Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 5. Đối diện với nỗi đau có đáp án
35 câu hỏi
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
Tình cảm mãnh liệt của Rô-mê-ô dành cho Giu-li-ét được diễn tả như thế nào?
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
Đoạn độc thoại “Ấy nhè nhẹ chứ... mơn trớn má đào.” có các hình thức chất vấn – trả lời. Điều đó thể hiện tâm trạng gì ở Rô-mê-ô?
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
Nhiều câu thoại của Rô-mê-ô so sánh đôi mắt Giu-li-ét với những vì sao. Hãy chỉ ra những sắc thái nghĩa khác nhau ở từng câu thoại đó.
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
Tại sao Giu-li-ét băn khoăn về tên họ của Rô-mê-ô? Rô-mê-ô và Giu-li-ét có phán đoán được tình thế nếu họ đến với nhau không?
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
Những lời thoại nào thể hiện quyết tâm vượt qua trở ngại để đến với tình yêu của Rô-mê-ô và Giu-li-ét? Theo em, điều kì diệu của tình yêu giữa Rô-mê-ô và Giu-li-ét thể hiện trong đoạn trích là gì?
Đọc lại văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét trong SGK (tr. 118 – 120) và trả lời các câu hỏi:
– Ấy nhè nhẹ chứ nào! Ánh sáng nào vừa lóe trên cửa sổ kia?
– Ôi người mà ta sùng kính, người mà ta yêu đương! Ôi, giá nàng biết nhỉ!... Nàng đang nói... Không, nàng im lặng...
Trong các câu trên, câu nào là câu rút gọn, câu nào là câu đặc biệt? Nêu tác dụng của việc sử dụng các câu đó trong ngữ cảnh.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Tính hoa mĩ trong lời thoại của nhân vật được thể hiện như thế nào ở đoạn trích này?
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Tại sao Giu-li-ét cứ một mực khẳng định trời chưa sáng? Giải thích sự thay đổi đột ngột của nàng qua lời thoại “Trời sáng rồi... mỗi lúc một sáng”.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Chỉ ra tính chất đối nghịch trong lời thoại kịch thể hiện qua đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Phân tích tâm trạng của Rô-mê-ô trong giờ phút chia tay Giu-li-ét.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Câu thoại nào cho thấy những dự cảm không lành của Rô-mê-ô về tương lai? Điều này hé lộ những sự việc nào tiếp theo sẽ xảy đến với đôi uyên ương?
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét và trả lời các câu hỏi:
HỒI BA
CẢNH V
RÔ-MÊ-Ô VÀ GIU-LI-ÉT ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRÔNG XUỐNG VƯỜN
Giu-li-ét: – Anh đi ư? Trời còn lâu mới sáng. Tiếng chim đã làm anh hoảng hốt là tiếng hoạ mi đấy, không phải tiếng sơn ca đâu. Đêm nào nó cũng hót trên cây lựu đằng kia. Anh ơi, cứ tin lời em nói, đúng là tiếng hoạ mi.
Rô-mê-ô: – Sơn ca, sứ giả của bình minh đấy! Không phải hoạ mi đâu. Em yêu quý, hãy nhìn kia, ảnh hồng ghen với chúng ta đã viên sáng những đám mây đang phải rời nhau ngoài phương đông. Những ngọn bạch lạp trên trời đêm đã tắt, và bình minh tươi vui đang kiễng chân rón rén trên đỉnh núi xa mờ. Anh phải ra đi để sống hoặc ở lại mà chết.
Giu-li-ét: – Vệt sáng kia không phải ánh bình minh, em biết! Đó là một ngôi sao băng mặt trời vừa phun ra để làm ngọn đuốc đưa anh tới Man-tua. Anh hãy ở lại chưa đến lúc anh phải ra đi.
Rô-mê-ô: – Được, cứ để họ bắt, cứ để họ giết! Anh sẽ vui lòng, vì đó là ý muốn của em. Vệt sáng mờ kia đâu phải ánh mắt của bình minh, đó chỉ là tia phản chiếu của vừng trán ả Hằng. Tiếng hót vang bầu trời trên đầu chúng ta cũng chẳng phải tiếng sơn ca. Anh thiết tha muốn ở lại nơi đây, chẳng còn lòng nào cất bước. Tử thần hỡi, cứ lại đây, ta vui lòng chờ mi, vì nàng Giu-li-ét muốn như vậy... Hỡi tâm hồn của anh, chúng ta đang nói gì nhỉ? Chúng ta hãy tiếp tục chuyện trò đi, trời đã sáng đâu.
Giu-li-ét: – Trời sáng rồi, trời sáng rồi! Anh ơi, đi đi, đi ngay đi. Đúng là con sơn ca đang cất tiếng hót lạc điệu; giọng nó mới chối tai làm sao! Người ta bảo tiếng sơn ca êm ái, thánh thót, bởi nó khéo phân chia cung bậc, nhưng chẳng phải vậy đâu, bởi nó chỉ chia lìa anh và em thôi. Người ta bảo sơn ca xưa đã đổi mắt với giống cóc nhái; sao chúng chẳng đổi cả giọng cho nhau, vì tiếng hót hôm nay chỉ bắt chúng ta phải kinh hoảng rời nhau; nó như tiếng kèn phường săn đuổi bắt anh rời khỏi nơi đây. Anh ơi, anh đi đi. Trời mỗi lúc một sáng.
Rô-mê-ô: – Mỗi lúc một sáng ư? Nỗi đau thương của chúng ta mỗi lúc một chìm thêm vào tăm tối.
(Uy-li-am Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, in trong William Shakespeare Những vở kịch nổi tiếng, Đặng Thế Bính dịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội,
2017, tr. 115 - 116)
Tìm câu rút gọn trong đoạn trích và cho biết thành phần nào của câu bị tỉnh lược.
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Câu thoại “En-vi-a! Ta ở đâu đây? Ta thấy gì? Thật, giả?/ Rô-đri-gơ tại nhà này! Rô-đri-gơ trước mắt ta sao!” thể hiện tâm trạng gì của Si-men?
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Tại sao Rô-đri-gơ muốn Si-men kết liễu đời chàng?
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Vì sao Si-men không trách cứ Rô-đri-gơ? Nêu những câu thoại thể hiện tình yêu của Si-men với Rô-đri-gơ.
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Phân tích sự đối nghịch trong lời thoại của hai nhân vật Si-men và Rô-đri-gơ.
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Ở đoạn thoại: “Xin theo ý... đòi chàng thế mạng”, hai nhân vật Rô-đri-gơ và Si-men cùng thể hiện quan điểm về mối quan hệ giữa danh dự và tình yêu như thế nào?
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
Trong các câu thoại từ đầu đoạn trích đến “máu cha em còn đậm!”, những câu nào là câu đặc biệt? Phân tích tác dụng của việc sử dụng câu đặc biệt trong từng trường hợp.
Đọc lại văn bản Lơ Xít trong SGK (tr. 123 – 126) và trả lời các câu hỏi:
“Chua xót bấy! Mất cha, lại phải mất chàng cùng một lúc!”
Lời thoại trên có dùng cả câu đặc biệt và câu rút gọn. Hãy chỉ ra tác dụng của hai kiểu câu này trong ngữ cảnh.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ BA
(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)
LỚP II
Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo
(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)
Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?
(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)
Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!
Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.
Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.
Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,
Giữa hôm nay không ngờ có một người
Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,
Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,
Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.
Quách tham mưu: – Sao Khánh công lại có thể ôn hoà
Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?
(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)
Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,
Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.
Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay
Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.
Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ
Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;
Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng
Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...
Đời ta hết giữa một ngày gió sóng
Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;
Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này
Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.
(Quay mặt sang phía Yêu Ly)
Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,
Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,
Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.
(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)
Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,
Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang
(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)
Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang
Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ
Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.
(Quân hầu làm theo lời)
Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo
Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,
Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,
Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.
(Mỉa mai)
Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...
(Nhìn lại thi hài)
Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!
(Quỳ ôm mặt bên thi hài)
Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)
– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,
Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ
Người đang tâm đem giết cả thê nhi
Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,
Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá
Điều bất trí muôn đời không thể xoá
Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,
Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng
Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?
Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài
Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...
Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
(Nhật gươm đâm cổ chết)
Hạ màn
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)
Yêu Ly hành thích Khánh Kỵ xuất phát từ động cơ gì?
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ BA
(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)
LỚP II
Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo
(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)
Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?
(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)
Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!
Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.
Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.
Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,
Giữa hôm nay không ngờ có một người
Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,
Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,
Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.
Quách tham mưu: – Sao Khánh công lại có thể ôn hoà
Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?
(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)
Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,
Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.
Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay
Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.
Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ
Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;
Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng
Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...
Đời ta hết giữa một ngày gió sóng
Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;
Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này
Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.
(Quay mặt sang phía Yêu Ly)
Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,
Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,
Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.
(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)
Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,
Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang
(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)
Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang
Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ
Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.
(Quân hầu làm theo lời)
Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo
Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,
Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,
Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.
(Mỉa mai)
Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...
(Nhìn lại thi hài)
Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!
(Quỳ ôm mặt bên thi hài)
Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)
– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,
Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ
Người đang tâm đem giết cả thê nhi
Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,
Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá
Điều bất trí muôn đời không thể xoá
Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,
Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng
Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?
Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài
Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...
Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
(Nhật gươm đâm cổ chết)
Hạ màn
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)
Hành động của Khánh Kỵ sau khi bị Yêu Ly hành thích cho biết điều gì về con người Khánh Kỵ? Qua lời Khánh Kỵ, nhân vật Yêu Ly được đánh giá như thế nào?
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ BA
(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)
LỚP II
Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo
(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)
Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?
(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)
Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!
Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.
Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.
Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,
Giữa hôm nay không ngờ có một người
Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,
Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,
Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.
Quách tham mưu: – Sao Khánh công lại có thể ôn hoà
Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?
(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)
Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,
Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.
Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay
Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.
Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ
Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;
Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng
Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...
Đời ta hết giữa một ngày gió sóng
Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;
Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này
Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.
(Quay mặt sang phía Yêu Ly)
Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,
Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,
Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.
(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)
Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,
Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang
(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)
Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang
Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ
Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.
(Quân hầu làm theo lời)
Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo
Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,
Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,
Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.
(Mỉa mai)
Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...
(Nhìn lại thi hài)
Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!
(Quỳ ôm mặt bên thi hài)
Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)
– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,
Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ
Người đang tâm đem giết cả thê nhi
Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,
Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá
Điều bất trí muôn đời không thể xoá
Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,
Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng
Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?
Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài
Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...
Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
(Nhật gươm đâm cổ chết)
Hạ màn
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)
Lời độc thoại của Yêu Ly trong phần cuối vở kịch cho thấy sự giằng xé nội tâm ở nhân vật diễn ra như thế nào? Theo em, tại sao sau khi mưu sự đã thành, nhân vật lại cảm thấy “lạc loài”?
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ BA
(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)
LỚP II
Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo
(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)
Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?
(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)
Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!
Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.
Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.
Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,
Giữa hôm nay không ngờ có một người
Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,
Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,
Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.
Quách tham mưu: – Sao Khánh công lại có thể ôn hoà
Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?
(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)
Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,
Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.
Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay
Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.
Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ
Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;
Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng
Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...
Đời ta hết giữa một ngày gió sóng
Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;
Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này
Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.
(Quay mặt sang phía Yêu Ly)
Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,
Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,
Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.
(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)
Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,
Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang
(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)
Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang
Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ
Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.
(Quân hầu làm theo lời)
Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo
Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,
Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,
Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.
(Mỉa mai)
Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...
(Nhìn lại thi hài)
Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!
(Quỳ ôm mặt bên thi hài)
Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)
– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,
Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ
Người đang tâm đem giết cả thê nhi
Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,
Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá
Điều bất trí muôn đời không thể xoá
Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,
Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng
Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?
Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài
Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...
Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
(Nhật gươm đâm cổ chết)
Hạ màn
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)
Chỉ ra những xung đột của vở kịch được thể hiện qua đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau trong vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ BA
(Giữa dòng Câu Giang sóng gợn, Khánh Kỵ đứng trên mũi thuyền với Yêu Ly, sau lưng có ngọn cờ thêu chữ Suý. Quân chèo ở lái và mũi. Tả hữu hai bên.)
LỚP II
Khánh Kỵ, Yêu Ly, Tham mưu, tả hữu, quân chèo
(Lược dẫn: Yêu Ly cầm giáo đứng sau Khánh Kỵ. Khi thuyền tập trận đang băng băng lướt theo hướng gió, Yêu Ly cũng lợi dụng sức gió, cầm giáo đâm Khánh Kỵ từ sau lưng. Quách tham mưu toan chém Yêu Ly nhưng Khánh Kỵ can.)
Khánh Kỵ: – Người đứng đấy phải Yêu Ly?
(Yêu Ly bước tới trước mặt, Khánh Kỵ đặt tay lên vai Yêu Ly, nhìn im lặng)
Vừa đâm ta. trời ơi Yêu Ly, Yêu Ly!
Ta vũ dũng hãy còn thua sức đó.
Tay một cánh giỏi nương nhờ sức gió.
Ta mang danh dũng sĩ ở trên đời,
Giữa hôm nay không ngờ có một người
Đàm ngọn giáo ngập từ sau tới trước,
Xuyên Khánh Kỵ suốt từ lưng tới ngực,
Cánh tay này còn vũ dũng hơn ta.
Quách tham mưu: – Sao Khánh công lại có thể ôn hoà
Với một kẻ nấp sau lưng hành thích?
(Đưa kiếm chém Yêu Ly, Khánh Kỵ can)
Khánh Kỵ: – Không, không nên. Giờ đây ta sắp chết,
Dũng sĩ trên đời thiệt hết một tay.
Mạng Yêu Ly các người giết hôm nay
Là thiệt mất một ngày hai dũng sĩ.
Lời ta trối xin Tham mưu nhớ kĩ
Thả Ly về Ngô quốc tỏ lòng trung;
Ta thác đi chưa thỏa chí anh hùng
Nhưng chết dưới một bàn tay vũ dũng...
Đời ta hết giữa một ngày gió sóng
Thôi Tham mưu, ngài ở lại từ đây;
Mai sau ai còn nhắc Khánh Kỵ này
Sẽ không trách kẻ râu mày thấp kém.
(Quay mặt sang phía Yêu Ly)
Từ giã Yêu Ly, anh hùng khó kiếm,
Yêu Ly về bên ấy giúp Ngô gia,
Và chuyển giùm lời từ biệt của ta.
(Thò tay ra sau rút mũi giáo, gục xuống chết. Tham mưu bỏ kiếm, quỳ ôm xác Khánh Kỵ trong tay.)
Quách tham mưu: – Khánh chủ thở xong rồi hơi thở cuối,
Khắp chiến thuyền hãy kéo cờ tang
(Tiếng loa truyền to hai câu ấy)
Rạng ngày mai ta sẽ ngược Câu Giang
Về Kinh Bắc báo tin buồn lê thứ
Quân, lấy chăn gấm đắp lên mình Khánh chủ.
(Quân hầu làm theo lời)
Yêu tiên sinh, sẵn thuyền nhỏ đem theo
Và sẵn quân ngài đã tập chống chèo,
Ngài cho phép đưa ngài sang nước cũ,
Cho tỏ rạng lượng hải hà Khánh chủ.
(Mỉa mai)
Về bên Ngô thôi rực rỡ kì công...
(Nhìn lại thi hài)
Ôi cơ đồ công tử chửa làm xong!
(Quỳ ôm mặt bên thi hài)
Yêu Ly: (Bước ra mũi thuyền)
– Tròn nghĩa lớn đã trừ xong Khánh Kỵ,
Nhưng nam tử thân này ôi xét kĩ
Người đang tâm đem giết cả thê nhi
Tiếng bất nhân không còn giấu che gì,
Mưu việc lớn thân mình đem huỷ phá
Điều bất trí muôn đời không thể xoá
Mưu trả hàng dưới trướng xin câu dung,
Dịp tốt ra tay giết kẻ anh hùng
Điều bất tín sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Ba điều kia xin trút bỏ cho ai?
Ngũ Viên ơi ta giờ đã lạc loài
Cùng quý hữu không còn mong tái ngộ...
Điều uỷ thác làm xong: nương sức gió
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt!
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần?
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
(Nhật gươm đâm cổ chết)
Hạ màn
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 24, Hà Minh Đức sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1099 – 1101)
Cái chết của Yêu Ly có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện tính nhân văn của bi kịch?
Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Phéc-đi-năng đã hành động như thế nào khi thấy Luy-dơ bị sỉ nhục và bị bắt?
A. Đỡ Luy-dơ, ngăn cản những kẻ định bắt nàng
B. Bênh vực, đứng về phía Luy-dơ
C. Phản đối cha, ám chỉ sẽ tố cáo cha
D. Tất cả các phương án trên
Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Phẩm chất nào của nhân vật Phéc-đi-năng được thể hiện qua đoạn trích?
A. Dũng cảm, ghét sự dối trá
B. Yêu mãnh liệt, quyết liệt bảo vệ tình yêu
C. Thẳng thắn, thuỷ chung
D. Yêu mãnh liệt, ghét sự dối trá
Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Đoạn trích cho thấy xung đột chính của vở kịch là gì?
A. Quý tộc và bình dân
B. Âm mưu và tình yêu
C. Độc ác và lương thiện
D. Dũng cảm và hèn nhát
Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Sự đối đầu giữa Phéc-đi-năng với cha sẽ dẫn đến điều gì?
A. Các âm mưu chia rẽ tình yêu được thúc đẩy.
B. Tình cha con bị tổn hại.
C. Gia đình Luy-dơ được bảo vệ.
D. Phéc-đi-năng phải lấy bà Min-pho.
Đọc lại văn bản Âm mưu và tình yêu trong SGK (tr. 139 – 141) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Thông điệp nào KHÔNG phù hợp với nội dung của vở kịch?
A. Trong cuộc sống, con người cần phải có những âm mưu và thủ đoạn để đạt được mục đích.
B. Những con người bé nhỏ luôn phải chịu sự đàn áp của cường quyền.
C. Tình yêu cần có sức mạnh để chiến thắng những âm mưu đen tối.
D. Cái chết của Phéc-đi-năng và Luy-dơ là lời tranh đấu cho một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Lập dàn ý cho bài văn nghị luận phân tích một số phương diện nổi bật của vở bi kịch Rô-mê-ô và Giu-li-ét. Chọn một ý của phần Thân bài và viết thành đoạn văn hoàn chỉnh.
Lập dàn ý cho bài văn phân tích một vở kịch đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu sắc. Viết đoạn Mở bài và Kết bài của bài văn đó.
Với vai trò là người chủ trì, em hãy hình dung trình tự buổi thảo luận và thiết kế kịch bản cho buổi thảo luận đó.
Với tư cách là người tham dự buổi thảo luận, em hãy chuẩn bị nội dung cho phần phát biểu của mình.
Tìm đọc một số văn bản nghị luận văn học. Ghi vào nhật kí đọc sách luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản em đã đọc; những cách để hiểu khác của em so với cách hiểu của tác giả văn bản nghị luận đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.
Tìm đọc một số vở bi kịch. Ghi vào nhật kí đọc sách chủ đề và một số yếu tố ng đặc trưng của bi kịch thể hiện trong văn bản đã đọc như: xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại; những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của em sau khi đọc văn bản bi kịch.
Ngân hàng đề thi
