Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 5. Đối diện với nỗi đau có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 5. Đối diện với nỗi đau có đáp án

A
Admin
VănLớp 955 lượt thi
35 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Tình cảm mãnh liệt của Rô-mê-ô dành cho Giu-li-ét được diễn tả như thế nào?

Xem đáp án

- Tình cảm mãnh liệt của Rô-mê-ô dành cho Giu-li-ét được thể hiện qua cách chẳng nhìn ngắm người yêu (thấy nàng Giu-li-ét đẹp như ánh sáng vầng mặt trời, mặt nàng như biết nói, như hai ngôi sao, toả chiếu làn ánh sáng tưng bừng, đôi gò má rực rỡ khiến các vì tinh tú phải hồ ngươi; nàng tỏa ánh hào quang như thế một sứ giả nhà trời,...), qua việc chàng sẵn sàng từ bỏ tên họ, tuyên bố không ai có thể ngăn được mình đến với tình yêu, ánh mắt của người yêu tạo cho chứng sức mạnh vượt qua mọi trở ngại, chàng sẵn sàng đến với người yêu dù nâng có ở phương trời nào....

2. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Đoạn độc thoại “Ấy nhè nhẹ chứ... mơn trớn má đào.” có các hình thức chất vấn – trả lời. Điều đó thể hiện tâm trạng gì ở Rô-mê-ô?

Xem đáp án

- Đây là đoạn độc thoại khá dài, bộc lộ tình yêu của Rô-mê-ô đối với Giu-li-ét. Đoạn này dùng khá nhiều câu cảm thán thể hiện cảm xúc trào dâng ở chàng trai trẻ đang yêu, Đồng thời, ta cũng thấy khi độc thoại, nhân vật tự đặt nhiều câu hỏi rồi lại tìm cách trả lời, giống như một cuộc đối thoại giả tưởng, tìm cách này hay cách khác để diễn tả cho đúng cảm nhận của mình về người yêu. Điều đó thể hiện sự say mê, ngây ngất, ngưỡng mộ người yêu của một người đang yêu say đắm.

3. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Nhiều câu thoại của Rô-mê-ô so sánh đôi mắt Giu-li-ét với những vì sao. Hãy chỉ ra những sắc thái nghĩa khác nhau ở từng câu thoại đó.

Xem đáp án

- Câu “Nguyên là hai ngôi sao... sao về”: dùng cách nói nhân hoá và ẩn dụ để ngợi ca vẻ lấp lánh của đôi mắt Giu-li-ét.

- Câu “Ừ, nếu mắt nàng... thì sao nhỉ?”: vừa so sánh đôi mắt Giu-li-ét với các vì tính tú, vừa để khẳng định đôi mắt của Giu-li-ét còn đẹp hơn sao.

- Câu “Vẻ rực rỡ của đôi gò má... đêm đã tàn”: khẳng định những vì sao không thay thế được đôi mắt Giu-li-ét, và đôi mắt Giu-li-ét có sức toả sáng hơn các vì sao, sánh ngang với mặt trời.

=> Ba câu vẫn nối tiếp nhau, biện pháp tu từ so sánh được lặp lại và tăng dần về mức độ.

4. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Tại sao Giu-li-ét băn khoăn về tên họ của Rô-mê-ô? Rô-mê-ô và Giu-li-ét có phán đoán được tình thế nếu họ đến với nhau không?

Xem đáp án

- Giu-li-ét đã biết chàng trai nàng gặp ở dạ hội là người của dòng họ Môn-ta-ghiu - dòng họ có mối thù với dòng họ của nàng. Chính vì vậy, nàng đã băn khoăn về tên họ của Rô- mê-ô. Sự băn khoăn này cho thấy nàng ý thức rất rõ rằng nếu đi theo tiếng gọi của trái tim thì sẽ gặp những trở ngại lớn.

- Cả Rô-mê-ô và Giu-li-ét đều phán đoán được tình thế nếu họ yêu nhau. Điều này thể hiện qua các chi tiết: Giu-li-ét mong muốn Rô-mê-ô từ bỏ tên họ (Hãy mang tên họ nào khác đi), dự đoán hậu quả nếu việc gặp gỡ của họ bị lộ (Nếu bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây thì chàng khó lòng thoát chết, họ mà bắt gặp chàng thì họ giết chàng mất); khẳng định tình yêu trong hoàn cảnh bất lợi (Tôi vượt được tường này là nhờ đôi cánh của tình yêu... Người nhà nàng ngăn sao nổi tôi; Thà để cho lòng căm thù của họ chấm dứt đời tôi còn hơn kéo dài kiếp sống mà thiếu tình nàng).

5. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Những lời thoại nào thể hiện quyết tâm vượt qua trở ngại để đến với tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét? Theo em, điều kì diệu của tình yêu giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét thể hiện trong đoạn trích là gì?

Xem đáp án

- Những lời thoại thể hiện quyết tâm vượt qua trở ngại để đến với tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét: “... chàng hãy thề là chàng yêu em đi, em sẽ không còn là con cháu nhà Ca-piu-lét nữa”, “... mấy bức tường đá ngăn sao được ái tình. Mà cái gì tình yêu dám làm là làm được”, “Tôi chẳng phải là tay thuỷ thủ nhưng giá nàng có ở nơi bờ biển xa xăm nhất, thì tôi cũng sẵn sàng liều mình vì báu vật,”...

- Sự kì diệu trong tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh. Câu trả lời tuỳ thuộc vào cảm nhận của riêng em. Có thể có nhiều phương án trả lời (ví dụ: tình yêu bất chấp trở ngại; tình yêu mãnh liệt, thần tượng hóa người yêu; yêu chính con người thực chứ không phải dòng dõi, tên tuổi,..).

6. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:

Ấy nhè nhẹ chứ nào! Ánh sáng nào vừa lóe trên cửa sổ kia?

– Ôi người mà ta sùng kính, người mà ta yêu đương! Ôi, giá nàng biết nhỉ!... Nàng đang nói... Không, nàng im lặng...

Trong các câu trên, câu nào là câu rút gọn, câu nào là câu đặc biệt? Nêu tác dụng của việc sử dụng các câu đó trong ngữ cảnh.

Xem đáp án

- Câu rút gọn: “Ấy nhè nhẹ chứ nào!”: câu tỉnh lược chủ ngữ; dường như Rô-mê-ô muốn nói với tất cả không gian xung quanh rằng mọi thứ hãy nhẹ nhàng để nâng niu một luồng ánh sáng.

- Câu đặc biệt: “Ối người mà ta sùng kính, người mà ta yêu đương!”: câu dùng để gọi – đáp; Rô-mê-ô thầm gọi người chàng yêu, thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, say đắm của tình yêu.

7. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Tính hoa mĩ trong lời thoại của nhân vật được thể hiện như thế nào ở đoạn trích này?

Xem đáp án

- Ở đoạn trích, một lần nữa ta lại thấy tính hoa mĩ của lời thoại trong vở kịch này. Tính hoa mĩ được thể hiện ở lối nói giàu hình ảnh, sử dụng các biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, cách nói giàu ý nghĩa hàm ẩn. Ví dụ: “ánh hồng ghen với chúng ta đã viền sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông”. Câu này dùng biện pháp tu từ nhân hoá (ánh hồng ghen với chúng ta), cách nói hàm ý (đám mây rời nhau ám chỉ việc hai người sắp chia tay).

8. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Tại sao Giu-li-ét cứ một mực khẳng định trời chưa sáng? Giải thích sự thay đổi đột ngột của nàng qua lời thoại “Trời sáng rồi... mỗi lúc một sáng”.

Xem đáp án

- Giu-li-ét một mực khẳng định trời chưa sáng là do nàng không muốn chấp nhận một sự thực là đã đến thời điểm Rô-mê-ô rời xa nàng. Nàng muốn tự dối lòng mình. Điều này thể hiện tâm trạng quyến luyến, muốn níu giữ người yêu. Lời thoại của Giu-li-ét có nhiều mâu thuẫn. Trước đó nàng một mực khẳng định trời chưa sáng. - Sau đó, khi Rô-mê-ô nhắc đến tử thần, nàng lại thay đổi đột ngột, kêu lên hốt hoảng: “Trời sáng rồi, trời sáng rồi!”. Nàng tự phủ định lời nói trước đó của mình. Điều này cho thấy tâm trạng bấn loạn của Giu-li-ét vừa muốn níu giữ vừa lo lắng cho sự an nguy của Rô-mê-ô. Nỗi sợ hãi đã khiến nàng không còn tự dối mình, chấp nhận sự thật, trở về với thực tại, đối mặt với sự biệt li.

9. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Chỉ ra tính chất đối nghịch trong lời thoại kịch thể hiện qua đoạn trích.

Xem đáp án

- Lời thoại kịch thường có tính chất đối nghịch, tạo kịch tính. Trong đoạn trích, sự đối nghịch thể hiện ở việc Giu-li-ét khẳng định trời chưa sáng, Rô-mê-ô thị nói ngược lại. Khi Rô-mê-ô chấp nhận lời của Giu-li-ét rằng trời chưa sáng thì Giu-li-ét lại thay đổi, xác nhận trời đã sáng và giục Rô-mê-ô ra đi. Lúc này Rô-mê-ô lại không muốn chấp nhận sự thật (thể hiện qua câu hỏi “Mỗi lúc một sáng ư?”). Đó là kiểu đối nghịch phủ định – khẳng định/ khẳng định nghi ngờ.

10. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Phân tích tâm trạng của Rô-mê-ô trong giờ phút chia tay Giu-li-ét.

Xem đáp án

- Tâm trạng Rô-mê-ô khi phải chia tay Giu-li-ét: hạnh phúc khi ở bên Giu-li-ét (ánh hồng ghen với chúng ta), đau đớn (Anh phải ra đi để sống, hoặc ở lại mà chết), không muốn rời xa người yêu (Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước), muốn ở lại cùng Giu-li-ét dù có phải chết (Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy),...

11. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Câu thoại nào cho thấy những dự cảm không lành của Rô-mê-ô về tương lai? Điều này hé lộ những sự việc nào tiếp theo sẽ xảy đến với đôi uyên ương?

Xem đáp án

- Trong câu thoại “Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.” cho thấy dự cảm không lành của Rô-mê-ô về tương lai. Sau cuộc chia tay, cũng là vĩnh biệt này, hai người không gặp lại (nói đúng hơn là họ “gặp lại nhau nơi hầm mộ và chết).

12. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:

HỒI BA

CẢNH V

RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN

Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.

Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.

Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.

Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.

Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.

Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.

 (Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,

2017, tr. 115 - 116)

Tìm câu rút gọn trong đoạn trích và cho biết thành phần nào của câu bị tỉnh lược.

Xem đáp án

- Trong câu rút gọn: “Mỗi lúc một sáng ư?”, thành phần bị tỉnh lược là chủ ngữ trời đã được nói đến ở câu trước đó. Câu này chỉ lặp lại tính chất của sự vật, để đối lập với tình cảnh “tăm tối” được nhắc đến ở câu sau.

13. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Câu thoại “En-vi-a! Ta ở đâu đây? Ta thấy gì? Thật, giả?/ Rô-đri-gơ tại nhà này! Rô-đri-gơ trước mắt ta sao!” thể hiện tâm trạng gì của Si-men?

Xem đáp án

- Câu thoại thể hiện sự ngạc nhiên, sửng sốt, không tin vào sự thật trước mắt của Si-men. Trước đó, nàng đã đi kiện để xin nhà vua xử Rô-đri-gơ tội chết, nhưng nàng không ngờ chính Rô-đri-gơ trực tiếp đến xin nàng xử tội.

14. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Tại sao Rô-đri-gơ muốn Si-men kết liễu đời chàng?

Xem đáp án

- Câu thoại thể hiện sự ngạc nhiên, sửng sốt, không tin vào sự thật trước mắt của Si-men. Trước đó, nàng đã đi kiện để xin nhà vua xử Rô-đri-gơ tội chết, nhưng nàng không ngờ chính Rô-đri-gơ trực tiếp đến xin nàng xử tội.

15. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Vì sao Si-men không trách cứ Rô-đri-gơ? Nêu những câu thoại thể hiện tình yêu của Si-men với Rô-đri-gơ.

Xem đáp án

- Si-men không trách cứ Rô-đri-gơ vì nàng hiểu hành động của chàng là để bảo vệ danh dự, để xứng với tình yêu của nàng. Những câu thoại thể hiện tình yêu của Si-men với Rô-đri-gơ: “Nếu phụ thân em chết vì điều bất hạnh khác/ Em đã thấy nơi chàng niềm an ủi lòng duy nhất/ Và giữa đau thương đôi cảm giác êm đềm/ Được ngón tay chàng lau nước mắt cho em…”

16. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Phân tích sự đối nghịch trong lời thoại của hai nhân vật Si-men và Rô-đri-gơ.

Xem đáp án

- Sự đối nghịch trong lời thoại của hai nhân vật thể hiện rõ ở phần đầu đoạn trích. Khi Rô-đri-gơ xuất hiện và cầu xin Si-men kết liễu đời chàng thì Si-men yêu cầu chàng đi khỏi và bày tỏ nàng không muốn sống (cầu xin – từ chối). Rô-đri-gơ mang gươm ra cho Si-men nhìn thấy để khích lệ ý chí trả thù của nàng thì Si-men yêu cầu chàng cất gươm và biểu lộ sự đau đớn (thôi thúc hành động – lảng tránh).

17. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Ở đoạn thoại: “Xin theo ý... đòi chàng thế mạng”, hai nhân vật Rô-đri-gơ và Si-men cùng thể hiện quan điểm về mối quan hệ giữa danh dự và tình yêu như thế nào?

Xem đáp án

- Sau những đối nghịch trong lời thoại, đến đoạn thoại này, hai nhân vật cùng chung quan điểm về mối quan hệ giữa danh dự và tình yêu. Rô-đri-gơ khẳng định “mất danh dự thì yêu em không thể được”, Si-men cũng đồng tình: “Giết cha em, chàng chứng tỏ cùng em xứng đáng/ Để xứng chàng, em cũng phải đòi chàng thế mạng”. Họ cùng đánh giá hành động của mình là cao thượng khi thực hiện đúng nghĩa vụ và bổn phận.

18. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Trong các câu thoại từ đầu đoạn trích đến “máu cha em còn đậm!”, những câu nào là câu đặc biệt? Phân tích tác dụng của việc sử dụng câu đặc biệt trong từng trường hợp.

Xem đáp án

Câu đặc biệt

Tác dụng

En-vi-a!

Gọi – đáp

Ôi đau đớn!

Ôi!

Bày tỏ cảm xúc

Mũi kiếm!

19. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:

Chua xót bấy! Mất cha, lại phải mất chàng cùng một lúc!”

Lời thoại trên có dùng cả câu đặc biệt và câu rút gọn. Hãy chỉ ra tác dụng của hai kiểu câu này trong ngữ cảnh.

Xem đáp án

- Câu “Chua xót bấy!” là câu đặc biệt, thể hiện cảm xúc đau đớn của nhân vật. Câu “Mất cha, lại phải mất chàng cùng một lúc!” là câu rút gọn, tỉnh lược chủ ngữ, làm cho câu thoại trở thành lời than về tình cảnh của nhân vật.

20. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:

HỒI THỨ BA

(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)

LỚP II

Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo

(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)

Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?

(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)

Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!

Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.

Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.

Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,

Giữa hôm nay không ngờ có một người

Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,

Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,

Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.

Quách tham mưu:Sao Khánh công lại có thể ôn hoà

Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?

(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)

Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,

Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.

Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay

Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.

Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ

Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;

Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng

Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...

Đời ta hết giữa một ngày gió sóng

Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;

Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này

Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.

(Quay mặt sang phía Yêu Ly)

Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,

Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,

Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.

(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)

Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,

Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang

(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)

Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang

Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ

Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.

(Quân hầu làm theo lời)

Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo

Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,

Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,

Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.

(Mỉa mai)

Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...

(Nhìn lại thi hài)

Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!

(Quỳ ôm mặt bên thi hài)

Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)

– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,

Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ

Người đang tâm đem giết cả thê nhi

Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,

Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá

Điều bất trí muôn đời không thể xoá

Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,

Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng

Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.

Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?

Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?

Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài

Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...

Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió

Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,

Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,

Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!

Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,

Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.

Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?

Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!

(Nhật gươm đâm cổ chết)

Hạ màn

(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)

Yêu Ly hành thích Khánh Kỵ xuất phát từ động cơ gì?

Xem đáp án

- Yêu Ly hành thích Khánh Kỵ xuất phát từ động cơ muốn giúp Ngô vương diệt trừ Khánh Kỵ (người đang nuôi ý định đoạt lại ngai vàng), đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư (Ngũ Viên), thoả mãn khát vọng lập công danh.

21. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:

HỒI THỨ BA

(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)

LỚP II

Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo

(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)

Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?

(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)

Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!

Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.

Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.

Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,

Giữa hôm nay không ngờ có một người

Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,

Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,

Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.

Quách tham mưu:Sao Khánh công lại có thể ôn hoà

Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?

(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)

Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,

Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.

Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay

Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.

Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ

Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;

Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng

Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...

Đời ta hết giữa một ngày gió sóng

Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;

Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này

Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.

(Quay mặt sang phía Yêu Ly)

Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,

Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,

Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.

(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)

Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,

Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang

(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)

Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang

Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ

Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.

(Quân hầu làm theo lời)

Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo

Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,

Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,

Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.

(Mỉa mai)

Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...

(Nhìn lại thi hài)

Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!

(Quỳ ôm mặt bên thi hài)

Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)

– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,

Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ

Người đang tâm đem giết cả thê nhi

Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,

Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá

Điều bất trí muôn đời không thể xoá

Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,

Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng

Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.

Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?

Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?

Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài

Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...

Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió

Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,

Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,

Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!

Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,

Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.

Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?

Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!

(Nhật gươm đâm cổ chết)

Hạ màn

(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)

Hành động của Khánh Kỵ sau khi bị Yêu Ly hành thích cho biết điều gì về con người Khánh Kỵ? Qua lời Khánh Kỵ, nhân vật Yêu Ly được đánh giá như thế nào?

Xem đáp án

- Mặc dù biết kẻ đâm mình là Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ không thù oán, trách cứ hay trừng phạt mà còn ra lệnh cho quân sĩ đưa Yêu Ly trở về Ngô quốc để tỏ lòng trung với Ngô vương. Khánh Kỵ rất trân trọng và cảm phục tài năng của Yêu Ly. Ông cũng cảm phục ý chí, mưu lược và lòng trung nghĩa của Yêu Ly, Điều này cho thấy Khánh Kỵ là một con người biết trọng người tài, ứng xử cao thượng.

- Qua lời Khánh Kỵ, nhân vật Yêu Ly hiện lên như một người anh hùng, một dũng sĩ hiếm có.

22. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:

HỒI THỨ BA

(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)

LỚP II

Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo

(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)

Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?

(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)

Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!

Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.

Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.

Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,

Giữa hôm nay không ngờ có một người

Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,

Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,

Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.

Quách tham mưu:Sao Khánh công lại có thể ôn hoà

Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?

(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)

Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,

Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.

Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay

Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.

Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ

Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;

Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng

Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...

Đời ta hết giữa một ngày gió sóng

Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;

Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này

Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.

(Quay mặt sang phía Yêu Ly)

Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,

Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,

Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.

(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)

Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,

Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang

(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)

Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang

Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ

Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.

(Quân hầu làm theo lời)

Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo

Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,

Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,

Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.

(Mỉa mai)

Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...

(Nhìn lại thi hài)

Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!

(Quỳ ôm mặt bên thi hài)

Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)

– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,

Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ

Người đang tâm đem giết cả thê nhi

Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,

Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá

Điều bất trí muôn đời không thể xoá

Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,

Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng

Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.

Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?

Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?

Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài

Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...

Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió

Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,

Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,

Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!

Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,

Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.

Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?

Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!

(Nhật gươm đâm cổ chết)

Hạ màn

(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)

Lời độc thoại của Yêu Ly trong phần cuối vở kịch cho thấy sự giằng xé nội tâm ở nhân vật diễn ra như thế nào? Theo em, tại sao sau khi mưu sự đã thành, nhân vật lại cảm thấy “lạc loài”?

Xem đáp án

- Lời độc thoại của Yêu Ly trong phần cuối vở kịch cho thấy sự giằng xé nội tâm ở nhân vật. Yêu Ly nhận thấy, để thực hiện nghĩa lớn, mình đã phạm vào điều bất nhân, bất trí, bất tín: giết vợ con, tự huỷ hoại thân mình và giết người đã cưu mang, trọng đãi, tin tưởng mình. Khi việc lớn đã thành, nhân vật tự vấn lương tâm, nhận ra những tội lỗi, ngộ ra sự vô nghĩa của cuộc đời khi đã hi sinh những giá trị có ý nghĩa nhân văn.

- Để thực hiện được mưu đồ, Yêu Ly đã hi sinh rất nhiều thứ mà cuộc đời một con người luôn coi trọng: vợ con, bằng hữu, cơ thể lành lặn. Nhân vật trở thành người phi thường vì đã làm những điều người bình thường không chọn làm, cũng chính vì thế, ông ta cảm thấy “lạc loài” tự thấy trong kiếp sống “chẳng còn chi đáng kể” khi trở thành kẻ bất trí, bất nhân, bất tín, không xứng đáng sống trong cõi đời.

23. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:

HỒI THỨ BA

(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)

LỚP II

Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo

(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)

Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?

(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)

Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!

Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.

Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.

Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,

Giữa hôm nay không ngờ có một người

Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,

Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,

Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.

Quách tham mưu:Sao Khánh công lại có thể ôn hoà

Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?

(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)

Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,

Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.

Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay

Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.

Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ

Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;

Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng

Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...

Đời ta hết giữa một ngày gió sóng

Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;

Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này

Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.

(Quay mặt sang phía Yêu Ly)

Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,

Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,

Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.

(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)

Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,

Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang

(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)

Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang

Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ

Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.

(Quân hầu làm theo lời)

Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo

Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,

Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,

Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.

(Mỉa mai)

Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...

(Nhìn lại thi hài)

Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!

(Quỳ ôm mặt bên thi hài)

Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)

– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,

Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ

Người đang tâm đem giết cả thê nhi

Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,

Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá

Điều bất trí muôn đời không thể xoá

Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,

Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng

Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.

Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?

Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?

Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài

Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...

Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió

Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,

Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,

Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!

Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,

Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.

Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?

Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!

(Nhật gươm đâm cổ chết)

Hạ màn

(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)

Chỉ ra những xung đột của vở kịch được thể hiện qua đoạn trích.

Xem đáp án

- Qua đoạn trích, ta nhận ra xung đột của toàn bộ vở kịch. Đó là xung đột giữa khát vọng lập công với tình cảm gia đình, tình tri kỉ,... Nói một cách khái quát, vở kịch đề cập đến xung đột giữa lí tưởng và đạo đức của con người.

24. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:

HỒI THỨ BA

(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)

LỚP II

Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo

(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)

Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?

(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)

Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!

Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.

Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.

Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,

Giữa hôm nay không ngờ có một người

Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,

Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,

Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.

Quách tham mưu:Sao Khánh công lại có thể ôn hoà

Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?

(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)

Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,

Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.

Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay

Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.

Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ

Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;

Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng

Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...

Đời ta hết giữa một ngày gió sóng

Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;

Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này

Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.

(Quay mặt sang phía Yêu Ly)

Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,

Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,

Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.

(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)

Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,

Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang

(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)

Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang

Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ

Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.

(Quân hầu làm theo lời)

Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo

Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,

Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,

Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.

(Mỉa mai)

Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...

(Nhìn lại thi hài)

Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!

(Quỳ ôm mặt bên thi hài)

Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)

– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,

Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ

Người đang tâm đem giết cả thê nhi

Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,

Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá

Điều bất trí muôn đời không thể xoá

Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,

Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng

Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.

Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?

Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?

Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài

Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...

Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió

Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,

Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,

Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!

Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,

Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.

Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?

Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!

(Nhật gươm đâm cổ chết)

Hạ màn

(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)

Cái chết của Yêu Ly có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện tính nhân văn của bi kịch?

Xem đáp án

- Cái chết của Yêu Ly khẳng định ý nghĩa của những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, tri kỉ,... Yêu Ly chọn cái chết bởi nhận thấy sự vô nghĩa khi hi sinh những điều quý giá đối với con người. Hiệu ứng thanh lọc của bi kịch trong vở Yêu Ly là sự thức tỉnh ở người đọc những tình cảm tốt đẹp, cao thượng.

25. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:

Phéc-đi-năng đã hành động như thế nào khi thấy Luy-dơ bị sỉ nhục và bị bắt?

A. Đỡ Luy-dơ, ngăn cản những kẻ định bắt nàng

B. Bênh vực, đứng về phía Luy-dơ

C. Phản đối cha, ám chỉ sẽ tố cáo cha

D. Tất cả các phương án trên

Xem đáp án

Đáp án D. Tất cả các phương án trên.

26. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:

Phẩm chất nào của nhân vật Phéc-đi-năng được thể hiện qua đoạn trích?

A. Dũng cảm, ghét sự dối trá

B. Yêu mãnh liệt, quyết liệt bảo vệ tình yêu

C. Thẳng thắn, thuỷ chung

D. Yêu mãnh liệt, ghét sự dối trá

Xem đáp án

Đáp án B. Yêu mãnh liệt, quyết liệt bảo vệ tình yêu

27. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:

Đoạn trích cho thấy xung đột chính của vở kịch là gì?

A. Quý tộc và bình dân

B. Âm mưu và tình yêu

C. Độc ác và lương thiện

D. Dũng cảm và hèn nhát

Xem đáp án

Đáp án B. Âm mưu và tình yêu

28. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:

Sự đối đầu giữa Phéc-đi-năng với cha sẽ dẫn đến điều gì?

A. Các âm mưu chia rẽ tình yêu được thúc đẩy.

B. Tình cha con bị tổn hại.

C. Gia đình Luy-dơ được bảo vệ.

D. Phéc-đi-năng phải lấy bà Min-pho.

Xem đáp án

Đáp án A. Các âm mưu chia rẽ tình yêu được thúc đẩy.

29. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:

Thông điệp nào KHÔNG phù hợp với nội dung của vở kịch?

A. Trong cuộc sống, con người cần phải có những âm mưu và thủ đoạn để đạt được mục đích.

B. Những con người bé nhỏ luôn phải chịu sự đàn áp của cường quyền.

C. Tình yêu cần có sức mạnh để chiến thắng những âm mưu đen tối.

D. Cái chết của Phéc-đi-năng và Luy-dơ là lời tranh đấu cho một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Xem đáp án

Đáp án A. Trong cuộc sống, con người cần phải có những âm mưu và thủ đoạn để đạt được mục đích.

30. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho bài văn nghị luận phân tích một số phương diện nổi bật của vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Chọn một ý của phần Thân bài và viết thành đoạn văn hoàn chỉnh.

Xem đáp án

* Dàn ý cho bài văn nghị luận phân tích một số phương diện nổi bật của vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét.

1. Mở bài

- Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của Uy-li-am Sếch-xpia.

- Rô-mê-ô và Giu-li-ét là vở bi kịch kinh điển về tình yêu, là kiệt tác văn học ra đời dựa trên mối thù hận có thực của hai dòng họ Môn-ta-giu và Ca-piu-lét tại I-ta-li-a thời trung cổ.

- Tình yêu và thù hận trích trong lớp hai, hồi II của vở kịch là những lời tâm sự tận đáy lòng của đôi trai tài gái sắc, hai trái tim cùng hướng về thứ tình yêu đích thực, sẵn sàng từ bỏ, vượt qua những rào cản thù hận dòng họ để đến bên nhau.

2. Thân bài

a. Tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét:

- Là tình yêu trên nền thù hận, với Giu-li-ét sự thù hận của hai dòng họ được nhắc đến như một nỗi sợ, nỗi ám ảnh thường trực.

- Với Rô-mê-ô chàng luôn mang tâm thế sẵn sàng, vượt lên trên thù hận với thái độ quyết đoán, sẵn sàng từ bỏ cả tên họ, từ bỏ cả dòng tộc vì tình yêu với Giu-li-ét, nhưng chàng lại băn khoăn và e dè vì chưa xác định được tình yêu của Giu-li-ét.

b. Những lời muốn ngỏ của hai nhân vật thông qua màn độc thoại nội tâm

* Rô-mê-ô với 6 lời thoại:

- Bối cảnh: Đêm khuya thanh vắng, tĩnh mịch có ánh trăng, có những vì tinh tú, phù hợp để giãi bày tâm sự.

- Rô-mê-ô có những lời tán dương đầy si mê cho Giu-li-ét ví nàng như "mặt trời"với nhiều ẩn ý:

+ Vẻ đẹp của người con gái trẻ trung, rực rỡ, vẻ đẹp ấy giống như ánh dương ấm áp sáng chói tâm hồn hồn chàng.

+ Vẻ đẹp của nàng tỏa ra thứ ánh sáng cạnh tranh với thiên nhiên, thậm chí lấn át của ánh trăng khiến cho nó trở nên nhợt nhạt xanh xao.

+ Xuất phát từ thần thoại La Mã về mặt trăng, mà bản thân Rô-mê-ô lại ao ước một tình yêu thực tế, tươi đẹp gần sát với trần thế => Giu-li-ét phải xứng đáng với hình tượng mặt trời ấm áp.

+ Giu-li-ét lại xuất lúc chàng rơi vào tuyệt vọng, chính tình yêu của nàng đã hồi sinh tâm hồn chàng.

→ Chính Giu-li-ét đã mang đến sức mạnh, củng cố nguồn sống, là sự hiện diện tuyệt đối cần thiết trong cuộc đời chàng.

- Ví mắt nàng như vì tinh tú.

→ Chủ nghĩa nhân văn thời Phục Hưng, vẻ đẹp của con người đã được tôn vinh để sánh ngang với vẻ đẹp của vũ trụ, thổi bùng lên ngọn lửa yêu đương mãnh liệt ở Rô-mê-ô.

* Giu-li-ét với 3 lời thoại:

- "Ôi chao", cảm xúc chất chứa dồn nén ở trong ấy, đó là tình cảm gói ghém dành cho mối tình đầu tiên của mình, nhưng cũng là tiếng thở dài lo lắng, là nỗi băn khoăn của nàng về tình yêu của Rô-mê-ô.

- Đề ra giải pháp là một trong hai người họ phải từ bỏ dòng họ, có thể thấy rằng tình yêu của Giu-li-ét dành cho Rô-mê-ô là vô cùng lớn lao, là lời mách bảo chân thành của trái tim.

- Dùng lý lẽ để bảo vệ, biện minh cho việc từ bỏ dòng họ vì tình yêu "Chỉ có tên họ...đổi lấy cả em đây!".

→ Dường như Giu-li-ét đã không còn là cô bé 14 tuổi nữa mà đã vụt trưởng thành, chín chắn.

c. Cuộc chạm mặt trực tiếp để bày tỏ tình cảm:

* Giu-li-ét:

- Luôn ám ảnh nỗi sợ hãi thường trực, nàng luôn gợi nhắc về mối thù của hai đại gia tộc mà hiện thân của nỗi lo lắng ấy chính là bức tường đá.

- Bức tường đá bảo vệ dòng họ khỏi sự đột nhập của những kẻ có ý đồ bất chính, là sự ngăn trở tình yêu, là rào cản, là mối thù sâu đậm của hai dòng họ, nó còn là biểu tượng cho nỗi lo lắng của Giu-li-ét về tình yêu của Rô-mê-ô.

* Rô-mê-ô:

- Suy nghĩ của Rô-mê-ô lại thoáng và nhẹ nhàng hơn rất nhiều, lập tức khẳng định chàng sẵn sàng từ bỏ tên họ để xóa bỏ mối thù.

- Xóa tan mọi băn khoăn lo lắng của Giu-li-ét về tình yêu của chàng bằng cách khẳng định chắc chắn về tình yêu mãnh liệt dành cho nàng.

- Hình bóng bức tường trở thành đòn bẩy, là công thức chính minh cho tình yêu của Rô-mê-ô.

3. Kết bài

- Khẳng định lại giá trị nội dung tư tưởng của đoạn trích.

* Chọn một ý của phần Thân bài và viết thành đoạn văn hoàn chỉnh.

Tham khảo:

Vở kịch này nói về tình yêu thắm thiết, khăng khít của đôi bạn trẻ Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Nhưng trớ trêu thay họ lại sinh ra từ hai dòng họ có mối hiềm khích với nhau từ rất lâu. Thế nên tình yêu của họ bị cả dòng họ hết sức cấm cảm, chia lìa. Để bảo vệ tình yêu đôi bạn trẻ đã đi đến hành động quyết liệt tự tử, không thể bên nhau lúc còn sống thì trọn đời bên nhau ngay cả lúc chết. Chính cái chết của họ đã giúp cả hai dòng họ hoá giải mọi oán hờn. Qua đó tác phẩm đã tố cáo tội ác của chế độ phong kiến chà đạp lên hạnh phúc của con người, những định kiến cổ hủ giống như chiếc cùm gông khóa chặt ước mơ, khát vọng của con người. Đồng thời cũng ca ngợi tình yêu, ước mơ, dám thể hiện, dám đấu tranh của con người trước các thế lực phong kiến. Khẳng định giá trị của tình yêu đích thực sẽ giúp con người xóa bỏ mọi hận thù và xích lại gần nhau hơn.

31. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho bài văn phân tích một vở kịch đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Viết đoạn Mở bài và Kết bài của bài văn đó.

Xem đáp án

* Lập dàn ý cho bài văn phân tích vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

I. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần phân tích.

II. Thân bài:

* Sơ lược cốt truyện:

- Trương Ba là một người đàn ông hiền lành, chăm chỉ, khéo léo, ưa thích những công việc chăm sóc vườn tược, uống trà, đặc biệt là có tài chơi cờ rất hay.

- Biến cố đã xảy ra khi Nam Tào, Bắc Đẩu vì lơ là chức trách mà gạch nhầm tên Trương Ba trong sổ tử, khiến ông phải chịu chết oan.

- Đế Thích vì thương xót Trương Ba chết oan, lại tiếc một người bạn chơi cờ hợp ý, thế nên ông đã bàn với Nam Tào, Bắc Đẩu cho Trương Ba sống lại, nhập hồn vào xác anh hàng thịt mới chết.

- Bi kịch thực sự bắt đầu khi mà một tâm hồn thanh cao, quen nếp sống tao nhã lại phải chung đụng cùng với cái xác đồ tể, vốn quen những việc tàn sát, dung tục.

=> Điều đó đã mang đến cho cả hai gia đình, hai người vợ, những đứa con, đứa cháu bao nhiêu rắc rối và đau khổ, cuối cùng dẫn tới bước đường tan nát.

- Vì quá uất ức và bức bối khi phải chung đụng với cái xác thịt đui mù mà mình căm ghét, nên Trương Ba đã có một cuộc tranh cãi nảy lửa với cái xác.

=> Trương Ba lại càng nhận ra mình đuối lý, nhận ra bản thân mình đang dần bị chi phối bởi những thú vui, những ham muốn của cái xác. Tất cả đều được xác hàng thịt vạch trần bằng giọng điệu mỉa mai, khích bác, lý lẽ sắc bén khiến Trương Ba vô cùng đau khổ và tuyệt vọng.

- Bị chính những người thân trong gia đình chối bỏ, những lời bộc bạch của con dâu đã khiến Trương Ba hoàn toàn thức tỉnh.

=> Cuối vở kịch ông kiên quyết lựa chọn rời khỏi xác hàng thịt và biến mất hoàn toàn, dù Đế Thích cố níu kéo khi ngỏ lời muốn ông nhập vào xác của cu Tị, thế nhưng Trương Ba đã từ chối, ông cầu xin cho thằng bé được sống lại còn bản thân mình thì sẽ vĩnh viễn biến mất.

* Ý nghĩa của cái kết:

- Sự ra đi vĩnh viễn của Trương Ba cũng chính là một cách để ông "sống", sống trong lòng những người ở lại.

- Giải quyết tất cả những mâu thuẫn đang xảy ra trong gia đình ông, giải thoát mọi người khỏi đau khổ.

- Sự ra đi của ông đã để lại trong lòng những người thân những ấn tượng tốt đẹp về một người chồng, người cha, người ông hiền lành, sống trong sạch, thanh cao, giỏi chơi cờ, tỉ mẩn, khéo léo.

=> Trương Ba không chỉ để lại những ký ức tốt đẹp, mà bản thân ông còn là một tấm gương đạo đức sáng ngời cho con cháu, gieo vào lòng những mầm non như cái Gái những tư tưởng tốt đẹp, trở thành người kế thừa những giá trị đạo đức ấy mãi về sau này.

- Cái kết này còn khẳng định một chân lý rằng con người ta không thể sống mà hồn một đằng, xác một nẻo được, sống hoàn toàn, sống thật sự chỉ khi giữa xác và hồn có sự thống nhất biện chứng với nhau.

- Chi tiết Trương Ba nhường lại cơ hội sống cho cu Tị cũng lại thể hiện một vẻ đẹp đạo đức khác ở con người ông ấy là vẻ đẹp của tấm lòng cao thượng, bao dung.

- Chi tiết Đế Thích ngỏ lời cho Trương Ba nhập vào xác cu Tị cũng lại mà một chi tiết kịch mang đầy tính nhân văn thể hiện cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa phần hồn - phần nhân cách thanh cao, đẹp đẽ và phần xác - tầm thường, dung tục, cuối cùng phần nhân cách đã chiến thắng, giữ lại được những giá trị đạo đức tốt đẹp, thể hiện khát khao hoàn thiện phẩm giá, nhân cách của con người bao thế hệ.

III. Kết bài:

- Nêu cảm nhận về đoạn kết

* Viết đoạn Mở bài và Kết bài:

- Mở bài:

Trong làng kịch nói Việt Nam, có lẽ ai cũng biết đến Lưu Quang Vũ - một hiện tượng đặc biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX. Tuy có tài ở nhiều lĩnh vực như viết truyện ngắn, soạn kịch, làm thơ, vẽ tranh... nhưng ông được xem là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt nam hiện đại. Trong các vở kịch của Lưu Quang Vũ, đáng chú ý nhất là vở "Hồn Trương Ba, da hàng thịt". Bằng nghệ thuật xây dựng nội tâm độc đáo, cảnh VII, đoạn cuối vở kịch đem đến cho người đọc nhiều vấn đề tư tưởng sâu sắc qua nhân vật Trương Ba trong thân xác anh hàng thịt.

- Kết bài:

Thông qua đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” Lưu Quang Vũ muốn gửi tới người đọc thông điệp: Được sống làm người quý giá thật, nhưng được sống đúng là mình , sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn giá trị hơn. Sự sống chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người được sống tự nhiên với sự hài hòa giữa thể xác và tâm hồn. Con người phải luôn luôn biết đấu tranh với những nghịch cảnh, với chính mình, chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những giá trị tinh thần cao quý.

32. Tự luận
1 điểm

Với vai trò là người chủ trì, em hãy hình dung trình tự buổi thảo luận và thiết kế kịch bản cho buổi thảo luận đó.

Xem đáp án

Với vai trò người chủ trì, em hãy xây dựng kịch bản cho buổi thảo luận theo gợi ý sau:

– Tuyên bố lí do tổ chức và chủ đề của buổi thảo luận (kết nối vấn đề của buổi thảo luận với nội dung vở kịch; nêu ý nghĩa của buổi thảo luận đối với lứa tuổi học sinh).

– Giới thiệu thành phần tham dự buổi thảo luận.

– Giới thiệu thư kí buổi thảo luận.

– Lần lượt giới thiệu các ý kiến thảo luận. Lưu ý: Người chủ trì không chỉ giới thiệu các thành viên nêu ý kiến mà còn dẫn dắt, kết nối các ý kiến, nêu vấn đề nảy sinh trong buổi thảo luận để tạo không khí tranh luận...

– Tổng hợp các ý kiến thảo luận; chỉ ra những ý kiến thống nhất, những ý kiến khác biệt.

– Thông qua biên bản buổi thảo luận do thư kí ghi chép.

– Tuyên bố kết thúc buổi thảo luận.

33. Tự luận
1 điểm

Với tư cách là người tham dự buổi thảo luận, em hãy chuẩn bị nội dung cho phần phát biểu của mình.

Xem đáp án

Chuẩn bị nội dung thảo luận theo gợi ý sau:

– Quan niệm về tình yêu qua các thời kì (thời phong kiến, thời kháng chiến, hiện nay,...) có gì đáng chú ý? (Cho ví dụ cụ thể)

– Quan niệm về tình yêu qua các thời kì đó có những điểm nào giống nhau và khác nhau?

– Em đánh giá như thế nào về những điểm giống nhau và khác nhau đó?

Em có thể sưu tầm những câu chuyện, bài thơ, bản nhạc, bức tranh, bộ phim,.. về tình yêu đôi lứa để hỗ trợ các ý tưởng định trình bày. Hãy lưu ý, đây là buổi thảo luận, do vậy, em hãy trình bày ý kiến hoặc trải nghiệm riêng, đưa ra những nhận xét, đánh giá của mình về vấn đề. Nếu ý kiến của em trùng với ý kiến của bạn khác thì có thể bày tỏ sự đồng tình với ý kiến của bạn. Nếu ý kiến của em khác biệt hoặc đối lập với ý kiến khác thì hãy tranh luận một cách đúng mực, có lí lẽ và bằng chứng cụ thể.

34. Tự luận
1 điểm

Tìm đọc một số văn bản nghị luận văn học. Ghi vào nhật kí đọc sách luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản em đã đọc; những cách để hiểu khác của em so với cách hiểu của tác giả văn bản nghị luận đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.

Xem đáp án

Chú ý tìm đọc những văn bản nghị luận viết về các tác phẩm văn học Việt Nam, nhất là những tác phẩm văn học mà em đã được học ở cấp Trung học cơ sở. Khi đọc một văn bản nghị luận văn học, trước hết em cần nắm: Luận đề của văn bản là gì? Ý kiến của người viết về vấn đề đó như thế nào? Thông thường, em có thể tìm thấy câu trả lời cho hai câu hỏi này ngay từ phần mở đầu của văn bản. Tiếp theo, em cần tự đặt câu hỏi để nhận biết được các yếu tố quan trọng khác của văn bản nghị luận: Để chứng minh cho luận đề, người viết triển khai những luận điểm nào? Các luận điểm ấy được sắp xếp theo trình tự nào? Người viết dùng những lí lẽ và bằng chứng nào để củng cố cho hệ thống luận điểm ấy? Em có ý kiến gì về vấn đề được bàn trong văn bản? Ý kiến của em về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học có gì khác so với ý kiến của tác giả văn bản nghị luận?

Các luận điểm thường được trình bày tách bạch trong những đoạn văn riêng biệt. Các bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học thường là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,... được dẫn từ tác phẩm văn học. Ngoài ra, bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học cũng có thể là ý kiến, nhận định của các nhà nghiên cứu, phê bình về tác phẩm văn học mà tác giả bài nghị luận dẫn lại. Em chú ý cách sử dụng trích dẫn trực tiếp và trích dẫn gián tiếp trong văn bản để học hỏi cách viết của những tác giả có kinh nghiệm.

Về câu hỏi Ý kiến của em về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học có gì khác so với ý kiến của tác giả văn bản nghị luận?, em có thể trả lời “có” hoặc “không”. Nếu muốn có câu trả lời thoả đáng thì em cũng cần đọc kĩ tác phẩm văn học mà bài nghị luận bàn đến. Nếu đó là tác phẩm văn học mà em chưa được học thì việc đọc nó không phải là yêu cầu bắt buộc phải thực hiện ở phần Đọc mở rộng này.

Nhớ ghi lại đầy đủ nội dung vào nhật kí đọc sách do em tự thiết kế.

35. Tự luận
1 điểm

Tìm đọc một số vở bi kịch. Ghi vào nhật kí đọc sách chủ đề và một số yếu tố ng đặc trưng của bi kịch thể hiện trong văn bản đã đọc như: xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại; những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của em sau khi đọc văn bản bi kịch.

Xem đáp án

Các sáng tác thuộc thể loại bi kịch không có nhiều. Em có thể tìm đọc các đoạn trích khác từ các vở bi kịch mà em đã được học trong SGK như Rô-mê-ô và Giu-li-ét (Sếch-xpia), Lơ Xít (Coóc-nây), Âm mưu và tình yêu (Si-lơ). Ngoài ra, vở bi kịch Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Yêu Ly (Lưu Quang Thuận),... cũng có thể là những lựa chọn đáp ứng yêu cầu của hoạt động đọc mở rộng. Khi đọc một văn bản bi kịch, ngoài chủ đề, em cần chú ý một số yếu tố đặc trưng của bi kịch như xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại. Em có thể đặt ra và tự trả lời những câu hỏi về nội dung cơ bản và nét nghệ thuật nổi bật của văn bản bi kịch, chẳng hạn: Chủ đề của vở kịch là gì? Xung đột cơ bản nào được phản ánh qua bi kịch này? Nhân vật chính là ai? Đặc điểm nổi bật trong tính cách của nhân vật chính là gì? Tính cách đó thể hiện như thế nào qua ngoại hình, hành động, ngôn ngữ của nhân vật? Em có nhận xét gì về lời thoại trong bi kịch này? Em có thay đổi gì trong tình cảm, cảm xúc, lối sống, cách thưởng thức sau khi đọc văn bản?

Bằng cách đặt ra và trả lời những câu hỏi trên, em sẽ có kinh nghiệm đọc hiểu các văn bản bi kịch. So với thể loại hài kịch đã học ở lớp 8 thì xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại trong bi kịch có những đặc điểm riêng biệt. Khi đọc tác phẩm, em cần vận dụng tri thức ngữ văn về bi kịch để nhận ra đặc điểm riêng biệt đó.

Nhớ điền đầy đủ nội dung vào nhật kí đọc sách do em tự thiết kế.