tiếp sau, cần tự hỏi: Bản thân em có thể viết được văn bản thông tin về một vấn đề cụ thể nào đó theo cách tương tự hay không? Nếu muốn viết được, em phải công phu rèn luyện những mặt nào (phương pháp nhìn nhận, kiến thức, kĩ năng,...)?

12. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh trong SGK (tr. 96 – 99) và trả lời các câu hỏi:

Chọn trong văn bản một số câu phù hợp để viết lại theo hướng làm biến đổi cấu trúc của các câu đó và nhận xét về kết quả đạt được.

Xem đáp án

Ví dụ:

- Câu gốc: Đến thăm quê cũ nhà Trần, ngoài tháp chùa Phổ Minh, đền Trần, đền Bảo Lộc, … ta còn bắt gặp các địa danh Hoa Nha, Liễu Nha vang bóng một thời “hào khí Đông A”.

- Câu biến đổi: Ta bắt gặp các địa danh Hoa Nha, Liễu Nha vang bóng một thời “hào khí Đông A” bên cạnh các tháp chùa Phổ Minh, đền Trần, đền Bảo Lộc, … mỗi khi đến thăm quê cũ nhà Trần.

13. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Có thể xếp văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội vào loại văn bản nào? Em dựa vào đâu để xếp loại như vậy?

Xem đáp án

Văn bản Thực hành đọc luôn cùng loại, thể loại với văn bản 1 và văn bản 2. Khi tìm căn cứ để đảm bảo việc xếp loại của mình là đúng, cần chú ý đến nhan đề văn bản, đối tượng được văn bản đề cập, nội dung cụ thể được tác giả triển khai,...

14. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Tóm tắt lần lượt nội dung các đoạn của văn bản và nêu khái quát những thông tin mà em cho là quan trọng nhất.

Xem đáp án

Sau đây là nội dung hai đoạn đầu (em hãy tóm tắt tiếp các đoạn còn lại):

– Uỷ ban Di sản Thế giới trong kì họp lần thứ 34 tại Bra-xin năm 2010 đã cống nhận Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là Di sản văn hoá thế giới, đáp ứng được nhiều tiêu chí quan trọng mà Uỷ ban này đã xác định.

– Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long có vùng lõi và vùng đệm. Vùng lõi gồm Khu Di tích Thành cổ Hà Nội và Khu Di tích Khảo cổ học 18 Hoàng Diệu, chiếm 18,395 ha. Vùng đệm chiếm 108 ha.

15. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Hãy sơ đồ hoá cách trình bày thông tin của văn bản và cho biết: Cách trình bày thông tin ở đây có phù hợp với những điều đã khái quát ở mục Cách trình bày thông tin trong văn bản thông tin thuộc phần Tri thức ngữ văn (SGK, tr. 90) của bài học hay không? Vì sao?

Xem đáp án

- Văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội được tạo lập theo đúng mô hình chung của loại văn bản giới thiệu về một di tích lịch sử. Khi nêu thông tin về quyết định của Uỷ ban Di sản Thế giới, người viết đồng thời đã đưa đến cái nhìn tổng quan về Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, qua việc nói rõ khu di tích này đã đáp ứng được tiêu chí xếp hạng nào. Đoạn giữa và là phần chính của văn bản cung cấp thông tin cụ thể hơn về các bộ phận cấu thành của khu di tích, có kết hợp nêu tình trạng thực tế và lịch sử hình thành của từng đối tượng vốn có quy mô lớn, nhỏ khác nhau.

- Khi trả lời ý hỏi “Vì sao?”, cần nhận thức được: Mọi khái quát về cách trình bày, triển khai văn bản thông tin đều phải dựa trên thực tế tồn tại của thế giới văn bản, vì vậy, sự phù hợp giữa những khái quát này với mỗi văn bản cụ thể là điều tất yếu, dễ thấy. Tuy nhiên, do tính đặc thù của từng đối tượng quy định, văn bản nào cũng phải có sáng tạo riêng trong cách trình bày, triển khai thông tin. Ở mức độ nhất định, những sáng tạo riêng ấy có thể vượt ra ngoài phạm vi khái quát của phần Tri thức ngữ văn về cấu trúc chung của các kiểu, loại văn bản.

16. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Theo em, văn bản nên được bổ sung yếu tố gì hoặc hình thức thông tin nào để nó trở nên hấp dẫn, thuyết phục hơn?

Xem đáp án

Có thể nêu yêu cầu bổ sung một số hình ảnh, sơ đồ chọn lọc hoặc bổ sung ý nói về kế hoạch bảo tồn, phục chế, quảng bá,...

17. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Văn bản gợi cho em suy nghĩ gì về địa danh Thăng Long – Hà Nội nói riêng, lịch sử đất nước nói chung?

Xem đáp án

- Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long là một địa danh có ý nghĩa cực kì to lớn đối với Việt Nam. Thể hiện những bước đi vững chắc của chúng ta trong công cuộc bảo tồn, phát huy giá trị đối với di tích đặc biệt quan trọng này.

18. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội trong SGK (tr. 110 – 112) và trả lời các câu hỏi:

Phát biểu ý kiến của em về việc đoạn cuối văn bản có nhắc lại một thông tin đã được nêu ở đoạn đầu văn bản. Theo em, xét từ phương diện cấu trúc văn bản, việc nhắc lại đó có ý nghĩa gì?

Xem đáp án

Trong các văn bản nghị luận hay thông tin, việc đoạn cuối nhắc lại một hoặc một vài ý đã nói ở đoạn đầu là hiện tượng rất phổ biến. Thông thường, việc này đã được các tác giả thực hiện một cách chủ động nhằm đảm bảo sự tập trung, nhất quán của mạch viết. Ở đây không chỉ có sự lặp lại mà còn có sự biến đổi, mở rộng ý. Kinh nghiệm này nên được vận dụng khi em tập viết văn bản nghị luận hay văn bản thông tin.

19. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Có thể xếp bài thơ Tình sông núi vào loại tác phẩm văn học viết về đề tài gì? Kể tên một số bài thơ của các tác giả khác mà em cho rằng có cùng đề tài với Tình sông núi.

Xem đáp án

- Đề tài: Quê hương, đất nước.

- Một số bài thơ cùng đề tài: Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm),…

20. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Khi say ngắm sông núi quê hương, tác giả có ấn tượng mạnh nhất về điều gì? Dựa vào đâu mà em nhận định như vậy?

Xem đáp án

Tác giả có sự nhạy cảm đặc biệt với với vẻ thơ mộng, thân thương, gần gũi của những gì được ông tái hiện, tạo hình. Đằng sau nét quyến rũ của thiên nhiên luôn thấp thoáng hình bóng con người. Cảnh và người hòa quyện với nhau, gợi dậy những cảm xúc êm ái, dịu ngọt, gắn bó.

- Dựa vào các hình ảnh miêu tả thiên nhiên và con người, sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người: nơi gầu nước gieo vàng, tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng, bắp căng như đồng, tay ghì cán cuốc,….

21. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Căn cứ vào nội dung bài thơ, hãy cho biết cách hiểu của tác giả về các khái niệm: cần lao, dân tộc, giang sơn, Tổ quốc.

Xem đáp án

– Cần lao vừa có thể được dùng như tính từ, chỉ sự cần cù trong lao động, vừa có thể được dùng như danh từ, chỉ người lao động nói chung. Trong bài thơ, cần lao hiện lên như một đối tượng được tác giả yêu quý, ngưỡng mộ, tôn vinh.

– Dân tộc được tác giả bài thơ hiểu như một khái niệm thiêng liêng, luôn gợi lên cảm xúc tự hào, thể hiện được sự gắn kết giữa tất cả những con người đã chung tay xây dựng nên đất nước Việt Nam.

– Giang sơn cũng được nhìn nhận là một khái niệm thiêng liêng. Khi nhắc đến nó, trong lòng nhà thơ dấy lên niềm xúc động lớn lao, do nhà thơ ý thức sâu sắc rằng giang sơn là thành quả vĩ đại mà nhân dân đã phải đổ bao nhiêu mồ hôi và máu để tạo nên trong suốt chiều dài lịch sử.

– Tổ quốc, trong cảm nhận của nhà thơ, cũng là một khái niệm đặc biệt. Vì thế, câu thơ chỉ có từ Tổ quốc ở cuối bài mang âm điệu như nghẹn ngào, do niềm xúc động đã được đẩy lên tột đỉnh.

Có thể thấy: Khi được tắm đẫm trong tình cảm yêu thương sâu nặng của nhà thơ, các từ cần lao, dân tộc, giang sơn, Tổ quốc không còn tồn tại như những khái niệm khô khan mà đã trở thành hình tượng sống động, tác động mạnh vào cảm xúc và nhận thức của người đọc.

22. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Tình sông núi là bài thơ đậm chất tạo hình. Nếu được thể hiện tác phẩm này bằng ngôn ngữ hội hoạ, em sẽ vẽ những gì? (Nêu dự định của em về bố cục, hình tượng trung tâm và các chi tiết đặc tả,...)

Xem đáp án

Có thể vẽ bức tranh mang tính tả thực, với một khung cảnh xác định. Cũng có thể vẽ bức tranh mang tính trừu tượng mà tương quan giữa các khối hình, đường nét, màu sắc biểu đạt được cảm xúc nồng nàn về thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam. Nếu em đủ khả năng biến dự định thành hiện thực thì đó là điều rất có ý nghĩa, thực sự đáng khuyến khích.

23. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Trong tuỳ bút Lòng yêu nước, nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua (Ilya Ehrenburg) đã viết: “Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga (Volga), con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc.” (dẫn theo Ngữ văn 6, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 2011, tr. 107). Cách nhìn nhận đó của nhà văn Nga giúp em hiểu thêm gì về mạch cảm xúc của bài thơ Tình sông núi? Hãy viết đoạn văn (có độ dài tuỳ chọn) để trả lời câu hỏi này.

Xem đáp án

Tham khảo:

          Tình cảm đối với đất nước, Tổ quốc không phải là thứ tình cảm chung chung, được phô diễn qua những lời to tát hướng tới những đối tượng cũng to tát nhưng trừu tượng. Nó cần phải được bắt mạch vào chính cuộc sống thực, biểu hiện qua tình cảm và thái độ gắn bó máu thịt với tất cả những gì quen thuộc quanh ta, từ con người đến cảnh sắc dù có thể rất bình dị, đơn sơ. Chính điều đó sẽ dẫn con người đến với những tình cảm rộng lớn và ý thức công dân cao cả. Trong thơ, việc các tác giả biểu hiện tình yêu đất nước, Tổ quốc qua tình yêu đối với một miền đất cụ thể luôn tạo được ấn tượng thẩm mĩ tích cực về sự chân thật, sâu sắc của cảm xúc.

24. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi (đoạn từ ... Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng) trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Bức tranh non nước trong đoạn thơ đã được vẽ bằng các đường nét, màu sắc và âm thanh như thế nào?

Xem đáp án

Cần hình dung được nét vẽ phóng khoáng vớ hình thể sông núi với các đối tượng cụ thể hiện ra vừa chập chùng, vừa bất ngát; nhận ra bản hoà sắc của màu xanh có điểm xuyết màu vàng sống động nghe được tiếng thở dập dồn, phấn khích của nhà thơ hoa với tiếng lách cách rộn ràng của thoi đưa, tiếng reo trong trẻo của những giọt nước rơi xuống khí chiếc gàu được kéo từ giếng lên.

25. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi (đoạn từ ... Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng) trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Hãy diễn tả bằng văn xuôi ý thơ được thể hiện trong hai câu: Gầu nước gieo vàng/ Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng.

Xem đáp án

– Câu thứ nhất không chỉ vẽ động tác (gieo – thả xuống, buông xuống, rơi xuống mà còn diễn tả được âm thanh (tiếng nước như tiếng vang rơi vang ngắn). Thậm chí, câu thơ còn gợi được sắc vàng nếu người đọc liên tưởng tới hai câu thơ của Bàng Bá Lân: Hỡi có tát nước bên đang, sao có lại múc trắng vàng để đi? (Tiếng hát trong trắng). Theo đó, có thể hình dung vàng ở đây là màu vàng của những vòng sóng đẫm ánh trăng toả lan trong lòng giếng khi chiếc gàu chạm vào mặt nước hay màu vàng của dòng nước lung linh rơi xuống từ chiếc gàu đầy. Rõ ràng, đây là một câu thơ đa nghĩa, trong đó hai từ gieo và vàng có thể được hiểu khác nhau tuỳ cảm nhận của mỗi người.

– Câu thứ hai vừa tái hiện được âm thanh sống động (dội) lại vừa tả được dáng nét nghiêng nghiêng của tấm vách. Thực ra, từ nghiêng không chỉ có giá trị tạo hình. Nó còn thể hiện được cảm giác ngất ngây của nhà thơ khí nghe trong không gian đầy ắp những tiếng động quen thuộc, biểu thị một cuộc sống thanh bình. Hai từ dội và nghiêng đều có thể được xem là “thi nhãn”.

26. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi (đoạn từ ... Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng) trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Câu “Tôi lim dim cặp mắt” có đơn thuần miêu tả dáng vẻ bề ngoài của nhà thơ hay không? Vì sao? Có thể nói điều gì về trạng thái cảm xúc của nhà thơ được thể hiện qua hình ảnh đó?

Xem đáp án

Câu “Tôi lim dim cặp mắt” không đơn thuần miêu tả dáng vẻ bề ngoài của nhà thơ mà còn thể hiện được tình cảm, trạng thái cảm xúc. Đó là cảm xúc mơ màng, đắm đuối, ngây ngất.

27. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi (đoạn từ ... Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng) trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Xác định các vị trí có gieo vần trong đoạn thơ và nêu nhận xét về cách sử dụng vần của tác giả.

Xem đáp án

- Những vị trí có gieo vần: mắt – đẹp, giàu – đèo, khoai – chài – người, ngang – vàng – ràng.

- Bài thơ Tình sông núi được viết theo thể tự do, không bắt buộc phải gieo vần. Tuy nhiên, tác giả vẫn dùng vần một cách phóng túng (không theo mô hình cố định, dùng cả vần chính và vần thông để tạo nhạc tính và tăng cường sự liên kết bên trong cho tác phẩm.

28. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Tình sông núi (đoạn từ ... Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng) trong SGK (tr. 102 – 103) và trả lời các câu hỏi:

Chỉ ra cặp câu lục bát biến thể có trong đoạn thơ và phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng hình thức lục bát biến thể ở đây.

Xem đáp án

Cặp lục bát biến thể:

Mấy sông là mấy vạn chài

Ngựa xe rào rạt đổ người sang ngang.

Gầu nước gieo vàng

Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng.

Tác dụng: Tăng tính nhịp điệu, thể hiện cảm xúc của tác giả.

29. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Hang Én giống như cái tổ khổng lồ và an toàn mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho con người, với không gian trú ẩn, nước, không khí, ánh sáng,... Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ” rộng rãi; cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngầm khá rộng, sâu quá thắt lưng. Muốn vào hang, phải lội qua sông; rồi trèo ngược vách đá hiểm trở, cao mấy chục mét. Đứng trên đỉnh dốc sẽ nhìn thấy lòng hang xa tít phía dưới, được bao bọc bằng một quãng sông rộng, nước sâu. Vịn đá lần xuống chân dốc, chúng tôi ngồi bè qua sông để đến lòng hang chính.

(Hà My, Hang Én, dẫn theo Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 115)

Văn bản có đoạn trích trên thuộc thể loại gì? Dấu hiệu cơ bản nào trong đoạn trích cho phép khẳng định điều đó?

Xem đáp án

- Thể loại: Kí.

- Dấu hiệu:

+ Chú trọng ghi chép sự thực.

+ Cung thấp thông tin, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết.

+ Tác giả trực tiếp tham gia, chứng kiến.

30. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Hang Én giống như cái tổ khổng lồ và an toàn mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho con người, với không gian trú ẩn, nước, không khí, ánh sáng,... Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ” rộng rãi; cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngầm khá rộng, sâu quá thắt lưng. Muốn vào hang, phải lội qua sông; rồi trèo ngược vách đá hiểm trở, cao mấy chục mét. Đứng trên đỉnh dốc sẽ nhìn thấy lòng hang xa tít phía dưới, được bao bọc bằng một quãng sông rộng, nước sâu. Vịn đá lần xuống chân dốc, chúng tôi ngồi bè qua sông để đến lòng hang chính.

(Hà My, Hang Én, dẫn theo Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 115)

Đoạn trích trên gợi cho em liên tưởng đến đoạn nào trong văn bản Yên Tử, núi thiêng? Vì sao em có liên tưởng như vậy? Xét theo đối tượng được đề cập và cách thể hiện đối tượng, giữa hai đoạn có những điểm chung và khác biệt gì?

Xem đáp án

- Liên tưởng đến đoạn trong bài “Yên Tử, núi thiêng”: Yên Tử ngày nay…. cánh mỏng phớt tím.

- Lí do:

+ Chú trọng ghi chép sự thực.

+ Cung thấp thông tin, thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết.

+ Tác giả trực tiếp tham gia, chứng kiến.

- Khác nhau về đối tượng được đề cập. Trong cách thể hiện đối tượng vừa có sự miêu tả, thể hiện sao cho sát đúng đối tượng, vừa có việc biểu hiện cảm xúc cá nhân của người viết.

31. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Hang Én giống như cái tổ khổng lồ và an toàn mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho con người, với không gian trú ẩn, nước, không khí, ánh sáng,... Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ” rộng rãi; cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngầm khá rộng, sâu quá thắt lưng. Muốn vào hang, phải lội qua sông; rồi trèo ngược vách đá hiểm trở, cao mấy chục mét. Đứng trên đỉnh dốc sẽ nhìn thấy lòng hang xa tít phía dưới, được bao bọc bằng một quãng sông rộng, nước sâu. Vịn đá lần xuống chân dốc, chúng tôi ngồi bè qua sông để đến lòng hang chính.

(Hà My, Hang Én, dẫn theo Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 115)

Dựa trên kết quả trả lời câu 2 và qua việc so sánh hai đoạn trích, theo em, người ta có thể chuyển văn bản thuyết minh có nội dung giới thiệu danh lam thắng cảnh thành một văn bản văn học được không? Nếu có thể thì điều kiện tiên quyết mà người viết phải đảm bảo là gì và văn bản văn học đó nên được xếp vào thể loại nào?

Xem đáp án

– Có thể thực hiện việc chuyển văn bản thuyết minh về một danh lam thắng cảnh thành văn bản văn học.

– Điều cơ bản cần làm khi thực hiện công việc trên là người viết phải bộc lộ góc nhìn độc đáo, sự đánh giá mang dấu ấn cá nhân trong văn bản. Văn bản có nhiều liên tưởng bất ngờ, thú vị và cách triển khai linh hoạt, không bị chinh có sẵn nào ràng buộc.

- Nếu chuyển đổi thể loại thành công thì văn bản mới này có thể được xếp vào một trong các tiểu loại sau của thể kí du kí, tản văn, tuỳ bút,... (tuỳ từng trường hợp cụ thể).

32. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Hang Én giống như cái tổ khổng lồ và an toàn mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho con người, với không gian trú ẩn, nước, không khí, ánh sáng,... Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ” rộng rãi; cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngầm khá rộng, sâu quá thắt lưng. Muốn vào hang, phải lội qua sông; rồi trèo ngược vách đá hiểm trở, cao mấy chục mét. Đứng trên đỉnh dốc sẽ nhìn thấy lòng hang xa tít phía dưới, được bao bọc bằng một quãng sông rộng, nước sâu. Vịn đá lần xuống chân dốc, chúng tôi ngồi bè qua sông để đến lòng hang chính.

(Hà My, Hang Én, dẫn theo Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 115)

Phát biểu suy nghĩ của em về vấn đề: yếu tố thông tin trong văn bản văn học và yếu tố văn học trong văn bản thông tin.

Xem đáp án

- Trong tác phẩm văn học có yếu tố thông tin. Đó là những điều được kể, tả, về sự việc, sự vật, con người có thể có thật ngoài đời hoặc tưởng tượng.

- Văn bản thông tin có yếu tố văn học. Yếu tố văn học được thể hiện trong cách kể, tả về đối tượng nhằm cung tấp thông tin được cụ thể, rõ ràng, chân thực,… Với văn bản thông tin, giữa 2 yếu tố thông tin và văn học thì yếu tố thông tin đóng vai trò chủ đạo.

33. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Ngay sát địa đầu Tổ quốc là đảo Vĩnh Thực, nơi có ngọn hải đăng đầu tiên trong số hơn 90 ngọn hải đăng của Việt Nam. Rộng 50km, đây là hòn đảo còn nhiều nét hoang sơ cùng bãi biển xanh trong. Tiếp nối Vĩnh Thực là chuỗi những hòn đảo tạo thành vành đai bên ngoài vùng vịnh Bái Tử Long và Hạ Long, làm nên một vùng biển yên bình với vô số đảo núi đá vôi nhỏ có những hang động kì thú. Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên gọi là “cành phong lan bể” – “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,/ Nơi bốn mùa đã hoá thành thu” – là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển. Gần 2000 hòn đảo ở đây đã hợp thành một vùng địa chất đặc biệt, đưa Vịnh Hạ Long trở thành kì quan thiên nhiên thế giới. Những hòn đảo lớn trong các quần đảo Cái Bầu, Vân Hải, Cô Tô, Cát Bà nổi tiếng với những bãi tắm và vùng hải sản hấp dẫn nằm xen với những đảo nhỏ như Tuần Châu, Quan Lạn hay xa hơn ngoài khơi như Long Châu, Bạch Long Vĩ,…

(Trương Quý, Những dãy đảo xa nằm nghe biển hát,

tạp chí Heritage, số 239, tháng 6/2022, tr. 13 – 14)

Chỉ ra các nhóm đối tượng được tác giả nói đến trong đoạn trích.

Xem đáp án

Nhóm đối tượng: Những dãy đảo, chuỗi đảo.

34. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Ngay sát địa đầu Tổ quốc là đảo Vĩnh Thực, nơi có ngọn hải đăng đầu tiên trong số hơn 90 ngọn hải đăng của Việt Nam. Rộng 50km, đây là hòn đảo còn nhiều nét hoang sơ cùng bãi biển xanh trong. Tiếp nối Vĩnh Thực là chuỗi những hòn đảo tạo thành vành đai bên ngoài vùng vịnh Bái Tử Long và Hạ Long, làm nên một vùng biển yên bình với vô số đảo núi đá vôi nhỏ có những hang động kì thú. Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên gọi là “cành phong lan bể” – “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,/ Nơi bốn mùa đã hoá thành thu” – là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển. Gần 2000 hòn đảo ở đây đã hợp thành một vùng địa chất đặc biệt, đưa Vịnh Hạ Long trở thành kì quan thiên nhiên thế giới. Những hòn đảo lớn trong các quần đảo Cái Bầu, Vân Hải, Cô Tô, Cát Bà nổi tiếng với những bãi tắm và vùng hải sản hấp dẫn nằm xen với những đảo nhỏ như Tuần Châu, Quan Lạn hay xa hơn ngoài khơi như Long Châu, Bạch Long Vĩ,…

(Trương Quý, Những dãy đảo xa nằm nghe biển hát,

tạp chí Heritage, số 239, tháng 6/2022, tr. 13 – 14)

Theo em, vì sao không thể xếp văn bản có đoạn được trích ở trên vào loại văn bản thuyết minh giới thiệu về một danh lam thắng cảnh?

Xem đáp án

Nguyên nhân:

+ Các nhóm đối tượng không phải tất cả đều là danh lam thắng cảnh.

+ Đoạn trích không tập trung nói về 1 danh lam, thắng cảnh cụ thể.

35. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Ngay sát địa đầu Tổ quốc là đảo Vĩnh Thực, nơi có ngọn hải đăng đầu tiên trong số hơn 90 ngọn hải đăng của Việt Nam. Rộng 50km, đây là hòn đảo còn nhiều nét hoang sơ cùng bãi biển xanh trong. Tiếp nối Vĩnh Thực là chuỗi những hòn đảo tạo thành vành đai bên ngoài vùng vịnh Bái Tử Long và Hạ Long, làm nên một vùng biển yên bình với vô số đảo núi đá vôi nhỏ có những hang động kì thú. Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên gọi là “cành phong lan bể” – “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,/ Nơi bốn mùa đã hoá thành thu” – là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển. Gần 2000 hòn đảo ở đây đã hợp thành một vùng địa chất đặc biệt, đưa Vịnh Hạ Long trở thành kì quan thiên nhiên thế giới. Những hòn đảo lớn trong các quần đảo Cái Bầu, Vân Hải, Cô Tô, Cát Bà nổi tiếng với những bãi tắm và vùng hải sản hấp dẫn nằm xen với những đảo nhỏ như Tuần Châu, Quan Lạn hay xa hơn ngoài khơi như Long Châu, Bạch Long Vĩ,…

(Trương Quý, Những dãy đảo xa nằm nghe biển hát,

tạp chí Heritage, số 239, tháng 6/2022, tr. 13 – 14)

Nếu muốn chuyển đoạn trích trên thành đoạn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, người viết cần phải xử lí các thông tin đã có như thế nào?

Xem đáp án

Nếu muốn chuyển đoạn trích đã nêu thành đoạn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, người viết phải lựa chọn chỉ nói về một nhóm đối tượng duy nhất và cần bổ sung thông tin về nhóm đối tượng đó cho đầy đủ hơn.

36. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Ngay sát địa đầu Tổ quốc là đảo Vĩnh Thực, nơi có ngọn hải đăng đầu tiên trong số hơn 90 ngọn hải đăng của Việt Nam. Rộng 50km, đây là hòn đảo còn nhiều nét hoang sơ cùng bãi biển xanh trong. Tiếp nối Vĩnh Thực là chuỗi những hòn đảo tạo thành vành đai bên ngoài vùng vịnh Bái Tử Long và Hạ Long, làm nên một vùng biển yên bình với vô số đảo núi đá vôi nhỏ có những hang động kì thú. Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên gọi là “cành phong lan bể” – “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,/ Nơi bốn mùa đã hoá thành thu” – là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển. Gần 2000 hòn đảo ở đây đã hợp thành một vùng địa chất đặc biệt, đưa Vịnh Hạ Long trở thành kì quan thiên nhiên thế giới. Những hòn đảo lớn trong các quần đảo Cái Bầu, Vân Hải, Cô Tô, Cát Bà nổi tiếng với những bãi tắm và vùng hải sản hấp dẫn nằm xen với những đảo nhỏ như Tuần Châu, Quan Lạn hay xa hơn ngoài khơi như Long Châu, Bạch Long Vĩ,…

(Trương Quý, Những dãy đảo xa nằm nghe biển hát,

tạp chí Heritage, số 239, tháng 6/2022, tr. 13 – 14)

Giả định câu sau đây là câu được mở rộng cấu trúc: “Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long, đúng như nhà thơ Chế Lan Viên gọi là “cành phong lan bể” – “Tôi muốn đến chỗ nước trời lẫn sắc,/ Nơi bốn mùa đã hoá thành thư” – là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển.”. Vậy theo em, có thể khôi phục lại câu “ban đầu” như thế nào?

Xem đáp án

Câu ban đầu: Những dãy đảo xa quây quần trong vùng vịnh biển như Hạ Long là những đảo núi đá vôi nhô lên từ mặt biển.”.

 

37. Tự luận
1 điểm

Viết bức thư ngắn gửi người bạn thân kể về một danh lam thắng cảnh em từng đến thăm và có ấn tượng sâu sắc.

Xem đáp án

Vũng Tàu, ngày ... tháng ...năm ...

Tuấn thân mến!

Mùa xuân đã thay áo mới, mùa hè đã bay xa, mùa thu rụng lá và mùa đông tạm biệt khoảng trời khoáng đãng.

Tôi và bạn đã xa nhau giữa những ngày vui buồn. Hôm nay, mùa hạ lại trở về, tôi và bạn lại gặp nhau trong lá thư này.

Xa nhau đã mấy mùa trăng tròn sáng, chắc hẳn bạn đi nhiều nơi lắm phải không?

Tôi thì đi nhiều nơi lắm, không kể xiết, nhưng Vũng Tàu là nơi tôi thích nhất và cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi.

Mùa hè đến với chúng ta, tình bạn càng thêm thiết tha. Nhưng Vũng Tàu sẽ giúp tôi và bạn thêm thắm thiết, thêm gắn bó. Chắc hẳn bạn cũng nghe nhiều người nói đến Vũng Tàu rồi chứ? Nhưng tôi sẽ giới thiệu quê tôi ... cho bạn nghe nhé!

Vũng Tàu! Vũng Tàu! Hai chữ in sâu vào lòng mọi người khi buổi sáng nắng đẹp, buổi chiều biển lặng, và buổi tối cảnh vật im lặng, sâu lắng.

Bãi biển, bến bờ của Vũng Tàu rất đáng yêu, trìu mến, dễ thương.

Buổi sáng, biển ầm ầm, gào thét giữa ban mai như hờn giận, như ghen ghét, như thách thức ... Tiếng sóng xô cát tung bọt trắng xoá, tiếng biển xanh đang hát phía chân trời, tiếng sóng rì rào, ì ầm vang mãi ... phía trời xa.

Người người tung tăng đùa với sóng, giỡn với biển cả làm cảnh vật thêm sông động. Mây trắng bay qua biển và soi bóng xuống mặt nước, ông mặt trời chiếu muôn nghìn tia nắng xuỗng mặt biển như có ai rắc vàng lên tấm thảm xanh màu da trời. Cơn gió lồng lộng đi qua biển để ngắm nhìn cảnh vật. Sóng dập dìu, dập dìu chạy mãi vào bờ, sóng gối lên mõm đá, sóng ru giấc ngủ cho bãi cát mịn như đang chải bộ tóc dài thước tha, sóng lại làm lay động hàng thuỳ dương xanh ngắt, mượt mà, uyển chuyển. Những cậu bé mặt tròn xoe, mắt thơ ngây, nô giỡn, nghịch ngợm với sóng. Dãy núi cao ngất như lưỡi cưa chém vào trời xanh, những chiếc thuyền như một chấm đen nhỏ di chuyển trên mặt biển.

Biển đẹp nhất vào buổi sáng.

Buổi chiều biển xám xịt, cảnh vật mờ ảo. Người người chỉ lác đác, bạn sẽ nghe tiếng sóng ùm ùm, ầm ầm, nghe tiếng của loài chim đi tìm mồi, nghe hàng thuỳ dương xào xạc, vi vu như đang trò chuyện, nghe tiếng côn trùng rả rích. Cảnh vật lại mờ đi chỉ thấy biển tung bọt trắng xoá, chỉthấy mây xanh lả lướt bay, chỉ thấy hàng thuỳ dương thẳng tắp, chỉ thấy bãi cát tắm mình trong biển cả, chỉ thấy dãy núi, chỉ thấy gió vi vu bên tai.

Buổi tôi ánh đèn le lói hiện trên biển, thấy trăng tròn cười tươi, biển nổi sóng, hàng thuỳ dương đang mất hút trong làng sương dày đặc, người vui vẻ trò chuyện. Màn đêm bao trùm lên mọi vật.

Biển là thơ mộng, đẹp như một câu chuyện cổ tích.

Quê tôi là như thế đó!

Giờ đây, ngồi bên bàn, viết đến đây, tôi biết nói lên điều gì nữa đây? Chỉ mong Tuấn mãi mãi là bạn của tôi và học giỏi để thầy cô, bạn bè, cha mẹ vui lòng. Và chỉ mong tôi được giang tay đón bạn đến nơi này.

Mong bạn hồi âm nhé!

Bạn của Tuấn.

38. Tự luận
1 điểm

Xây dựng dàn ý cho bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử mà em dự định viết để tham gia cuộc thi Tôi là hướng dẫn viên du lịch.

Xem đáp án

Mẫu 1: Dàn ý thuyết minh Vịnh Hạ Long.

1. Mở bài

Giới thiệu về Vịnh Hạ Long

2. Thân bài

- Vị trí địa lý: là vịnh nhỏ thuộc khu vực vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài 120 km bao gồm nhiều đảo lớn nhỏ

- Tổng diện tích: 434km2 với 775 hòn đảo, được bảo vệ bởi vùng đệm rộng lớn có diện tích 1.119km2.

- Tên gọi: thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử

- Truyền thuyết về Vịnh: Tương truyền khi đất nước bị xâm lăng nên Ngọc Hoàng đã sai mẹ con Rồng hạ phàm diệt giặc, giặc tan mẹ con Rồng ở lại trần thế và chỗ hai mẹ con gieo mình xuống đã hình thành nên vịnh.

- Đặc điểm các đảo, hang động

- Hệ thống sinh thái, sinh vật: hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, hệ sinh thái biển - đảo ven bờ

- Giá trị lịch sử: Xuất hiện dấu tích của các nền văn hóa cổ cách đây hàng nghìn năm như văn hóa Soi Nhụ, văn hóa Cái Bèo và văn hóa Hạ Long.

- Giá trị kinh tế: Là điểm điểm du lịch thu hút khách trong và ngoài nước

3. Kết bài

Khẳng định lại giá trị của Vịnh Hạ Long.

Mẫu 2: Dàn ý thuyết minh về Chùa Keo (Thái Bình)

1. Mở bài

- Giới thiệu danh thắng chùa Keo, Thái Bình, có thể sử dụng lời thơ để dẫn dắt:

" Dù cho cha đánh, mẹ treo

Cũng không bỏ hội chùa Keo hôm rằm."

- Đây là ngôi chùa cổ lâu đời nhất, độc đáo nhất và là biểu tượng, niềm tự hào của người dân Thái Bình.

2. Thân bài

a) Giới thiệu khái quát

- Vị trí địa lí: Cách thủ đô Hà Nội khoảng 110 km

- Chùa Keo tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

- Diện tích: 58000 km2

- Phương tiện di chuyển: Có thể đi bằng xe máy hoặc ô tô.

- Khung cảnh khái quát: Chùa nằm ven chân đê sông Hồng, giữa những cánh đồng lúa xanh rờn thẳng cánh cò bay, cây cối tươi tốt quanh năm bởi nước phù sa bồi đắp.

b) Nguồn gốc và lịch sử hình thành

- Đây là ngôi chùa cổ, đã tồn tại khoảng 400 năm, năm bắt đầu xây dựng là 1630, đến năm 1632 thì hoàn thành.

- Xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Lê.

- Lịch sử hình thành: Trước đây, chùa có tên gọi là Nghiêm Thần Quang, do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng tại Giao Thủy (Nam Định); nhưng sau đó trải qua nhiều đợt lụt, mua lũ lớn đã cuốn trôi ngôi chùa. Dân cư nơi này đã bỏ quê ra đi, nửa đến Đông Nam hữu ngạn của sông Hồng, định cư và xây dựng chùa Keo (Hành Thiện) nay thuộc Nam Định; phần dân còn lại vượt sông đến vùng Đông Bắc tả ngạn của sông Hồng, định cư và xây dựng chùa Keo thuộc Thái Bình ngày nay.

- Tên gọi: Chùa Keo (Thái Bình) có tên khác là Thần Quang Tự, Keo là tên gọi Nôm của Giao Thủy.

c) Kiến trúc chùa Keo

- Toàn bộ gỗ làm chùa đều là gỗ lim, rất chắc chắn bởi vậy dù trải qua nhiều biến đổi của thời gian nhưng đây là một trong số những ngôi chùa cổ còn giữ được nguyên vẹn đến tận ngày nay.

- Cấu tạo:

+ Tổng gồm 16 tòa, 126 gian trong đó có 12 tòa và 102 gian chính.

+ Kiến trúc chính gồm: Tam quan nội, ngoại, Chùa Phật, các tòa bao gồm chùa Ông Hộ, Ống Muống, Tam Bảo, Đền Thánh, Giá Roi, Thiêu Hương, Phụ Quốc, Thượng Điện và Gác Chuông. Ngoài ra còn có các khu tăng xá, nhà khách, khu nhà dành cho ban quản lí chùa.

+ Kiến trúc tiêu biểu: Gác Chuông có kiến trúc độc đáo tiêu biểu cho kiến trúc thời Lê, cao 11 mét, gồm 3 tầng (tầng 1 treo chiếc khánh đá dài 1 mét 2, tầng 2 là quả chuông đồng cao 1 mét 3 đúc vào thời vua Lê Hy Tông, tầng 3 và tầng trên cùng treo chiếc chuông nhỏ cao hơn nửa mét. Đặc biệt nhất là mái gác chuông có kết cấu gần 100 đàn đầu voi; toàn bộ khung đều làm bằng gỗ chắc gắn với nhau bằng mộng.

- Chùa bố trí, sắp xếp giàn tượng pháp thành các lớp và lưu giữ một số lượng lớn các bảo vật, cổ vật có giá trị hàng trăm năm: Đồ gốm, nhang án thời Lê, đôi chân đèn thời Mạc,...

- Khung cảnh chùa Keo, Thái Bình:

+ Mặt nước ở cả 3 mặt trước và hai bên tạo ra không gian thoáng đãng tạo cảm giác ngôi chùa vươn cao giống như đóa hoa sen giữa mặt hồ.

+ Các tòa tháp, các gian được bố trí đơn giản, tỉ lệ cân đối, không quá đồ sộ nhưng cũng không nghèo nàn.

+ Ngoại cảnh: Bao quanh bởi nhiều cây cổ thụ xanh tốt quanh năm tạo vẻ cổ kính, trong khuôn viên chùa trồng rất nhiều loài hoa quý, cây xanh...

- Lễ hội chùa Keo diễn ra hằng năm vào ngày 13, 14, 15 tháng 9 (Âm lịch) để tưởng nhớ đến Thiền sư Không Lộ, ngoài phần lễ rước kiệu, cúng Thánh trang nghiêm long trọng, chùa còn tổ chức phần hội với các trò chơi dân gian, diễn xướng....

d) Giá trị về lịch sử, văn hóa của chùa Keo với:

- Địa phương: Là biểu tượng, niềm tự hào của tỉnh Thái Bình.

- Đất nước: Là một trong số danh thắng có kiên trúc độc đáo bậc nhất trong cả nước.

+ Top 10 di tích cổ nhất ở Việt Nam.

+ Năm 1962, chùa Keo được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia.

+ Năm 2012, chùa được Nhà nước xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt.

3. Kết bài

- Khẳng định giá trị, ý nghĩa của chùa Keo.

- Nêu cảm nghĩ của bản thân về danh thắng đặc biệt này.

39. Tự luận
1 điểm

Em được giao nhiệm vụ viết bài thuyết minh với đề tài xác định là Về thăm quê Bác. Dựa vào trải nghiệm thực tế hoặc những tài liệu có liên quan mà em tham khảo được, hãy phác thảo các ý chính của bài viết, chú ý làm nổi bật từng chặng của hành trình và nhấn mạnh một số địa điểm quan trọng cần đến.

Xem đáp án

Làng Sen quê Bác là mảnh đất đã in dấu bao lịch sử, nơi sản sinh ra vị anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đây là điểm du lịch nổi tiếng của Nghệ An, hằng năm đón lượng lớn du khách trong và ngoài nước về ghé thăm.

* Vị trí:

- Nằm cách thành phố Vinh chỉ 16 km, du khách có thể thuận tiện ghé thăm mảnh đất làng Sen, hiện đang thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn.

- Đây cũng chính là quê gốc của Bác Hồ, người anh hùng Nguyễn Sinh Cung thời trước khi ra đi tìm đường cứu nước. Đây cũng chính là niềm tự hào bao đời nay của người dân Nghệ An từ bao đời nay.

* Thời gian:

- Du khách có thể ghé thăm làng Sen quê Bác vào tất cả các mùa trong năm. Tuy nhiên tháng 5 được coi là phù hợp nhất bởi thời tiết mát mẻ, đặc biệt sẽ được chiêm ngưỡng trọn vẹn khung cảnh sen nở đầy hồ.

- Du khách không cần trả phí khi vào thăm quan làng Sen, tuy nhiên cần nắm được thời gian mở cửa đón khách để tiện ghé thăm. Cụ thể là:

Mùa hè: Từ 7h - 11h30 và 13h30 - 17h.

Mùa đông: Từ 7h30 - 12h và 13h30 - 17h.

* Cách di chuyển đến làng Sen quê Bác như thế nào?

- Làng Sen quê Bác là địa điểm nằm tại Nghệ An, miền Trung Việt Nam. Do đó, du khách có nhiều cách di chuyển đến đây. Đối với những người dân sinh sống tại miền Bắc bạn có thể di chuyển bằng xe khách tại các bến xe như Giáp Bát, Yên Nghĩa, Bến xe nước ngầm,…Thời gian khoảng 5-6 tiếng nếu xuất phát từ Hà Nội. Hoặc bạn cũng có thể đặt vé máy bay từ Hà Nội – Vinh với giá chỉ từ gần 2 triệu đồng (khứ hồi đã bao gồm thuế, phí)

* Nên ở đâu khi đi du lịch làng Sen quê Bác?

Hệ thống khách sạn gần Làng Sen quê Bác cực kỳ phát triển và được đầu tư mạnh trong những năm gần đây. Du khách sẽ dễ dàng tìm được nơi nghỉ ngơi lý tưởng, bài viết xin đề cử một vài khách sạn tại Nghệ An ổn áp như:

+ Khách sạn Vinh Plaza. Địa chỉ: Số 3, P. Mai Hắc Đế, TP Vinh, Nghệ An

Mức giá: Từ 500.000 VNĐ/phòng/đêm

+ Khách sạn Mường Thanh Cửa Đông. Địa chỉ: 167 Nguyễn Phong Sắc, TP. Vinh, Nghệ An

Mức giá: Từ 670.000 VNĐ/phòng/đêm

+ Melia Vinpearl Cua Hoi Beach Resort. Địa chỉ: Đường Bình Minh, P. Nghi Hải, Cửa Lò, Nghệ An

Mức giá: Từ 2.800.000 VNĐ/phòng/đêm

* Những địa điểm cần ghé thăm khi đến làng Sen quê Bác

Đến với làng Sen, mảnh đất đã sản sinh ra biết bao vị anh hùng dân tộc, trong đó nổi bật nhất là Bác Hồ kính yêu, du khách có thể ghé thăm nhiều địa điểm. Để chuyến đi được trọn vẹn nhất, bạn hãy lưu lại những điểm sau. Đó là:

+ Đi dạo quanh ao sen

+ Làng Sen quê Bác

+ Thăm nhà Bác Hồ

+ Thăm mộ cụ Hoàng Thị Loan

+ Cụm di tích cây đa, đền làng Sen

* Bỏ túi kinh nghiệm du lịch làng Sen quê Bác chi tiết

Làng Sen là niềm tự hào của người dân Nghệ An. Hàng năm có vô số du khách để về ghé thăm di tích này. Bạn hãy ghi nhớ một số kinh nghiệm cần có để có một chuyến đi thú vị và suôn sẻ như sau:

+ Trang phục khi tham quan: Khi thăm làng Sen quê Bác, có thể mặc áo trắng hoặc áo dài truyền thống để tôn trọng và duy trì không khí trang nghiêm. Tuyệt đối không mặc đồ hở hang, nên chọn các trang phục kín đáo và thoáng mát.

+ Đồ dùng cần thiết: Mang theo giày thoải mái và áo mỏng, vì bạn sẽ đi bộ nhiều và thời tiết ở đây thường nóng ẩm. Ngoài ra nên dùng thêm mũ nón che chắn, kem chống nắng đầy đủ, mang theo máy ảnh để lưu giữ những khoảnh khắc đáng nhớ!

+ Trong khi ở nhà Bác: Tuân thủ các quy định và hướng dẫn của nhân viên, không chụp ảnh trong nhà, đi nhẹ nói khẽ, có thể đọc sẵn một số tài liệu nơi này hiểu rõ hơn. Du khách không tự ý di chuyển các đồ vật được sắp xếp trong nhà.

* Nên ăn gì khi đi ghé thăm làng Sen quê Bác?

Tại làng Sen quê Bác có rất nhiều đặc sản thơm ngon. Du khách sau khi thưởng thức sẽ nhớ mãi không quên bàn tay khéo léo của dân xứ Nghệ. Một số gợi ý cho bạn thưởng thức khi có dịp ghé thăm như sau:

+ Ăn vặt đường phố: Du khách có thể thưởng thức các món ăn địa phương như bánh bèo, bánh bột lọc, chè, hoặc các loại hủ tiếu, bún, bánh đa Đô Lương và nhiều món khác.

+ Cháo lươn Vinh

+ Mực nháy nướng

+ Bánh mướt Nghệ An.

40. Tự luận
1 điểm

Tìm xem một số vi-đi-ô cờ-líp giới thiệu về danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử. Trên cơ sở những vi-đi-ô cờ-líp đã xem, hãy trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về một vài “bí quyết” giúp người nói có được phong cách giới thiệu hấp dẫn.

Xem đáp án

- Video giới thiệu Làng Sen quê Bác:

https://www.youtube.com/watch?v=VxYc2QY1jU4

- Kinh nghiệm: Nắm chắc được các thông tin, giới thiệu lưu loát, tông giọng vừa phải,…

41. Tự luận
1 điểm

Thảo luận với các bạn trong nhóm học tập về chủ đề: Khi giới thiệu một danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử (dưới hình thức nói), việc huy động kiến thức văn học, nghệ thuật có cần thiết không và nếu có thì nên được thực hiện như thế nào.

Xem đáp án

Khi thảo luận, cần chú ý mấy điểm cơ bản có thể giúp em và các bạn hiểu rõ vấn đề:

– Giao tiếp trực tiếp bằng nói – nghe khác giao tiếp gián tiếp qua văn bản viết.

– Giới thiệu danh lam thắng cảnh hay di tích lịch sử dưới hình thức nói thường tạo được nhiều “đất diễn” cho người giới thiệu.

– Các tác phẩm văn học, nghệ thuật chứa đựng không ít thông tin về đời sống cần được khai thác, hơn nữa, những thông tin đó thường thấm đẫm cảm xúc thẩm mĩ nên có thể được người nghe tiếp nhận một cách thích thú.

– Việc huy động kiến thức về văn học, nghệ thuật luôn gắn liền với kĩ năng thể hiện chúng (đọc, ngâm, hát, kể,...).

– Tính mức độ trong việc huy động kiến thức về văn học, nghệ thuật là điều cần ý thức đầy đủ để tính khách quan, xác thực của thông tin thuộc nội dung nói luôn được đảm bảo.

42. Tự luận
1 điểm

Tìm đọc một số văn bản nghị luận xã hội viết về những vấn đề của đất nước hoặc nhân loại. Ghi vào nhật kí đọc sách luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản; vai trò của luận điểm, lí lẽ, bằng chứng trong việc thể hiện luận đề.

Xem đáp án

Nhật kí đọc sách

Ngày: 15/02/2025

Nhan đề văn bản : Sự giàu đẹp của tiếng Việt

Tên tác giả: Đặng Thai Mai

Luận đề: Khẳng định sự giàu đẹp và vững chắc của tiếng Việt.

Các luận điểm chính và cách sắp xếp:

* Luận điểm:

- Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.

- Tiếng Việt có sức sống mạnh mẽ.

Lí lẽ và bằng chứng cho luận điểm 1:

- Tiếng Việt hài hòa về mặt âm hưởng, thanh điệu; tinh tế trong cách đặt câu.

- Tiếng Việt đủ khả năng để diễn đạt tình cảm, tâm tưởng của người Việt để thỏa mãn yêu cầu của đời sống văn hóa.

+ Tiếng Việt giàu chất nhạc (Người ngoại quốc khẳng định).

+ Tiếng Việt giàu thanh điệu, hình tượng ngữ âm.

Lí lẽ và bằng chứng cho luận điểm 2:

- Tiếng Việt thỏa mãn nhu cầu của xã hội, từ vựng đa dạng theo các thời kì.

- Tiếng Việt phối hợp và đón nhận, Việt hóa tiếng nói của dân tộc khác.

Đánh giá của em về vấn đề được bàn trong văn bản (đúng/ sai, thuyết phục/ không thuyết phục:

Vấn đề đưa ra đúng, sử dụng lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục.

Mối liên hệ giữa ý tưởng, thông điệp của văn bản với bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội: Văn bản ra đời năm 1967, giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ thống nhất dân tộc đang bước vào thời kì ác liệt nhất ở miền Nam, đồng thời dựng xây xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Tác phẩm khẳng định sự giàu có, phong phú, sức sống mãnh liệt của tiếng Việt – thứ tiếng nói dân tộc đầy tự hào. Biết ơn, trân trọng và mong muốn bảo vệ tiếng Việt cũng chính là bảo vệ văn hóa, truyền thống dân tộc, để đất nước vững vàng tiến lên trong giai đoạn khó khăn, gian khổ.

Một số dấu hiệu giúp phân biệt cách trình bày vấn đề khách quan và cách trình bày chủ quan trong văn bản:

- Vấn đề khách quan được trình bày bằng những dẫn chứng cụ thể (nhân vật, số liệu).

- Vấn đề chủ quan được trình bày dựa trên hiểu biết, quan niệm, cách nhìn nhận vấn đề của tác giả.

Suy nghĩ sau khi đọc tác phẩm: Tự hào về tiếng nói dân tộc, biết ơn thế hệ cha ông đã đánh đổi máu xương để bảo vệ vững chắc văn hóa dân tộc.

43. Tự luận
1 điểm

Tìm đọc một số văn bản thông tin giới thiệu danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử. Ghi vào nhật kí đọc sách thông tin cơ bản của văn bản, ý nghĩa của nhan đề và vai trò của các chi tiết quan trọng trong văn bản; quan hệ giữa đặc điểm văn bản với mục đích của nó; cách triển khai nội dung trong văn bản (theo trật tự thời gian, quan hệ nhân quả, các đối tượng được phân loại, so sánh và đối chiếu,...) và tác dụng của cách triển khai đó; quan hệ giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ dùng để biểu đạt thông tin trong văn bản.

Xem đáp án

Nhật kí đọc sách

Ngày: 27/2/2025

Nhan đề văn bản: Vườn quốc gia Cúc Phương

Tác giả: Đào Thị Luyến, Hoàng Trà My, Hoàng Lan Anh

Thông tin cơ bản của văn bản:

+ Cúc Phương được thành lập ngày 7/7/1962, đã trở thành vườn quốc gia đầu tiên và cũng là đơn vị bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam. 

+ Cúc Phương có lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng về hệ sinh thái, các giá trị văn hoá - lịch sử

+ Cúc Phương đã trở thành điểm du lịch sinh thái nổi tiếng và hấp dẫn với những ai say mê khám phá và du lịch. 

Cách trình bày thông tin trong văn bản (trật tự thời gian, quan hệ nhân quả, các đối tượng được phân loại, so sánh, đối chiếu: Trình bày theo cách phân loại từng đối tượng đi từ việc quần thể động, thực vật phong phú và đa dạng sau đó tác giả chia nhỏ từng mục về thực vật, về động vật.

Tác dụng của cách trình bày đó: Khái quát về các đối tượng cần phân loại và giới thiệu chi tiết từng đối tượng cụ thể. Cách trình bày ấy có vai trò làm bố cục trình bày một cách mạch lạc rõ ràng, đầy đủ thông tin.

Ý nghĩa của nhan đề: làm nổi bật và khái quát được nội dung của toàn văn bản vì các thông tin trong bài đều làm cung cấp thông tin của khu di tích danh lam thắng cảnh này.

Vai trò của các chi tiết quan trọng trong văn bản: Tác giả nhấn mạnh loại voọc mông trắng chính là báu vật của tạo hoá, không một nơi nào có, chỉ duy nhất tại rừng Cúc Phương làm cho khu rừng thêm đặc biệt, thu hút khách đến tham quan. Làm nổi bật hệ động vật quý hiếm, phong phú, đặc biệt của khu rừng

Mối quan hệ giữa đặc điểm của văn bản với mục đích giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử: Văn bản đã đáp ứng được những yêu cầu về mục đích giới thiệu một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử tới người đọc.

Suy nghĩ sau khi đọc văn bản: Văn bản cung cấp những thông tin hữu ích, ngắn gọn cho người đọc về Vươn Quốc gia Cúc Phương.