Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 3. Hồn nước nằm trong tiếng mẹ cha có đáp án
47 câu hỏi
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Chọn phương án nêu đúng thể loại của văn bản.
A. Thơ song thất lục bát
B. Thơ lục bát
C. Truyện truyền kì
D. Truyện thơ Nôm
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Kẻ bảng (vào vở) theo mẫu dưới đây và điền thông tin phù hợp:
STT | Đoạn thơ | Nội dung chính |
1 | Mười hai dòng thơ đầu |
|
2 | Mười dòng thơ tiếp theo |
|
3 | Mười bốn dòng thơ cuối |
|
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Đọc mười hai dòng thơ đầu và trả lời các câu hỏi:
a. Nhân vật Kim Trọng xuất hiện trong khung cảnh như thế nào?
b. Những chi tiết nào được tác giả sử dụng để khắc hoạ nhân vật Kim Trọng?
c. Cảm nhận chung của em về nhân vật Kim Trọng là gì?
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Đọc mười dòng thơ tiếp theo (từ câu “Bóng hồng nhác thấy nẻo xa” đến câu “Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”) và trả lời các câu hỏi:
a. Hai dòng thơ đầu miêu tả vẻ đẹp của những nhân vật nào? Vẻ đẹp ấy hiện lên qua cái nhìn của ai?
b. “Người quốc sắc, kẻ thiên tài” ở đây là ai? Trạng thái cảm xúc nổi bật của họ là gì?
c. Tác giả đã thể hiện thái độ, tình cảm như thế nào đối với các nhân vật?
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Cho biết trong mười bốn dòng thơ cuối, tác giả đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật nào để thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật Thuý Kiều.
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Thuý Kiều sau cuộc gặp gỡ với Kim Trọng (chú ý thời gian, không gian, trạng thái cảm xúc,...).
Đọc lại văn bản Kim – Kiều gặp gỡ (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 66 – 68) và thực hiện các yêu cầu sau:
Phân tích tác dụng của một trường hợp có sử dụng phép đối trong văn bản Kim – Kiều gặp gỡ.
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Chọn ý KHÔNG thể hiện lí do khiến Lục Vân Tiên quyết định ra tay trừng trị bọn cướp.
A. Căm giận những kẻ hung đồ hại dân
B. Xót thương những người dân bị ức hiếp
C. Thể hiện tài năng võ nghệ cao cường
D. Thể hiện trách nhiệm, bổn phận của người anh hùng
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Chọn những cách hiểu đúng về dụng ý của tác giả khi miêu tả hình ảnh đám cướp hung ác, dữ tợn.
A. Thể hiện sự khinh ghét đảng cướp Phong Lai
B. Nhấn mạnh tình huống nguy hiểm của Lục Vân Tiên
C. Thể hiện khí phách anh hùng của Lục Vân Tiên
D. Bày tỏ sự lo lắng, sợ hãi trước sức mạnh của bọn cướp
E. Làm nổi bật tài năng võ nghệ phi thường của Lục Vân Tiên
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Chọn phương án nêu đúng các chi tiết được tác giả sử dụng để khắc hoạ nhân vật Lục Vân Tiên trong mười bốn dòng thơ đầu.
A. Ngoại hình, lời nói
B. Lời nói, cử chỉ, hành động
C. Hành động, cảm xúc, suy nghĩ
D. Diễn biến nội tâm
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Phân tích nghệ thuật miêu tả nhân vật trong đoạn thơ sau:
Vân Tiên tả đột hữu xông,
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang.
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong.
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Lời giãi bày của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên thể hiện những nét tính cách nào của nhân vật?
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Chỉ ra một số từ ngữ địa phương trong văn bản và nêu tác dụng của việc sử dụng các từ ngữ đó.
Đọc lại văn bản Lục Vân Tiên đánh cướp, cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) trong SGK (tr. 71 –73) và thực hiện các yêu cầu sau:
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày cảm nhận của em về một nét đẹp của nhân vật Lục Vân Tiên được thể hiện ở sáu dòng thơ cuối.
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Bài thơ được sáng tác bằng thể thơ nào? Người bày tỏ tâm tình trong bài thơ là ai?
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được sử dụng trong hai câu thơ đầu.
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Phân tích tâm trạng được thể hiện trong hai câu thực và hai câu luận.
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Hai câu kết cho thấy sự thay đổi nào trong cảm xúc, tâm trạng của con người?
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Hình tượng con người hiện lên trong bài thơ với những đặc điểm nào? Qua đó, nhà thơ muốn gửi gắm thông điệp gì?
Đọc bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương trong SGK (tr.75) và trả lời các câu hỏi sau:
Phân tích giá trị biểu đạt của các từ láy trong bài thơ.
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Quang cảnh lầu Ngưng Bích được miêu tả bằng những từ ngữ nào? Theo em, đó là cảnh thực hay đã được “tâm trạng hoá”?
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Nêu cảm nhận về cảnh ngộ, tâm trạng của Thuý Kiều trong hai câu thơ: “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya/ Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”.
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Kỉ niệm nào sống dậy trong tâm trí khi Thuý Kiều nhớ về Kim Trọng? Kỉ niệm ấy đã khơi lên những cảm xúc, suy nghĩ gì?
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Hình ảnh cha mẹ hiện lên như thế nào trong nỗi nhớ của Thuý Kiều?
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Theo em, trình tự miêu tả nỗi nhớ của Thuý Kiều (nhớ người yêu, nhớ cha mẹ) có hợp lí không? Vì sao?
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong tám dòng thơ cuối.
Đọc văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du) trong SGK (tr. 85 – 86) và trả lời các câu hỏi sau:
Trong tám dòng thơ cuối, tác giả đã sử dụng rất thành công bút pháp tả cảnh ngụ tình. Hãy phân tích bức tranh thiên nhiên và diễn biến tâm trạng của Thuý Kiều.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Tóm tắt nội dung của đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Hãy chỉ ra đâu là lời người kể chuyện, đâu là lời nhân vật.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Kẻ bảng (vào vở) theo mẫu sau và điền thông tin phù hợp vào các ô trống:
LỜI NHÂN VẬT KIỀU NGUYỆT NGA | ||
STT | Lời đối thoại | Lời độc thoại |
1 | … | … |
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Trong đoạn trích, nhân vật Lục Vân Tiên chủ yếu được khắc hoạ bằng các chi tiết nào? Ấn tượng nổi bật của em về nhân vật là gì?
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật Kiều Nguyệt Nga được thể hiện trong 12 dòng thơ cuối.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả trong đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
KIỀU NGUYỆT NGA CẢM TẠ LỤC VÂN TIÊN
Thưa rằng: “Tiện thiếp đi đường,
Chẳng hay quân tử quê hương nơi nào?
Phút nghe lời nói thanh tao,
Vân Tiên hả nỡ lòng nào phui pha
“Đông Thành vốn thiệt quê ta,
Họ là Lục thị tên là Vân Tiên”
Nguyệt Nga vốn đấng thuyền quyên
Tai nghe lời nói tay liền rút trâm.
Thưa rằng: “Nay gặp tri âm,
Xin đưa một vật để cầm làm tin”.
Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn,
Nguyệt Nga liếc thấy lòng thìn nết na
“Vật chi một chút gọi là,
Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ.
Của này là của vất vơ,
Lòng chê cũng phải mặt ngơ sao đành”
Vân Tiên khó nỗi làm thinh,
Chữ ân buộc lại chữ tình lây dây”.
Than rằng: “Đó khéo trêu đây,
Ơn kia đã mấy của nầy rất sang.
Đương khi gặp gỡ giữa đàng,
Một lời cũng nhớ ngàn vàng chẳng phai.
Nhớ câu trọng nghĩa khinh tài,
Nào ai chịu lấy của ai làm gì”.
Thưa rằng: “Chút phận nữ nhi,
Vốn chưa biết lẽ có khi mất lòng.
Ai dè những đấng anh hùng,
Thấy trâm thôi lại thẹn thùng cùng trâm
Riêng than: “Trâm hỡi là trâm,
Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ.
Đưa trâm chàng đã làm ngơ,
Thiếp xin đưa một bài thơ giã từ
[...]
Vân Tiên từ giã phản hồi,
Nguyệt Nga than thở: “Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả nỗi tình lại vương.
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông,
Trăm năm cho vẹn chữ tòng mới an.
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê”.
(Theo Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1980, tr. 100 – 102)
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ in đậm:
Nặng nề hai chữ uyên ương,
Chuỗi sầu ai khéo vấn vương vào lòng.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Tóm tắt sự việc được kể trong đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Xác định lời của người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Nhân vật Trang Vương hiện lên như thế nào qua lời đối thoại?
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Nêu các nội dung chính trong lời đối thoại của nhân vật Ngọc Hoa.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Phân tích đặc điểm tính cách của nhân vật Ngọc Hoa được thể hiện trong đoạn trích.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa, khuyết danh)
Vua truyền nàng Ngọc đến đây,
Tức thì chỉ phán ra ngay một nhời:
“Chồng nàng ta hỏi đầu đuôi,
Quyết về giới hạnh, còn ngươi thế nào?
Ta nay quyền cả, ngôi cao,
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời
Nghe vua nói hết khúc nhôi,
Nàng liền quỳ xuống mọi nhời liền tâu:
“Chúng tôi duyên bén cùng nhau,
Đức vua phán thế lấy đâu công bằng?
Nữ nhi phận phải chữ tòng,
Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì.
Ví dù tôi chửa vu quy,
Vua thương nạp dụng, thế thì ai đương?
Nay tôi duyên kiếp cùng chàng,
Nỡ nào phụ nghĩa tạo khang cho đành?
Vua nay pháp luật công bình,
Thiên hạ thuận tình, thần quỷ vâng uy.
Cung tần mĩ nữ thiếu chi
Mà vua phải ép nữ nhi có chồng?
Dù vua xử ức má hồng
Thời tôi tự vẫn, khỏi lòng bội phu”
Nhời sao thảm thiết cay chua,
Làm cho ảo não, xót xa muôn phần!
(Kho tàng truyện Nôm khuyết danh, tập 1, Bùi Văn Vượng Chủ biên, NXB Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr. 28 – 29)
Trong lời đối thoại của nhân vật Ngọc Hoa, nhiều câu có hình thức câu hỏi. Hãy liệt kê và nêu tác dụng của chúng.
Lập dàn ý cho đề bài sau: Trình bày ý kiến của em về tình bạn khác giới ở tuổi học trò.
Viết đoạn văn (khoảng 10 – 12 câu) trình bày cảm nhận về nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích Kiều Nguyệt Nga cảm tạ Lục Vân Tiên.
Dựa vào nội dung đã chuẩn bị ở phần Viết, thực hành nói và nghe trong nhóm về đề tài: Tình bạn khác giới ở tuổi học trò.
Chuẩn bị nội dung cho bài nói về đề tài: Cách bày tỏ lòng biết ơn.
Tìm đọc một số văn bản truyện truyền kì. Ghi vào nhật kí đọc sách chủ đề, không gian, thời gian, chi tiết (chú ý những chi tiết kì ảo), cốt truyện, nhân vật chính, đặc điểm lời người kể chuyện.
Tìm đọc một số tác phẩm thơ song thất lục bát. Ghi vào nhật kí đọc sách chủ đề, những đặc điểm nổi bật về thi luật của thơ song thất lục bát như vần, nhịp, số chữ trong mỗi câu thơ, số câu trong một khổ thơ thể hiện qua tác phẩm đã đọc.
Tìm đọc một văn bản truyện thơ Nôm. Ghi vào nhật kí đọc sách một số yếu tố đặc trưng của truyện thơ Nôm được thể hiện trong văn bản đã đọc như: cốt truyện, nhân vật, lời thoại.
Ngân hàng đề thi
