Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 10. Văn học - lịch sử tâm hồn có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 9 KNTT Bài 10. Văn học - lịch sử tâm hồn có đáp án

A
Admin
VănLớp 980 lượt thi
14 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Xây dựng mục tiêu đọc sách và danh mục các tác phẩm văn học tiêu biểu cần đọc trong 2 tuần thực hiện dự án Văn học – lịch sử tâm hồn.

Xem đáp án

Để xây dựng mục tiêu đọc sách và danh mục các tác phẩm văn học cần đọc trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn, em cần lưu ý:

– Đọc kĩ yêu cầu cần đạt của bài học. Mục tiêu đọc sách của cá nhân cần phù hợp với mục tiêu chung đã được xác định. Trong dự án đọc sách này, các mục tiêu quan trọng cần hiện thực hoá là:

+ Vận dụng được một số hiểu biết về lịch sử văn học Việt Nam để đọc hiểu văn bản văn học. Từ mục tiêu này của bài học, cần lựa chọn được những tác phẩm văn học tiêu biểu, nhận biết được những vấn đề lịch sử văn học cơ bản liên quan và vận dụng được vào việc đọc hiểu hình thức, nội dung của tác phẩm văn học.

+ Sau khi đọc tác phẩm văn học, cần vận dụng hiểu biết về lịch sử văn học, đặc điểm nội dung và hình thức của tác phẩm văn học để có thể viết được bài quảng cáo về tác phẩm, kết hợp sử dụng phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

+ Từ những kết quả đọc và viết, vận dụng linh hoạt để tiến hành cuộc phỏng vấn ngắn về tác phẩm văn học (đề tài phù hợp).

– Dự án Văn học – lịch sử tâm hồn được thực hiện sau 9 bài học của Ngữ văn 9, do đó, việc xác định và thực hiện mục tiêu đọc sách, việc lựa chọn danh mục các tác phẩm văn học của mỗi cá nhân cần chú ý đến tính tương thích với các bài học trước đó về thể loại, chủ đề văn bản. Khác với các lớp trước, dự án đọc sách của Ngữ văn 9 tập trung vào tác phẩm văn học, do đó việc lựa chọn tác phẩm cần chú ý đến các vấn đề về lịch sử văn học: bối cảnh lịch sử, xã hội, nguồn gốc và đặc điểm thể loại, tác giả, tác phẩm tiêu biểu của từng thời kì, giai đoạn văn học. Có thể đưa vào danh mục những tác phẩm tiêu biểu của thời kì trung đại và thời kì hiện đại, tập trung vào những thành tựu nổi bật của mỗi thời kì: Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Chinh phụ ngâm khúc (nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm(?)), Truyện Kiều (Nguyễn Du),...; thơ Nguyễn Bính, thơ Lưu Quang Vũ,...

2. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
GIỚI THIỆU NHỮNG KHÚC NGÂM
(1) Trong nền văn học quá khứ của dân tộc ta, truyện thơ và ngâm khúc là hai thành tựu rực rỡ, nổi bật hơn cả. Truyện thơ là những tác phẩm tự sự nhưng rất giàu tính chất trữ tình, được viết bằng thể lục bát, còn ngâm khúc là những tác phẩm hoàn toàn trữ tình, có thể gọi là những trường ca trữ tình, thì được viết bằng thể song thất lục bát. Cả hai thể thơ này đều là những thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ ca dao dân gian.
(2) Ngâm khúc ra đời sau khi đã có thể song thất lục bát. Cho đến nay chúng ta chưa khẳng định được song thất lục bát xuất hiện vào thời gian nào. Chỉ biết đến đầu thế kỉ XVII Hoàng Sĩ Khải đã dùng thể thơ này để viết bản “Tứ thời khúc vịnh” gồm 340 câu. Với “Tứ thời khúc vịnh” thể song thất lục bát đã tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong số 85 khổ song thất lục bát thì có đến 54 khổ gieo vần ở chữ cuối câu bát khổ trên với chữ thứ ba câu thất khổ dưới. Lối gieo vần này làm cho âm hưởng của câu thơ có phần không được hài hoà. Nhưng lí do làm cho “Tứ thời khúc vịnh” không có một ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc thì chủ yếu không phải ở đó, mà ở chỗ tác giả chưa khai thác được đúng sở trường của thể thơ này. Thể song thất lục bát do đặc điểm kết cấu của nó, mỗi khổ gồm có hai câu bảy chữ, một cáu sáu chữ và một câu tám chữ, cứ thế lặp đi lặp lại và kéo dài không giới hạn. Khác với thể thơ lục bát, câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ, cũng lặp đi lặp lại như thế, nhưng nhịp điệu của nó khá đa dạng; thể song thất lục bát có hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3/4 (khác với thơ thất ngôn Đường luật ngắt 4/3) nên những khổ thơ song thất lục bát nối tiếp nhau tạo thành một âm hưởng có tính chất chu kì, và vì vậy, những bài thơ song thất lục bát càng kéo dài càng dễ có cảm giác đều đều và buồn. “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm vịnh về bốn mùa trong một năm, nhưng qua đó, tác giả nhằm ca ngợi nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. [...] “Tứ thời khúc vịnh”, mặc dù tác giả đặt nhan đề như thế, nhưng chúng tôi không coi nó là tác phẩm mở đầu của thể loại ngâm khúc trong lịch sử, bởi vì “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm viết về thiên nhiên nhưng hoàn toàn vắng bóng cảm hứng trữ tình Trong “Tứ thời khúc vịnh” tính chất giáo huấn về đạo đức mới là cái cơ bản, chủ yếu Thể loại ngầm khúc thực sự ra đời không phải với “Tứ thời khúc vịnh” ở thế kỉ li với “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, và nhất là với bản dịch tác phẩm ấy ch Đoàn Thị Điểm ở giữa thế kỉ XVIII,
(3) “Chinh phụ ngâm” là một tác phẩm viết về tâm trạng đau buồn triền miên của một người vợ có chồng ra chiến trường. Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng ng Hán theo lối trường đoản cú, là một tác phẩm có tính chất tập cổ. Rất nhiều câu thơ trong tác phẩm này được lấy ra từ kho tàng thơ ca cổ đại Trung Hoa, có nhiên, tác giả có nhào nặn, có thêm thắt, sửa đổi. Nhưng với bản dịch bằng thể thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm thi khúc ca trữ tình này lần đầu tiên tìm được cái ám hướng thực sự phù hợp với nó. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn về sau con có nhiều bản dịch khác nữa cũng bằng thể song thất lục bát. Thậm chí hiếu bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích - nghĩa là bản dịch hay nhất – thì cũng không vì thế mà nó làm lu mờ vị trí lịch sử bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Phải nói rằng chính bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm đã mở đầu cho việc sáng tác ngân khúc, sáng tác những trường ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc Sau bản dịch “Chính phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm, hàng loạt những tác phẩm ngâm khúc khác lần lượt ra đời, đánh dấu một khuynh hướng phát triển mới của văn học dân tộc; “khuynh hướng đi sâu vào nội tâm con người”
(4) [...] Nhà nước phong kiến Việt Nam sau thời kỳ cực thịnh ở thế kỉ XV, đã dẫn xuống dốc. Trải qua các thế kỉ XVI, XVII đến giữa thế kỉ XVIII thì nhà nước này không phải chỉ suy thoái theo cái nghĩa thông thường, mà nó thực sự trở nên khủng hoảng, bế tắc [...] Quán chúng đói khổ đã vùng dậy đấu tranh chống lại, khởi nghĩa nông dân nó ra liên tiếp và có quy mô lớn. Ở các đô thị, nền kinh tế hàng hoá trong bối cảnh hỗn loạn đó không bị nhiều câu thúc, đã phát triển có phần thoải mái hơn trước, đã góp thêm gió vào cơn bão của thời đại. Và người ta thấy gì trong cơn bão ấy? Thấy kỉ cương của xã hội phong kiến bị phá vỡ, những ý tưởng thống trị xã hội hàng mấy trăm năm phút chốc bộc lộ tất cả sự giả dối và bất lực của nó. Chế độ phong kiến với ý thức hệ Nho giáo đã đề cao đạo đức và những thiết chế xã hội khác để ràng buộc con người phải phục tùng nó, thì bây giờ những đạo đức, thiết chế ấy không còn hiệu lực nữa Con người đã đứng cao hơn các thiết chế. “Người ta là hoa đất”, câu tục ngữ này rất có thể ra đời vào giữa thế kỉ XVIII; ở đây “người ta” vừa chỉ con người nói chung, đông thời cũng là chỉ những cá nhân con người cụ thể. Nét đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là sự phát hiện ra con người, trong đó, cố nhiên có sự phát hiện ra con người cá nhân ở những mức độ nhất định. Sự phong phú có tính chất đột biến của văn học giai đoạn này chính là bắt nguồn từ sự phát hiện đó. Trong văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có thể nói lần đầu tiên con người được đặt ra trong những quan hệ khá phong phú về mặt xã hội và trong những chiều sâu nội tâm của nó.
(Nguyễn Thạch Giang và nhóm biên khảo, Những khúc ngâm chọn lọc, tập 1,
NXB Giáo dục, 1994, tr. 7 – 11)

Những phương diện nào của lịch sử thể loại ngâm khúc được trình bày trong văn bản?

Xem đáp án

Những phương diện nào của lịch sử thể loại ngâm khúc được trình bày trong văn bản là:

+ Nguồn gốc

+ Bối cảnh lịch sử và thời gian ra đời

+ Quá trình phát triển

+ Các điểm hình thức và cảm hứng chủ đạo.

3. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
GIỚI THIỆU NHỮNG KHÚC NGÂM
(1) Trong nền văn học quá khứ của dân tộc ta, truyện thơ và ngâm khúc là hai thành tựu rực rỡ, nổi bật hơn cả. Truyện thơ là những tác phẩm tự sự nhưng rất giàu tính chất trữ tình, được viết bằng thể lục bát, còn ngâm khúc là những tác phẩm hoàn toàn trữ tình, có thể gọi là những trường ca trữ tình, thì được viết bằng thể song thất lục bát. Cả hai thể thơ này đều là những thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ ca dao dân gian.
(2) Ngâm khúc ra đời sau khi đã có thể song thất lục bát. Cho đến nay chúng ta chưa khẳng định được song thất lục bát xuất hiện vào thời gian nào. Chỉ biết đến đầu thế kỉ XVII Hoàng Sĩ Khải đã dùng thể thơ này để viết bản “Tứ thời khúc vịnh” gồm 340 câu. Với “Tứ thời khúc vịnh” thể song thất lục bát đã tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong số 85 khổ song thất lục bát thì có đến 54 khổ gieo vần ở chữ cuối câu bát khổ trên với chữ thứ ba câu thất khổ dưới. Lối gieo vần này làm cho âm hưởng của câu thơ có phần không được hài hoà. Nhưng lí do làm cho “Tứ thời khúc vịnh” không có một ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc thì chủ yếu không phải ở đó, mà ở chỗ tác giả chưa khai thác được đúng sở trường của thể thơ này. Thể song thất lục bát do đặc điểm kết cấu của nó, mỗi khổ gồm có hai câu bảy chữ, một cáu sáu chữ và một câu tám chữ, cứ thế lặp đi lặp lại và kéo dài không giới hạn. Khác với thể thơ lục bát, câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ, cũng lặp đi lặp lại như thế, nhưng nhịp điệu của nó khá đa dạng; thể song thất lục bát có hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3/4 (khác với thơ thất ngôn Đường luật ngắt 4/3) nên những khổ thơ song thất lục bát nối tiếp nhau tạo thành một âm hưởng có tính chất chu kì, và vì vậy, những bài thơ song thất lục bát càng kéo dài càng dễ có cảm giác đều đều và buồn. “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm vịnh về bốn mùa trong một năm, nhưng qua đó, tác giả nhằm ca ngợi nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. [...] “Tứ thời khúc vịnh”, mặc dù tác giả đặt nhan đề như thế, nhưng chúng tôi không coi nó là tác phẩm mở đầu của thể loại ngâm khúc trong lịch sử, bởi vì “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm viết về thiên nhiên nhưng hoàn toàn vắng bóng cảm hứng trữ tình Trong “Tứ thời khúc vịnh” tính chất giáo huấn về đạo đức mới là cái cơ bản, chủ yếu Thể loại ngầm khúc thực sự ra đời không phải với “Tứ thời khúc vịnh” ở thế kỉ li với “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, và nhất là với bản dịch tác phẩm ấy ch Đoàn Thị Điểm ở giữa thế kỉ XVIII,
(3) “Chinh phụ ngâm” là một tác phẩm viết về tâm trạng đau buồn triền miên của một người vợ có chồng ra chiến trường. Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng ng Hán theo lối trường đoản cú, là một tác phẩm có tính chất tập cổ. Rất nhiều câu thơ trong tác phẩm này được lấy ra từ kho tàng thơ ca cổ đại Trung Hoa, có nhiên, tác giả có nhào nặn, có thêm thắt, sửa đổi. Nhưng với bản dịch bằng thể thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm thi khúc ca trữ tình này lần đầu tiên tìm được cái ám hướng thực sự phù hợp với nó. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn về sau con có nhiều bản dịch khác nữa cũng bằng thể song thất lục bát. Thậm chí hiếu bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích - nghĩa là bản dịch hay nhất – thì cũng không vì thế mà nó làm lu mờ vị trí lịch sử bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Phải nói rằng chính bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm đã mở đầu cho việc sáng tác ngân khúc, sáng tác những trường ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc Sau bản dịch “Chính phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm, hàng loạt những tác phẩm ngâm khúc khác lần lượt ra đời, đánh dấu một khuynh hướng phát triển mới của văn học dân tộc; “khuynh hướng đi sâu vào nội tâm con người”
(4) [...] Nhà nước phong kiến Việt Nam sau thời kỳ cực thịnh ở thế kỉ XV, đã dẫn xuống dốc. Trải qua các thế kỉ XVI, XVII đến giữa thế kỉ XVIII thì nhà nước này không phải chỉ suy thoái theo cái nghĩa thông thường, mà nó thực sự trở nên khủng hoảng, bế tắc [...] Quán chúng đói khổ đã vùng dậy đấu tranh chống lại, khởi nghĩa nông dân nó ra liên tiếp và có quy mô lớn. Ở các đô thị, nền kinh tế hàng hoá trong bối cảnh hỗn loạn đó không bị nhiều câu thúc, đã phát triển có phần thoải mái hơn trước, đã góp thêm gió vào cơn bão của thời đại. Và người ta thấy gì trong cơn bão ấy? Thấy kỉ cương của xã hội phong kiến bị phá vỡ, những ý tưởng thống trị xã hội hàng mấy trăm năm phút chốc bộc lộ tất cả sự giả dối và bất lực của nó. Chế độ phong kiến với ý thức hệ Nho giáo đã đề cao đạo đức và những thiết chế xã hội khác để ràng buộc con người phải phục tùng nó, thì bây giờ những đạo đức, thiết chế ấy không còn hiệu lực nữa Con người đã đứng cao hơn các thiết chế. “Người ta là hoa đất”, câu tục ngữ này rất có thể ra đời vào giữa thế kỉ XVIII; ở đây “người ta” vừa chỉ con người nói chung, đông thời cũng là chỉ những cá nhân con người cụ thể. Nét đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là sự phát hiện ra con người, trong đó, cố nhiên có sự phát hiện ra con người cá nhân ở những mức độ nhất định. Sự phong phú có tính chất đột biến của văn học giai đoạn này chính là bắt nguồn từ sự phát hiện đó. Trong văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có thể nói lần đầu tiên con người được đặt ra trong những quan hệ khá phong phú về mặt xã hội và trong những chiều sâu nội tâm của nó.
(Nguyễn Thạch Giang và nhóm biên khảo, Những khúc ngâm chọn lọc, tập 1,
NXB Giáo dục, 1994, tr. 7 – 11)

Đặc điểm nổi bật về hình thức của thể loại ngâm khúc là gì?

Xem đáp án

Đặc điểm nổi bật về hình thức của thể loại ngâm khúc là đặc điểm cấu trúc của nó.

4. Tự luận
1 điểm

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
GIỚI THIỆU NHỮNG KHÚC NGÂM
(1) Trong nền văn học quá khứ của dân tộc ta, truyện thơ và ngâm khúc là hai thành tựu rực rỡ, nổi bật hơn cả. Truyện thơ là những tác phẩm tự sự nhưng rất giàu tính chất trữ tình, được viết bằng thể lục bát, còn ngâm khúc là những tác phẩm hoàn toàn trữ tình, có thể gọi là những trường ca trữ tình, thì được viết bằng thể song thất lục bát. Cả hai thể thơ này đều là những thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ ca dao dân gian.
(2) Ngâm khúc ra đời sau khi đã có thể song thất lục bát. Cho đến nay chúng ta chưa khẳng định được song thất lục bát xuất hiện vào thời gian nào. Chỉ biết đến đầu thế kỉ XVII Hoàng Sĩ Khải đã dùng thể thơ này để viết bản “Tứ thời khúc vịnh” gồm 340 câu. Với “Tứ thời khúc vịnh” thể song thất lục bát đã tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên trong số 85 khổ song thất lục bát thì có đến 54 khổ gieo vần ở chữ cuối câu bát khổ trên với chữ thứ ba câu thất khổ dưới. Lối gieo vần này làm cho âm hưởng của câu thơ có phần không được hài hoà. Nhưng lí do làm cho “Tứ thời khúc vịnh” không có một ảnh hưởng sâu đậm trong lịch sử văn học dân tộc thì chủ yếu không phải ở đó, mà ở chỗ tác giả chưa khai thác được đúng sở trường của thể thơ này. Thể song thất lục bát do đặc điểm kết cấu của nó, mỗi khổ gồm có hai câu bảy chữ, một cáu sáu chữ và một câu tám chữ, cứ thế lặp đi lặp lại và kéo dài không giới hạn. Khác với thể thơ lục bát, câu trên sáu chữ, câu dưới tám chữ, cũng lặp đi lặp lại như thế, nhưng nhịp điệu của nó khá đa dạng; thể song thất lục bát có hai câu song thất bao giờ cũng ngắt nhịp theo lối 3/4 (khác với thơ thất ngôn Đường luật ngắt 4/3) nên những khổ thơ song thất lục bát nối tiếp nhau tạo thành một âm hưởng có tính chất chu kì, và vì vậy, những bài thơ song thất lục bát càng kéo dài càng dễ có cảm giác đều đều và buồn. “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm vịnh về bốn mùa trong một năm, nhưng qua đó, tác giả nhằm ca ngợi nhà nước phong kiến lúc bấy giờ. [...] “Tứ thời khúc vịnh”, mặc dù tác giả đặt nhan đề như thế, nhưng chúng tôi không coi nó là tác phẩm mở đầu của thể loại ngâm khúc trong lịch sử, bởi vì “Tứ thời khúc vịnh” là một tác phẩm viết về thiên nhiên nhưng hoàn toàn vắng bóng cảm hứng trữ tình Trong “Tứ thời khúc vịnh” tính chất giáo huấn về đạo đức mới là cái cơ bản, chủ yếu Thể loại ngầm khúc thực sự ra đời không phải với “Tứ thời khúc vịnh” ở thế kỉ li với “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, và nhất là với bản dịch tác phẩm ấy ch Đoàn Thị Điểm ở giữa thế kỉ XVIII,
(3) “Chinh phụ ngâm” là một tác phẩm viết về tâm trạng đau buồn triền miên của một người vợ có chồng ra chiến trường. Nguyên tác của Đặng Trần Côn viết bằng ng Hán theo lối trường đoản cú, là một tác phẩm có tính chất tập cổ. Rất nhiều câu thơ trong tác phẩm này được lấy ra từ kho tàng thơ ca cổ đại Trung Hoa, có nhiên, tác giả có nhào nặn, có thêm thắt, sửa đổi. Nhưng với bản dịch bằng thể thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm thi khúc ca trữ tình này lần đầu tiên tìm được cái ám hướng thực sự phù hợp với nó. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn về sau con có nhiều bản dịch khác nữa cũng bằng thể song thất lục bát. Thậm chí hiếu bản dịch hiện hành là của Phan Huy Ích - nghĩa là bản dịch hay nhất – thì cũng không vì thế mà nó làm lu mờ vị trí lịch sử bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Phải nói rằng chính bản dịch “Chinh phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm đã mở đầu cho việc sáng tác ngân khúc, sáng tác những trường ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc Sau bản dịch “Chính phụ ngâm khúc” của Đoàn Thị Điểm, hàng loạt những tác phẩm ngâm khúc khác lần lượt ra đời, đánh dấu một khuynh hướng phát triển mới của văn học dân tộc; “khuynh hướng đi sâu vào nội tâm con người”
(4) [...] Nhà nước phong kiến Việt Nam sau thời kỳ cực thịnh ở thế kỉ XV, đã dẫn xuống dốc. Trải qua các thế kỉ XVI, XVII đến giữa thế kỉ XVIII thì nhà nước này không phải chỉ suy thoái theo cái nghĩa thông thường, mà nó thực sự trở nên khủng hoảng, bế tắc [...] Quán chúng đói khổ đã vùng dậy đấu tranh chống lại, khởi nghĩa nông dân nó ra liên tiếp và có quy mô lớn. Ở các đô thị, nền kinh tế hàng hoá trong bối cảnh hỗn loạn đó không bị nhiều câu thúc, đã phát triển có phần thoải mái hơn trước, đã góp thêm gió vào cơn bão của thời đại. Và người ta thấy gì trong cơn bão ấy? Thấy kỉ cương của xã hội phong kiến bị phá vỡ, những ý tưởng thống trị xã hội hàng mấy trăm năm phút chốc bộc lộ tất cả sự giả dối và bất lực của nó. Chế độ phong kiến với ý thức hệ Nho giáo đã đề cao đạo đức và những thiết chế xã hội khác để ràng buộc con người phải phục tùng nó, thì bây giờ những đạo đức, thiết chế ấy không còn hiệu lực nữa Con người đã đứng cao hơn các thiết chế. “Người ta là hoa đất”, câu tục ngữ này rất có thể ra đời vào giữa thế kỉ XVIII; ở đây “người ta” vừa chỉ con người nói chung, đông thời cũng là chỉ những cá nhân con người cụ thể. Nét đặc trưng cơ bản của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX là sự phát hiện ra con người, trong đó, cố nhiên có sự phát hiện ra con người cá nhân ở những mức độ nhất định. Sự phong phú có tính chất đột biến của văn học giai đoạn này chính là bắt nguồn từ sự phát hiện đó. Trong văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có thể nói lần đầu tiên con người được đặt ra trong những quan hệ khá phong phú về mặt xã hội và trong những chiều sâu nội tâm của nó.
(Nguyễn Thạch Giang và nhóm biên khảo, Những khúc ngâm chọn lọc, tập 1,
NXB Giáo dục, 1994, tr. 7 – 11)

Vì sao tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và đặc biệt là bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm (?) được xem là đánh dấu sự ra đời của thể loại ngâm khúc?

Xem đáp án

Chinh phụ ngâm không phải tác phẩm đầu tiên của thể loại ngắn khúc. Tác phẩm đầu tiên của thể loại này được cho là Tứ thời khúc Vịnh. Tuy nhiên, đặc điểm hình thức và nội dung của Tứ thời khúc vịnh chưa nổi bật, đặc biệt là “hoàn toàn vắng bóng cảm hứng trữ tình”. Do đó, chỉ đến Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và bản dịch của Đoàn Thị Điểm (?) thì “khúc ca trữ tình này lần đầu tiên tìm được cái âm hưởng thực sự phù hợp với nó”. Thể thơ song thất lục bát được sử dụng để chuyển ngữ trong bản dịch của Đoàn Thị Điểm “đã mở đầu cho việc sáng tác ngâm khúc, sáng tác những trường ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc”.

5. Tự luận
1 điểm

Bối cảnh lịch sử gắn với thời gian ra đời của thể loại ngâm khúc có đặc điểm Gì nổi bật? Đặc điểm này có liên quan như thế nào với đặc trưng cơ bản trong nội dung của văn học nói chung và thể loại ngâm khúc nói riêng?

Xem đáp án

- Văn bản đã nêu rõ những thông tin về thời gian, hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm xã hội gắn với sự ra đời của thể loại ngâm khúc. Những thông tin đáng chú ý là:

+ Sự suy thoái của nhà nước phong kiến Việt Nam giữa thế kỉ XIII: “Nhà nước phong kiến Việt Nam sau thời kì cực thịnh ở thế kỉ XV, đã dần dần xuống dốc. Trái qua các thế kỉ XVI, XVII, đến giữa thế kỉ XVIII thì nhà nước này không chỉ suy thoái theo cái nghĩa thông thường, mà nó thực sự trở nên khủng hoảng, bế tắc”.

+ Sự xuất hiện các phong trào đấu tranh của quần chúng: “Quần chúng đói khổ đã vùng dậy đấu tranh chống lại, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp và có quy mô lớn.”.

+ Sự xuất hiện và phát triển của nền kinh tế đô thị: “Ở các đô thị, nền kinh tế hàng hoá trong bối cảnh hỗn loạn đó không bị nhiều câu thúc, đã phát triển có phân thoải mái hơn trước, đã góp thêm gió vào cơn bão của thời đại…”

- Bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế với ba đặc điểm nổi bật nói trên dẫn đến sự thay đổi về ý thức xã hội, thay đổi về quan niệm đạo đức và giá trị của đời sống con người: “Và người ta thấy gì trong cơn bão ấy? Thấy kỉ cương của xã hội phong kiến bị phá vỡ, những ý tưởng thống trị xã hội hàng mấy trăm năm phút chốc bộc lộ tất cả sự giả dối và bất lực của nó. Chế độ phong kiến với ý thức hệ Nho giáo đã đề cao đạo đức và những thiết chế xã hội khác để ràng buộc con người phải phục tùng nó, thì bây giờ những đạo đức, thiết chế ấy không còn hiệu lực nữa. Con người đã đứng cao hơn các thiết chế. “Người ta là hoa đất, câu tục ngữ này rất có thể ra đời vào giữa thế kỉ XVIII; ở đây “người ta” vừa chỉ con người nói chung, đồng thời cũng là chỉ những cá nhân con người cụ thể. Như vậy, con người, đặc biệt là con người cá nhân trở thành một giá trị được phát hiện, thừa nhận. Điều này có mối quan hệ mật thiết với việc thể hiện con người cá nhân với những cung bậc cảm xúc riêng tư, phong phú trong ngâm khúc nói riêng và văn học nói chung. Không có sự phát hiện và thừa nhận con người với đời sống cá nhân và chiều sâu nội tâm phong phú thì không có sự xuất hiện của ngâm khúc với “khuynh hướng đi sâu vào nội tâm con người”.

6. Tự luận
1 điểm

Đọc bài phỏng vấn sau và trả lời câu hỏi:
ĐIỀU GÌ THẬT NHẤT TRONG THƠ?
Một số độc giả nhỏ tuổi của “Văn học và Tuổi trẻ” đã gửi câu hỏi đến ban biên tập toà soạn với mong muốn được kết nối và trao đổi với nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) – tác giả bài thơ “Con chào mào”. Từ những câu hỏi của độc giả, phóng viên (PV) “Văn học và Tuổi trẻ” đã liên hệ và phỏng vấn nhà thơ để đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, thắc mắc: Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì mới là thật nhất trong thơ?...
PV: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, là một tác giả luôn cách tân không mệt mỏi, luôn tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ, có bao giờ ông nghĩ rằng những thay đổi liên tục để tạo nên sự khác biệt ấy khiến cho những bài thơ trở nên khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả?
MVP: Sáng tạo là hành trình đi tìm những giá trị mới cùng những cách thể hiện mới lạ, độc đáo. Hành trình ấy nhằm mở rộng, làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ, đẩy xa hơn nữa đường biên của tưởng tượng, của cảm xúc. Mỗi bài thơ nên là một cuộc lên đường, mở ra hành trình mới. Và, tôi mong mỏi độc giả cũng tiếp nhận tác phẩm thơ bằng tinh thần ấy. Quá trình viết và đọc có thể giao thoa, cũng có thể lệch nhịp. Tuy nhiên, với cả người viết và người đọc, thơ ca tạo cho chúng ta cơ hội phát hiện, khám phá được điều kì diệu, mới mẻ trong một thế giới mà ta tưởng rằng mọi thứ đã trở nên quen thuộc, hoặc nhàm chán. Do vậy, cả người viết và người đọc nên cùng hướng về phía trước, chống lại những thói quen cũ kĩ. Ngay cả với những bài thơ được gọi là truyền thống, là kinh điển, với mỗi người đọc mới, với một lần đọc mới, cũng là một hành trình và thách thức mới. Với một nhà thơ, cách tân là cuộc lột xác nhọc nhằn, thì với độc giả, tiếp nhận những giá trị mới, khác lạ cũng là một hành trình không dễ dàng. Cho nên vượt qua được nỗi sợ sự “khó hiểu”, “khó cảm nhận” rồi thì cả người viết và người đọc đều chạm tới được những giá trị mới trong cảm xúc và nhận thức.
PV: Có ý kiến cho rằng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” trong bài thơ “Con chào mào” là không có thật, không có một con chào mào như vậy trong thiên nhiên. Phải chăng nhà thơ đã từng nhìn thấy con chào mào như vậy? Hay đây chỉ là một sự tưởng tượng phi thực tế?
MVP: Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ. Để có được hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, tôi đã làm bạn với không biết bao nhiêu con chào mào, với nhiều loài chim kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Rồi một hôm nghe như có tiếng con chào mào nào đó hót vang giữa không trung, trong tôi bỗng xuất hiện hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Hình ảnh ấy đã sáng lên trong tưởng tượng của tôi như một ngôi sao, như đốm lửa dẫn dắt tôi đến khi bài thơ kết thúc. Đơn giản là tôi nhận thấy vẻ đẹp đầy sức hút, rực rỡ và tươi mới trong hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Con chào mào đốm trắng mũ đỏ ở đây hay con phượng hoàng lửa trong câu chuyện cổ, con rồng trong văn hoá phương Đông,... vừa thực vừa không thực – như mọi hình tượng thơ. Nó bay và hót để nối liền bầu trời thực và bầu trời tưởng tượng trong đời sống của chúng ta.
PV: Hình như có một nhà thơ đã từng nói rằng khoảng cách giữa ngôn từ và hiện thực là một vực thẳm trong thơ. Điều này có làm cho thơ trở nên khó hiểu và khó đọc hay không?
MVP: Những ai đã từng thử làm một bài thơ đều thấy rằng thể hiện được hiện thực đời sống (bao gồm cả thế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong con người bằng ngôn từ là điều khó khăn, thách thức. Không phải lúc nào người viết cũng tìm được hình thức ngôn từ phù hợp, đắc địa để biểu đạt được ý tưởng, hiện thực đời sống, hiện thực tinh thần. Tìm kiếm và gắn kết được hiện thực và ngôn ngữ thơ ca là một quá trình khổ công của người viết. Quả thực, nếu người viết không tìm được cách thể hiện hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn thì việc làm thơ còn khó khăn hơn vượt qua một vực thẳm. Việc giảm bớt sự ngăn cách của “vực thẳm” kia hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, vào quan niệm của người viết. Theo tôi, vươn tới sự giản dị, vận dụng tối đa cách nói đời thường cũng là một trong những thủ pháp làm cho thơ hiện đại đến gần hơn với người đọc. Vấn đề còn nằm ở sự tiếp nhận của người đọc nữa. Vì thế, rất cần sự đồng điệu, sáng tạo, thậm chí là đột phá của người đọc trong tiếp nhận thơ ca.
PV: Vậy theo nhà thơ, điều gì mới là thật nhất trong thơ? Cụ thể là trong bài thơ “Con chào mào”..
MVP: Trong sáng tạo thơ ca, ngoài chiều sâu văn hoá và bút pháp vững vàng, điều quan trọng nhất với nhà thơ là nguồn cảm hứng mãnh liệt, xuyên suốt trong khi viết. Cảm xúc chi phối sự lựa chọn hình tượng, ngôn từ. Cảm xúc là điều thật nhất và tác động mạnh mẽ nhất đến sự thể hiện hình tượng. Cảm xúc dẫn dắt và giúp nhà thơ bộc lộ hết khả năng sáng tạo, khơi lộ được vẻ đẹp tâm hồn mình để dựng lên một hình tượng thơ. Cảm xúc thật thì hình tượng thật, dù hình tượng ấy được thể hiện bằng bút pháp nào. Bài thơ “Con chào mào” của tôi được viết trong trạng thái như vậy. Nó là sự kết tụ vẻ đẹp, sức sống bất diệt của thiên nhiên mà tôi đã được trải nghiệm, và giờ đây càng muốn gìn giữ, bảo vệ. Vì thế, “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, “khung nắng khung gió”, “nhành cây xanh... và cả cái trạng thái “hối hả đuổi theo”. với tôi, đều là thật, đó là tình yêu mà tôi dâng tặng cho thiên nhiên, cho những vẻ đẹp tự do, như nó vốn có, không sở hữu và không thể trói buộc, dù dưới bất kì hình thức nào. Nhưng nó vẫn là trong tôi, vẫn ngân lên như tiếng hót và bay vút trong không gian xanh...
PV: Những điều nhà thơ chia sẻ thật ý nghĩa và thú vị. Qua đó, độc giả nhỏ tuổi hẳn sẽ cảm thấy bài thơ “Con chào mào” gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, các bạn ấy cũng có thể hiểu thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua hình tượng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” để biết trân trọng hơn vẻ đẹp của sự sống, của thiên nhiên quanh ta. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ!
(Theo Hà Ngân, Văn học và Tuổi trẻ, tháng 12/2023)

Mục đích của cuộc phỏng vấn là gì? Những dấu hiệu nào trong văn bản giúp em nhận biết được mục đích của người phỏng vấn?

Xem đáp án

- Mục đích của cuộc phỏng vấn là: giải đáp những băn khoăn, thắc mắc của bạn đọc nhỏ tuổi về hình tượng con chào mào trong bài thơ Con chào mào và từ đó tìm hiểu quan điểm của nhà thơ về vấn đề “Điều gì thật nhất trong thơ?”.

- Những dấu hiệu nào trong văn bản giúp em nhận biết được mục đích của người phỏng vấn là: phần nhan đề và sa-pô.

7. Tự luận
1 điểm

Đọc bài phỏng vấn sau và trả lời câu hỏi:
ĐIỀU GÌ THẬT NHẤT TRONG THƠ?
Một số độc giả nhỏ tuổi của “Văn học và Tuổi trẻ” đã gửi câu hỏi đến ban biên tập toà soạn với mong muốn được kết nối và trao đổi với nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) – tác giả bài thơ “Con chào mào”. Từ những câu hỏi của độc giả, phóng viên (PV) “Văn học và Tuổi trẻ” đã liên hệ và phỏng vấn nhà thơ để đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, thắc mắc: Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì mới là thật nhất trong thơ?...
PV: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, là một tác giả luôn cách tân không mệt mỏi, luôn tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ, có bao giờ ông nghĩ rằng những thay đổi liên tục để tạo nên sự khác biệt ấy khiến cho những bài thơ trở nên khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả?
MVP: Sáng tạo là hành trình đi tìm những giá trị mới cùng những cách thể hiện mới lạ, độc đáo. Hành trình ấy nhằm mở rộng, làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ, đẩy xa hơn nữa đường biên của tưởng tượng, của cảm xúc. Mỗi bài thơ nên là một cuộc lên đường, mở ra hành trình mới. Và, tôi mong mỏi độc giả cũng tiếp nhận tác phẩm thơ bằng tinh thần ấy. Quá trình viết và đọc có thể giao thoa, cũng có thể lệch nhịp. Tuy nhiên, với cả người viết và người đọc, thơ ca tạo cho chúng ta cơ hội phát hiện, khám phá được điều kì diệu, mới mẻ trong một thế giới mà ta tưởng rằng mọi thứ đã trở nên quen thuộc, hoặc nhàm chán. Do vậy, cả người viết và người đọc nên cùng hướng về phía trước, chống lại những thói quen cũ kĩ. Ngay cả với những bài thơ được gọi là truyền thống, là kinh điển, với mỗi người đọc mới, với một lần đọc mới, cũng là một hành trình và thách thức mới. Với một nhà thơ, cách tân là cuộc lột xác nhọc nhằn, thì với độc giả, tiếp nhận những giá trị mới, khác lạ cũng là một hành trình không dễ dàng. Cho nên vượt qua được nỗi sợ sự “khó hiểu”, “khó cảm nhận” rồi thì cả người viết và người đọc đều chạm tới được những giá trị mới trong cảm xúc và nhận thức.
PV: Có ý kiến cho rằng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” trong bài thơ “Con chào mào” là không có thật, không có một con chào mào như vậy trong thiên nhiên. Phải chăng nhà thơ đã từng nhìn thấy con chào mào như vậy? Hay đây chỉ là một sự tưởng tượng phi thực tế?
MVP: Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ. Để có được hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, tôi đã làm bạn với không biết bao nhiêu con chào mào, với nhiều loài chim kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Rồi một hôm nghe như có tiếng con chào mào nào đó hót vang giữa không trung, trong tôi bỗng xuất hiện hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Hình ảnh ấy đã sáng lên trong tưởng tượng của tôi như một ngôi sao, như đốm lửa dẫn dắt tôi đến khi bài thơ kết thúc. Đơn giản là tôi nhận thấy vẻ đẹp đầy sức hút, rực rỡ và tươi mới trong hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Con chào mào đốm trắng mũ đỏ ở đây hay con phượng hoàng lửa trong câu chuyện cổ, con rồng trong văn hoá phương Đông,... vừa thực vừa không thực – như mọi hình tượng thơ. Nó bay và hót để nối liền bầu trời thực và bầu trời tưởng tượng trong đời sống của chúng ta.
PV: Hình như có một nhà thơ đã từng nói rằng khoảng cách giữa ngôn từ và hiện thực là một vực thẳm trong thơ. Điều này có làm cho thơ trở nên khó hiểu và khó đọc hay không?
MVP: Những ai đã từng thử làm một bài thơ đều thấy rằng thể hiện được hiện thực đời sống (bao gồm cả thế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong con người bằng ngôn từ là điều khó khăn, thách thức. Không phải lúc nào người viết cũng tìm được hình thức ngôn từ phù hợp, đắc địa để biểu đạt được ý tưởng, hiện thực đời sống, hiện thực tinh thần. Tìm kiếm và gắn kết được hiện thực và ngôn ngữ thơ ca là một quá trình khổ công của người viết. Quả thực, nếu người viết không tìm được cách thể hiện hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn thì việc làm thơ còn khó khăn hơn vượt qua một vực thẳm. Việc giảm bớt sự ngăn cách của “vực thẳm” kia hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, vào quan niệm của người viết. Theo tôi, vươn tới sự giản dị, vận dụng tối đa cách nói đời thường cũng là một trong những thủ pháp làm cho thơ hiện đại đến gần hơn với người đọc. Vấn đề còn nằm ở sự tiếp nhận của người đọc nữa. Vì thế, rất cần sự đồng điệu, sáng tạo, thậm chí là đột phá của người đọc trong tiếp nhận thơ ca.
PV: Vậy theo nhà thơ, điều gì mới là thật nhất trong thơ? Cụ thể là trong bài thơ “Con chào mào”..
MVP: Trong sáng tạo thơ ca, ngoài chiều sâu văn hoá và bút pháp vững vàng, điều quan trọng nhất với nhà thơ là nguồn cảm hứng mãnh liệt, xuyên suốt trong khi viết. Cảm xúc chi phối sự lựa chọn hình tượng, ngôn từ. Cảm xúc là điều thật nhất và tác động mạnh mẽ nhất đến sự thể hiện hình tượng. Cảm xúc dẫn dắt và giúp nhà thơ bộc lộ hết khả năng sáng tạo, khơi lộ được vẻ đẹp tâm hồn mình để dựng lên một hình tượng thơ. Cảm xúc thật thì hình tượng thật, dù hình tượng ấy được thể hiện bằng bút pháp nào. Bài thơ “Con chào mào” của tôi được viết trong trạng thái như vậy. Nó là sự kết tụ vẻ đẹp, sức sống bất diệt của thiên nhiên mà tôi đã được trải nghiệm, và giờ đây càng muốn gìn giữ, bảo vệ. Vì thế, “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, “khung nắng khung gió”, “nhành cây xanh... và cả cái trạng thái “hối hả đuổi theo”. với tôi, đều là thật, đó là tình yêu mà tôi dâng tặng cho thiên nhiên, cho những vẻ đẹp tự do, như nó vốn có, không sở hữu và không thể trói buộc, dù dưới bất kì hình thức nào. Nhưng nó vẫn là trong tôi, vẫn ngân lên như tiếng hót và bay vút trong không gian xanh...
PV: Những điều nhà thơ chia sẻ thật ý nghĩa và thú vị. Qua đó, độc giả nhỏ tuổi hẳn sẽ cảm thấy bài thơ “Con chào mào” gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, các bạn ấy cũng có thể hiểu thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua hình tượng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” để biết trân trọng hơn vẻ đẹp của sự sống, của thiên nhiên quanh ta. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ!
(Theo Hà Ngân, Văn học và Tuổi trẻ, tháng 12/2023)

Vấn đề chính mà cuộc phỏng vấn đề cập được trình bày tường minh ở phần nào của văn bản?

Xem đáp án

Vấn đề chính mà cuộc phỏng vấn đề cập được trình bày tường minh ở phần nhan đề, sa-pô (khi bài phỏng vấn đã được ghi chép lại và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện phỏng vấn, vấn đề chính mà cuộc phỏng vấn đề cập cần phải hướng tới người được phỏng vấn, do vậy, vấn đề đó trước tiên phải được nêu tường minh trong các câu hỏi phỏng vấn. Câu trả lời của người được phỏng vẫn cũng phải làm rõ cho vấn đề được đề cập.

8. Tự luận
1 điểm

Đọc bài phỏng vấn sau và trả lời câu hỏi:
ĐIỀU GÌ THẬT NHẤT TRONG THƠ?
Một số độc giả nhỏ tuổi của “Văn học và Tuổi trẻ” đã gửi câu hỏi đến ban biên tập toà soạn với mong muốn được kết nối và trao đổi với nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) – tác giả bài thơ “Con chào mào”. Từ những câu hỏi của độc giả, phóng viên (PV) “Văn học và Tuổi trẻ” đã liên hệ và phỏng vấn nhà thơ để đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, thắc mắc: Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì mới là thật nhất trong thơ?...
PV: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, là một tác giả luôn cách tân không mệt mỏi, luôn tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ, có bao giờ ông nghĩ rằng những thay đổi liên tục để tạo nên sự khác biệt ấy khiến cho những bài thơ trở nên khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả?
MVP: Sáng tạo là hành trình đi tìm những giá trị mới cùng những cách thể hiện mới lạ, độc đáo. Hành trình ấy nhằm mở rộng, làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ, đẩy xa hơn nữa đường biên của tưởng tượng, của cảm xúc. Mỗi bài thơ nên là một cuộc lên đường, mở ra hành trình mới. Và, tôi mong mỏi độc giả cũng tiếp nhận tác phẩm thơ bằng tinh thần ấy. Quá trình viết và đọc có thể giao thoa, cũng có thể lệch nhịp. Tuy nhiên, với cả người viết và người đọc, thơ ca tạo cho chúng ta cơ hội phát hiện, khám phá được điều kì diệu, mới mẻ trong một thế giới mà ta tưởng rằng mọi thứ đã trở nên quen thuộc, hoặc nhàm chán. Do vậy, cả người viết và người đọc nên cùng hướng về phía trước, chống lại những thói quen cũ kĩ. Ngay cả với những bài thơ được gọi là truyền thống, là kinh điển, với mỗi người đọc mới, với một lần đọc mới, cũng là một hành trình và thách thức mới. Với một nhà thơ, cách tân là cuộc lột xác nhọc nhằn, thì với độc giả, tiếp nhận những giá trị mới, khác lạ cũng là một hành trình không dễ dàng. Cho nên vượt qua được nỗi sợ sự “khó hiểu”, “khó cảm nhận” rồi thì cả người viết và người đọc đều chạm tới được những giá trị mới trong cảm xúc và nhận thức.
PV: Có ý kiến cho rằng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” trong bài thơ “Con chào mào” là không có thật, không có một con chào mào như vậy trong thiên nhiên. Phải chăng nhà thơ đã từng nhìn thấy con chào mào như vậy? Hay đây chỉ là một sự tưởng tượng phi thực tế?
MVP: Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ. Để có được hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, tôi đã làm bạn với không biết bao nhiêu con chào mào, với nhiều loài chim kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Rồi một hôm nghe như có tiếng con chào mào nào đó hót vang giữa không trung, trong tôi bỗng xuất hiện hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Hình ảnh ấy đã sáng lên trong tưởng tượng của tôi như một ngôi sao, như đốm lửa dẫn dắt tôi đến khi bài thơ kết thúc. Đơn giản là tôi nhận thấy vẻ đẹp đầy sức hút, rực rỡ và tươi mới trong hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Con chào mào đốm trắng mũ đỏ ở đây hay con phượng hoàng lửa trong câu chuyện cổ, con rồng trong văn hoá phương Đông,... vừa thực vừa không thực – như mọi hình tượng thơ. Nó bay và hót để nối liền bầu trời thực và bầu trời tưởng tượng trong đời sống của chúng ta.
PV: Hình như có một nhà thơ đã từng nói rằng khoảng cách giữa ngôn từ và hiện thực là một vực thẳm trong thơ. Điều này có làm cho thơ trở nên khó hiểu và khó đọc hay không?
MVP: Những ai đã từng thử làm một bài thơ đều thấy rằng thể hiện được hiện thực đời sống (bao gồm cả thế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong con người bằng ngôn từ là điều khó khăn, thách thức. Không phải lúc nào người viết cũng tìm được hình thức ngôn từ phù hợp, đắc địa để biểu đạt được ý tưởng, hiện thực đời sống, hiện thực tinh thần. Tìm kiếm và gắn kết được hiện thực và ngôn ngữ thơ ca là một quá trình khổ công của người viết. Quả thực, nếu người viết không tìm được cách thể hiện hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn thì việc làm thơ còn khó khăn hơn vượt qua một vực thẳm. Việc giảm bớt sự ngăn cách của “vực thẳm” kia hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, vào quan niệm của người viết. Theo tôi, vươn tới sự giản dị, vận dụng tối đa cách nói đời thường cũng là một trong những thủ pháp làm cho thơ hiện đại đến gần hơn với người đọc. Vấn đề còn nằm ở sự tiếp nhận của người đọc nữa. Vì thế, rất cần sự đồng điệu, sáng tạo, thậm chí là đột phá của người đọc trong tiếp nhận thơ ca.
PV: Vậy theo nhà thơ, điều gì mới là thật nhất trong thơ? Cụ thể là trong bài thơ “Con chào mào”..
MVP: Trong sáng tạo thơ ca, ngoài chiều sâu văn hoá và bút pháp vững vàng, điều quan trọng nhất với nhà thơ là nguồn cảm hứng mãnh liệt, xuyên suốt trong khi viết. Cảm xúc chi phối sự lựa chọn hình tượng, ngôn từ. Cảm xúc là điều thật nhất và tác động mạnh mẽ nhất đến sự thể hiện hình tượng. Cảm xúc dẫn dắt và giúp nhà thơ bộc lộ hết khả năng sáng tạo, khơi lộ được vẻ đẹp tâm hồn mình để dựng lên một hình tượng thơ. Cảm xúc thật thì hình tượng thật, dù hình tượng ấy được thể hiện bằng bút pháp nào. Bài thơ “Con chào mào” của tôi được viết trong trạng thái như vậy. Nó là sự kết tụ vẻ đẹp, sức sống bất diệt của thiên nhiên mà tôi đã được trải nghiệm, và giờ đây càng muốn gìn giữ, bảo vệ. Vì thế, “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, “khung nắng khung gió”, “nhành cây xanh... và cả cái trạng thái “hối hả đuổi theo”. với tôi, đều là thật, đó là tình yêu mà tôi dâng tặng cho thiên nhiên, cho những vẻ đẹp tự do, như nó vốn có, không sở hữu và không thể trói buộc, dù dưới bất kì hình thức nào. Nhưng nó vẫn là trong tôi, vẫn ngân lên như tiếng hót và bay vút trong không gian xanh...
PV: Những điều nhà thơ chia sẻ thật ý nghĩa và thú vị. Qua đó, độc giả nhỏ tuổi hẳn sẽ cảm thấy bài thơ “Con chào mào” gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, các bạn ấy cũng có thể hiểu thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua hình tượng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” để biết trân trọng hơn vẻ đẹp của sự sống, của thiên nhiên quanh ta. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ!
(Theo Hà Ngân, Văn học và Tuổi trẻ, tháng 12/2023)

Hệ thống câu hỏi mà người phỏng vấn nêu ra có mối quan hệ như thế nào với mục đích và vấn đề chính của cuộc phỏng vấn?

Xem đáp án

Hệ thống câu hỏi trong cuộc phỏng vấn cần liên quan trực tiếp đến vấn đề đã nêu và cụ thể hoá cho vấn đề đó, nhằm giúp người được phỏng vấn tìm được câu trả lời chứa thông tin tương thích, phù hợp.

Cụ thể, trong cuộc phỏng vấn này, vấn đề “Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì là thật nhất trong thơ?” được triển khai thành 4 câu hỏi với nội dung và vai trò cụ thể như sau:

– Câu hỏi thứ nhất: Phóng viên mở đầu và dẫn vào vấn đề chính từ một quy luật chung thường gặp trong quá trình đọc, cảm nhận thơ nói riêng và văn học nói chung: Những điều mới lạ (ngôn ngữ, hình ảnh) trong thơ (như bài Con chào mào của Mai Văn Phấn hoặc những cách tân khác của nhà thơ) liệu có làm cho người đọc khó hiểu, khó cảm nhận?

– Câu hỏi thứ hai: Nêu trực tiếp vấn đề “Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không?” nhưng có sự dẫn dắt và diễn giải cụ thể từng bước để gợi câu trả lời tương thích.

– Câu hỏi thứ ba: Phát triển và liên kết vấn đề: từ hình tượng con chào mào đến vấn đề ngôn ngữ và hiện thực, hiện thực và tưởng tượng trong thơ. Phải có câu hỏi thứ ba thì người phỏng vấn mới dẫn dắt được đến câu hỏi cuối cùng, đề cập trực tiếp vấn đề quan trọng nhất: Điều gì là thật nhất trong thơ?

– Câu hỏi cuối cùng: Hướng thẳng tới vấn đề chính và kết nối giữa vấn đề cụ thể là hình tượng con chào mào trong bài thơ Con chào mào của Mai Văn Phấn với vấn đề mang tính khái quát là đặc điểm của cảm xúc và hình tượng trong thơ nói chung.

9. Tự luận
1 điểm

Đọc bài phỏng vấn sau và trả lời câu hỏi:
ĐIỀU GÌ THẬT NHẤT TRONG THƠ?
Một số độc giả nhỏ tuổi của “Văn học và Tuổi trẻ” đã gửi câu hỏi đến ban biên tập toà soạn với mong muốn được kết nối và trao đổi với nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) – tác giả bài thơ “Con chào mào”. Từ những câu hỏi của độc giả, phóng viên (PV) “Văn học và Tuổi trẻ” đã liên hệ và phỏng vấn nhà thơ để đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, thắc mắc: Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì mới là thật nhất trong thơ?...
PV: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, là một tác giả luôn cách tân không mệt mỏi, luôn tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ, có bao giờ ông nghĩ rằng những thay đổi liên tục để tạo nên sự khác biệt ấy khiến cho những bài thơ trở nên khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả?
MVP: Sáng tạo là hành trình đi tìm những giá trị mới cùng những cách thể hiện mới lạ, độc đáo. Hành trình ấy nhằm mở rộng, làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ, đẩy xa hơn nữa đường biên của tưởng tượng, của cảm xúc. Mỗi bài thơ nên là một cuộc lên đường, mở ra hành trình mới. Và, tôi mong mỏi độc giả cũng tiếp nhận tác phẩm thơ bằng tinh thần ấy. Quá trình viết và đọc có thể giao thoa, cũng có thể lệch nhịp. Tuy nhiên, với cả người viết và người đọc, thơ ca tạo cho chúng ta cơ hội phát hiện, khám phá được điều kì diệu, mới mẻ trong một thế giới mà ta tưởng rằng mọi thứ đã trở nên quen thuộc, hoặc nhàm chán. Do vậy, cả người viết và người đọc nên cùng hướng về phía trước, chống lại những thói quen cũ kĩ. Ngay cả với những bài thơ được gọi là truyền thống, là kinh điển, với mỗi người đọc mới, với một lần đọc mới, cũng là một hành trình và thách thức mới. Với một nhà thơ, cách tân là cuộc lột xác nhọc nhằn, thì với độc giả, tiếp nhận những giá trị mới, khác lạ cũng là một hành trình không dễ dàng. Cho nên vượt qua được nỗi sợ sự “khó hiểu”, “khó cảm nhận” rồi thì cả người viết và người đọc đều chạm tới được những giá trị mới trong cảm xúc và nhận thức.
PV: Có ý kiến cho rằng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” trong bài thơ “Con chào mào” là không có thật, không có một con chào mào như vậy trong thiên nhiên. Phải chăng nhà thơ đã từng nhìn thấy con chào mào như vậy? Hay đây chỉ là một sự tưởng tượng phi thực tế?
MVP: Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ. Để có được hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, tôi đã làm bạn với không biết bao nhiêu con chào mào, với nhiều loài chim kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Rồi một hôm nghe như có tiếng con chào mào nào đó hót vang giữa không trung, trong tôi bỗng xuất hiện hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Hình ảnh ấy đã sáng lên trong tưởng tượng của tôi như một ngôi sao, như đốm lửa dẫn dắt tôi đến khi bài thơ kết thúc. Đơn giản là tôi nhận thấy vẻ đẹp đầy sức hút, rực rỡ và tươi mới trong hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Con chào mào đốm trắng mũ đỏ ở đây hay con phượng hoàng lửa trong câu chuyện cổ, con rồng trong văn hoá phương Đông,... vừa thực vừa không thực – như mọi hình tượng thơ. Nó bay và hót để nối liền bầu trời thực và bầu trời tưởng tượng trong đời sống của chúng ta.
PV: Hình như có một nhà thơ đã từng nói rằng khoảng cách giữa ngôn từ và hiện thực là một vực thẳm trong thơ. Điều này có làm cho thơ trở nên khó hiểu và khó đọc hay không?
MVP: Những ai đã từng thử làm một bài thơ đều thấy rằng thể hiện được hiện thực đời sống (bao gồm cả thế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong con người bằng ngôn từ là điều khó khăn, thách thức. Không phải lúc nào người viết cũng tìm được hình thức ngôn từ phù hợp, đắc địa để biểu đạt được ý tưởng, hiện thực đời sống, hiện thực tinh thần. Tìm kiếm và gắn kết được hiện thực và ngôn ngữ thơ ca là một quá trình khổ công của người viết. Quả thực, nếu người viết không tìm được cách thể hiện hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn thì việc làm thơ còn khó khăn hơn vượt qua một vực thẳm. Việc giảm bớt sự ngăn cách của “vực thẳm” kia hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, vào quan niệm của người viết. Theo tôi, vươn tới sự giản dị, vận dụng tối đa cách nói đời thường cũng là một trong những thủ pháp làm cho thơ hiện đại đến gần hơn với người đọc. Vấn đề còn nằm ở sự tiếp nhận của người đọc nữa. Vì thế, rất cần sự đồng điệu, sáng tạo, thậm chí là đột phá của người đọc trong tiếp nhận thơ ca.
PV: Vậy theo nhà thơ, điều gì mới là thật nhất trong thơ? Cụ thể là trong bài thơ “Con chào mào”..
MVP: Trong sáng tạo thơ ca, ngoài chiều sâu văn hoá và bút pháp vững vàng, điều quan trọng nhất với nhà thơ là nguồn cảm hứng mãnh liệt, xuyên suốt trong khi viết. Cảm xúc chi phối sự lựa chọn hình tượng, ngôn từ. Cảm xúc là điều thật nhất và tác động mạnh mẽ nhất đến sự thể hiện hình tượng. Cảm xúc dẫn dắt và giúp nhà thơ bộc lộ hết khả năng sáng tạo, khơi lộ được vẻ đẹp tâm hồn mình để dựng lên một hình tượng thơ. Cảm xúc thật thì hình tượng thật, dù hình tượng ấy được thể hiện bằng bút pháp nào. Bài thơ “Con chào mào” của tôi được viết trong trạng thái như vậy. Nó là sự kết tụ vẻ đẹp, sức sống bất diệt của thiên nhiên mà tôi đã được trải nghiệm, và giờ đây càng muốn gìn giữ, bảo vệ. Vì thế, “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, “khung nắng khung gió”, “nhành cây xanh... và cả cái trạng thái “hối hả đuổi theo”. với tôi, đều là thật, đó là tình yêu mà tôi dâng tặng cho thiên nhiên, cho những vẻ đẹp tự do, như nó vốn có, không sở hữu và không thể trói buộc, dù dưới bất kì hình thức nào. Nhưng nó vẫn là trong tôi, vẫn ngân lên như tiếng hót và bay vút trong không gian xanh...
PV: Những điều nhà thơ chia sẻ thật ý nghĩa và thú vị. Qua đó, độc giả nhỏ tuổi hẳn sẽ cảm thấy bài thơ “Con chào mào” gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, các bạn ấy cũng có thể hiểu thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua hình tượng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” để biết trân trọng hơn vẻ đẹp của sự sống, của thiên nhiên quanh ta. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ!
(Theo Hà Ngân, Văn học và Tuổi trẻ, tháng 12/2023)

Câu trả lời của người được phỏng vấn có quan hệ như thế nào với vấn đề được nêu trong câu hỏi?

Xem đáp án

Câu trả lời cần phù hợp với vấn đề được nêu trong câu hỏi, hướng thẳng tới việc làm rõ những thông tin cần giải đáp. Đây cũng là yêu cầu quan trọng đối với câu trả lời của người được phỏng vấn nói chung.

10. Tự luận
1 điểm

Đọc bài phỏng vấn sau và trả lời câu hỏi:
ĐIỀU GÌ THẬT NHẤT TRONG THƠ?
Một số độc giả nhỏ tuổi của “Văn học và Tuổi trẻ” đã gửi câu hỏi đến ban biên tập toà soạn với mong muốn được kết nối và trao đổi với nhà thơ Mai Văn Phấn (MVP) – tác giả bài thơ “Con chào mào”. Từ những câu hỏi của độc giả, phóng viên (PV) “Văn học và Tuổi trẻ” đã liên hệ và phỏng vấn nhà thơ để đi tìm câu trả lời cho những băn khoăn, thắc mắc: Liệu có một “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” thật không? Và điều gì mới là thật nhất trong thơ?...
PV: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, là một tác giả luôn cách tân không mệt mỏi, luôn tìm kiếm những điều mới lạ trong thơ, có bao giờ ông nghĩ rằng những thay đổi liên tục để tạo nên sự khác biệt ấy khiến cho những bài thơ trở nên khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả?
MVP: Sáng tạo là hành trình đi tìm những giá trị mới cùng những cách thể hiện mới lạ, độc đáo. Hành trình ấy nhằm mở rộng, làm phong phú thêm thế giới nghệ thuật thơ, đẩy xa hơn nữa đường biên của tưởng tượng, của cảm xúc. Mỗi bài thơ nên là một cuộc lên đường, mở ra hành trình mới. Và, tôi mong mỏi độc giả cũng tiếp nhận tác phẩm thơ bằng tinh thần ấy. Quá trình viết và đọc có thể giao thoa, cũng có thể lệch nhịp. Tuy nhiên, với cả người viết và người đọc, thơ ca tạo cho chúng ta cơ hội phát hiện, khám phá được điều kì diệu, mới mẻ trong một thế giới mà ta tưởng rằng mọi thứ đã trở nên quen thuộc, hoặc nhàm chán. Do vậy, cả người viết và người đọc nên cùng hướng về phía trước, chống lại những thói quen cũ kĩ. Ngay cả với những bài thơ được gọi là truyền thống, là kinh điển, với mỗi người đọc mới, với một lần đọc mới, cũng là một hành trình và thách thức mới. Với một nhà thơ, cách tân là cuộc lột xác nhọc nhằn, thì với độc giả, tiếp nhận những giá trị mới, khác lạ cũng là một hành trình không dễ dàng. Cho nên vượt qua được nỗi sợ sự “khó hiểu”, “khó cảm nhận” rồi thì cả người viết và người đọc đều chạm tới được những giá trị mới trong cảm xúc và nhận thức.
PV: Có ý kiến cho rằng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” trong bài thơ “Con chào mào” là không có thật, không có một con chào mào như vậy trong thiên nhiên. Phải chăng nhà thơ đã từng nhìn thấy con chào mào như vậy? Hay đây chỉ là một sự tưởng tượng phi thực tế?
MVP: Nếu ví thơ như cái cây thì rễ của nó nhất định phải bám vào đất mẹ – mảnh đất của hiện thực đời sống. Cái cây kia sống nhờ đất mà đơm hoa kết trái, hoa trái lại mang hình hài, sứ mệnh và giá trị của riêng nó. Thơ ca cũng tương tự như vậy, nó không sao chép, mô phỏng đời sống mà thăng hoa, phát sáng từ hiện thực bằng nghệ thuật ngôn từ. Để có được hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, tôi đã làm bạn với không biết bao nhiêu con chào mào, với nhiều loài chim kể từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Rồi một hôm nghe như có tiếng con chào mào nào đó hót vang giữa không trung, trong tôi bỗng xuất hiện hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Hình ảnh ấy đã sáng lên trong tưởng tượng của tôi như một ngôi sao, như đốm lửa dẫn dắt tôi đến khi bài thơ kết thúc. Đơn giản là tôi nhận thấy vẻ đẹp đầy sức hút, rực rỡ và tươi mới trong hình ảnh “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”. Con chào mào đốm trắng mũ đỏ ở đây hay con phượng hoàng lửa trong câu chuyện cổ, con rồng trong văn hoá phương Đông,... vừa thực vừa không thực – như mọi hình tượng thơ. Nó bay và hót để nối liền bầu trời thực và bầu trời tưởng tượng trong đời sống của chúng ta.
PV: Hình như có một nhà thơ đã từng nói rằng khoảng cách giữa ngôn từ và hiện thực là một vực thẳm trong thơ. Điều này có làm cho thơ trở nên khó hiểu và khó đọc hay không?
MVP: Những ai đã từng thử làm một bài thơ đều thấy rằng thể hiện được hiện thực đời sống (bao gồm cả thế giới bên ngoài và thế giới tâm hồn bên trong con người bằng ngôn từ là điều khó khăn, thách thức. Không phải lúc nào người viết cũng tìm được hình thức ngôn từ phù hợp, đắc địa để biểu đạt được ý tưởng, hiện thực đời sống, hiện thực tinh thần. Tìm kiếm và gắn kết được hiện thực và ngôn ngữ thơ ca là một quá trình khổ công của người viết. Quả thực, nếu người viết không tìm được cách thể hiện hiện thực đời sống, hiện thực tâm hồn thì việc làm thơ còn khó khăn hơn vượt qua một vực thẳm. Việc giảm bớt sự ngăn cách của “vực thẳm” kia hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng, vào quan niệm của người viết. Theo tôi, vươn tới sự giản dị, vận dụng tối đa cách nói đời thường cũng là một trong những thủ pháp làm cho thơ hiện đại đến gần hơn với người đọc. Vấn đề còn nằm ở sự tiếp nhận của người đọc nữa. Vì thế, rất cần sự đồng điệu, sáng tạo, thậm chí là đột phá của người đọc trong tiếp nhận thơ ca.
PV: Vậy theo nhà thơ, điều gì mới là thật nhất trong thơ? Cụ thể là trong bài thơ “Con chào mào”..
MVP: Trong sáng tạo thơ ca, ngoài chiều sâu văn hoá và bút pháp vững vàng, điều quan trọng nhất với nhà thơ là nguồn cảm hứng mãnh liệt, xuyên suốt trong khi viết. Cảm xúc chi phối sự lựa chọn hình tượng, ngôn từ. Cảm xúc là điều thật nhất và tác động mạnh mẽ nhất đến sự thể hiện hình tượng. Cảm xúc dẫn dắt và giúp nhà thơ bộc lộ hết khả năng sáng tạo, khơi lộ được vẻ đẹp tâm hồn mình để dựng lên một hình tượng thơ. Cảm xúc thật thì hình tượng thật, dù hình tượng ấy được thể hiện bằng bút pháp nào. Bài thơ “Con chào mào” của tôi được viết trong trạng thái như vậy. Nó là sự kết tụ vẻ đẹp, sức sống bất diệt của thiên nhiên mà tôi đã được trải nghiệm, và giờ đây càng muốn gìn giữ, bảo vệ. Vì thế, “con chào mào đốm trắng mũ đỏ”, “khung nắng khung gió”, “nhành cây xanh... và cả cái trạng thái “hối hả đuổi theo”. với tôi, đều là thật, đó là tình yêu mà tôi dâng tặng cho thiên nhiên, cho những vẻ đẹp tự do, như nó vốn có, không sở hữu và không thể trói buộc, dù dưới bất kì hình thức nào. Nhưng nó vẫn là trong tôi, vẫn ngân lên như tiếng hót và bay vút trong không gian xanh...
PV: Những điều nhà thơ chia sẻ thật ý nghĩa và thú vị. Qua đó, độc giả nhỏ tuổi hẳn sẽ cảm thấy bài thơ “Con chào mào” gần gũi, dễ tiếp nhận hơn. Đồng thời, các bạn ấy cũng có thể hiểu thông điệp mà nhà thơ gửi gắm qua hình tượng “con chào mào đốm trắng mũ đỏ” để biết trân trọng hơn vẻ đẹp của sự sống, của thiên nhiên quanh ta. Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ!
(Theo Hà Ngân, Văn học và Tuổi trẻ, tháng 12/2023)

Những yếu tố ngôn ngữ nào thể hiện phép lịch sự và ý thức tôn trọng nguy được phỏng vấn trong cách mở đầu, triển khai và kết thúc cuộc phỏng vấn

Xem đáp án

Để thực hiện được mục đích của cuộc phỏng vấn, ngoài những câu hỏi nếu vấn đề, triển khai vấn đề, những yếu tố ngôn ngữ thể hiện phép lịch sự và ý thức tôn trọng người được phỏng vấn khi bắt đầu, triển khai và kết thúc cuộc phỏng vấn là rất quan trọng, giúp cho cuộc phỏng vấn thành công. Trong cuộc phỏng vấn này, có thể xác định các yếu tố ngôn ngữ đó là:

– Sử dụng cách thưa gửi lịch sự ở phần mở đầu cuộc phỏng vấn: Thưa nhà thơ Mai Văn Phấn, vậy theo nhà thơ,...

– Sử dụng thành phần tình thái khi đặt câu hỏi khiến câu hỏi trở nên uyển chuyển và không mang tính chất áp đặt: có bao giờ ông nghĩ rằng... phải chăng…, hình như...

– Sử dụng lời khen, lời cảm ơn một cách phù hợp khi kết thúc cuộc phỏng vấn.

11. Tự luận
1 điểm

Trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn, em đã đọc, tìm hiểu những tác phẩm văn học kinh điển yêu thích. Hãy viết bài quảng cáo về một cuốn sách văn học mà em cho là cần quảng bá và chia sẻ với độc giả dưới hình thức văn bản đa phương thức.

Xem đáp án

* Tham khảo:

Tắt Đèn là truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Ngô Tất Tố. Vào những năm 1940, ông còn là một nhà Nho học, dịch giả, nhà báo và nhà nghiên cứu có tầm ảnh hưởng lớn ở Việt Nam. Các tác phẩm của Ngô Tất Tố đều mang màu sắc hiện thực sâu sắc. Đó là những truyện ngắn mang đầy trăn trở và xúc động, một nhận thức toàn diện và sâu sắc về cảnh ngộ và số phận của người nông dân Việt Nam.

Người ta nói rằng Tắt Đèn chính là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách viết nhà văn Ngô Tất Tố. Đó là một thiên tiểu thuyết khiến người đọc có thể nhiều phen ứa nước mắt bởi sự xúc động vô cùng.

Bên cạnh Tắt Đèn, tác giả cũng đã còn để lại cho nền văn học Việt Nam rất nhiều truyện ngắn xuất sắc khác như: Tập Án Cái Đình, Việc Làng, Lều Chõng,..

Trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn, em đã đọc, tìm hiểu những tác phẩm văn học kinh điển yêu thích. Hãy viết bài quảng cáo về một cuốn sách văn học mà em cho là cần quảng bá và chia sẻ với độc giả dưới hình thức văn bản đa phương thức. (ảnh 1)

Nội dung của truyện Tắt Đèn Ngô Tất Tố

Tắt Đèn kể về cuộc đời của chị Dậu - cô gái sinh ra trong gia đình trung lưu, đẹp người lại còn tháo vát, giỏi giang. Ban đầu, gia cảnh anh chị Dậu cũng có phần dư giả nhưng bất hạnh thay khi em trai và mẹ chồng liền lúc qua đời. Cả hai người đã cố gắng tiết kiệm nhưng tiền cho đám ma vẫn phải chi quá nhiều.Không lâu sau, anh Dậu mắc bệnh sốt rét nên không làm được gì, gánh nặng của mấy miệng ăn liền đổ dồn lên vai chị Dậu. Nhà chị Dậu, từ một gia đình trung lưu, lâm vào cảnh nghèo nhất nhì của hạng cùng đinh.Chị Dậu khi mùa sưu đến, phải chạy vạy khắp nơi để lo nộp tiền cho chồng. Anh Dậu dù ốm thập tử nhất sinh cũng vẫn bị bọn cai lệ lôi ra đình làng cùm kẹp, giam giữ. Bọn chúng còn bắt chị Dậu phải nộp cả tiền sưu cho người em trai đã mất, với lý do người mất ở năm ta nhưng lịch tây thì đã sang năm mới rồi. Cay đắng thay, chị Dậu phải bán đi cái Tí - Một đứa con gái ngoan ngoãn chỉ mới 7 tuổi chị dứt ruột đẻ ra mà vẫn không đủ để nộp sưu. Quá uất ức, chị Dậu đã đánh cả người nhà lý trưởng và cai lệ rồi bị giải lên quan. Tên quan huyện định ra tay sàm sỡ chị khiến cho chị Dậu đã vứt thẳng nắm bạc vào mặt hắn rồi bỏ chạy. Chị may mắn gặp được người nhà quan cụ trên tỉnh rồi được người đó cho 2 đồng để nộp nốt tiền sưu.Người ta hứa hẹn cho chị Dậu công việc hàng ngày là vắt sữa để cho quan cụ uống vì cụ không ăn được cơm do đã rụng hết răng. Sau khi bàn với chồng, chị quyết định gửi cái Tỉu cho hàng xóm làm con nuôi để lên tỉnh làm việc.Thời gian đầu, chị Dậu làm được tiền và gửi về cho anh Dậu. Nhưng khốn nạn thay, quan cụ đã rụng hết răng vào một đêm tối đã mò vào buồng định giở trò đồi bại với chị. Kết thúc câu truyện là dòng văn “Chị vùng chạy ra ngoài giữa lúc trời tối đen như mực, đen như chính cái tiền đồ của chị vậy.”

Giá trị hiện thực trong tiểu thuyết Tắt Đèn của Ngô Tất Tố

Tắt Đèn đã vô cùng xuất sắc khi đã lột trần bộ mặt của thực dân Pháp - Những con quỷ hút máu người. Chúng ức hiếp, đè nén dân lành, là lũ đầu trâu mặt ngựa chuyên ăn thịt người không biết mùi tanh.Trong xã hội này, người dân liên tục bị dồn vào bước đường cùng. Người nông dân nghèo khổ phải đau lòng, ngậm đắng nuốt cay bán đi đứa con dứt ruột đẻ ra mà vẫn bị người ta đối xử không bằng con chó nuôi trong nhà.

Giá trị nhân đạo của truyện Tắt Đèn

Hiện thực càng đen tối bao nhiêu thì lòng người sẽ càng sáng rõ. Tác phẩm đã miêu tả hình tượng người phụ nữ trong xã hội đương thời vô cùng xuất sắc. Chị chỉ lẳng lặng làm mà chưa bao giờ mưu cầu thứ gì cho bản thân.Khi bị dồn vào bước đường cùng, chị Dậu vẫn như ngọn đèn không tắt, tỏa ra những phẩm chất tuyệt vời, cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Đó chính là thương chồng, yêu con, quyết không đầu hàng trước nanh vuốt bọn ác bá, hùng cường và dám đấu tranh cho số phận.Chị quyết không để bản thân bị vấy bẩn bởi đồng tiền ti tiện của cái lũ đầu trâu mặt ngựa. Trong chế độ thực dân Pháp, chị chính là bông sen kiên cường vươn lên giữa bùn đen.

Đọc Tắt Đèn, chúng ta còn thương yêu biết mấy những đứa trẻ ngoan ngoãn, biết giúp mẹ làm việc nhà, trông em. Mới 7 tuổi mà đã phải xa mẹ để lo cho các em., cho bố. Nhưng càng cảm mến thì càng căm giận, càng yêu thì lại càng xót hơn.

Đánh giá về truyện Tắt Đèn

Truyện ngắn Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố được xem là tác phẩm kinh điển, là niềm tự hào của nền văn học Việt Nam. Ngòi bút sắc sảo và tài tình của nhà văn như lưỡi dao sắc nhọn cứa vào hiện thực. Dù đã trôi qua 80 năm, nhưng khi đọc những câu văn của Ngô Tất Tố, độc giả vẫn nghe như văng vẳng đâu đây tiếng trống thúc sưu, thúc thuế.

Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố thành công đến mức, cụm từ “chị Dậu” đã được hình tượng hóa và dùng để chỉ những gia đình hoặc con người bần hàn, nghèo khổ, cơ cực hơn mặt bằng chung của xã hội. Đồng thời, thể hiện được nỗi ám ảnh về sự nghèo đói, day dứt trong suốt gần một thế kỷ. Cuốn sách không chỉ vạch trần được bộ mặt ghê tởm của chế độ thực dân nửa phong kiến xưa mà còn giúp độc giả cảm nhận được tình người cao quý dù ở trong hoàn cảnh lầm than.

12. Tự luận
1 điểm

Trong dự án Văn học – lịch sử tâm hồn, có những tác phẩm văn học đã gợi cho em cảm hứng sáng tạo, khiến em không chỉ là một độc giả tiếp nhận tác phẩm mà còn muốn trở thành một “độc giả đặc biệt” – thể hiện cảm nhận về tác phẩm đã đọc dưới hình thức một sáng tác văn học. Chọn một tác phẩm yêu thích và thể hiện cảm nhận của em trong vai trò “độc giả đặc biệt” đó.

Xem đáp án

* Tham khảo:

Bài thơ Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua. Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những giây phút thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp cua thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ - chiến sĩ là Bác.

Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Trong đêm khuya thanh vắng, dường như tất cả các âm thanh khác đều lặng chìm đi để bật lên tiếng suối róc rách, văng vẳng như một tiếng hát trong trẻo, du dương. Tiếng suối làm cho không gian vỗn tĩnh lặng lại càng thêm tĩnh lặng. Nhịp thơ ¾ ngắt ở từ trong sau đó là nốt lặng giống như thời gian suy ngẫm, liên tưởng để rồi đi đến hình ảnh so sánh thật đẹp:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa.

Ánh trăng bao phủ lên mặt đất, trùm lên tán cây cổ thụ. Ánh trăng chiếu vào cành lá, lấp lánh ánh sáng huyền ảo. Bóng trăng và bóng cây quấn quýt, lồng vào từng khóm hoa rồi in lên mặt đất đẫm sương:

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

Khung cảnh thiên nhiên có xa, có gần. Xa là tiếng suối, gần là bóng trăng, bóng cây, bóng hoa hòa quyện, lung linh. Sắc màu của bức tranh chỉ có trắng và đen. Màu trắng bạc của ánh trăng, màu đen sẫm của tàn cây, bóng cây, bóng lá. Nhưng duwois gam màu tưởng chừng lạnh lẽo ấy lại ẩn chứa một sức sống âm thầm, rạo rực của thiên nhiên. Hòa với âm thanh của tiếng suối có ánh trăng rời rợi, có bóng cổ thụ, bóng hoa... Tất cả giao hòa nhịp nhàng, tạo nên tinh điệu êm đềm, dẫn dắt hồn người vào cõi mộng.

Nếu ở hai câu đầu là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau là tâm trạng của Bác trước thời cuộc:

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ,

Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, Bác đã sung sướng thốt lên lời ca ngợi: cảnh khuya như vẽ. Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nghệ sĩ nhạy cảm của Bác và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Ngủ làm sao được trước đêm lành trăng đẹp như đêm nay?! Thao thức là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở, xao xuyến không nguôi trong tâm hồn Bác trước cái đẹp.

Còn lí do nữa không thể không nói đến. Bác viết thật giản dị: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Vậy là đã rõ. Ở câu thơ trên, Bác chưa ngủ vì tâm hồn nghệ sĩ xao xuyến trước cảnh đẹp. Vòn ở câu dưới, Bac chưa ngủ vì nghĩ đến trác nhiệm nặng nề của một lãnh tụ cách mạng đang Hai vai gánh vác việc sơn hà.

Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào. Bác cũng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân, nước. Nỗi niềm ấy hội tụ mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người. Tuy Bác lặng lẽ ngắm cảnh thiên nhiên và phát hiện ra những nét đẹp tuyệt vời nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng tới nước nhà. Đang từ trạng thái say mê chuyển sang lo lắng, tưởng chừng như phi loogic nhưng thục ra điều này lại gắn bó khăng khít với nhau. Cảnh gợi tình và tình không bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà mở rộng tới tình dân, tình nước, bởi Bác đang ở cương vị một lãnh tụ Cách mạng với trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề.

Bác không giấu nỗi lo mà nói đến nó rất tự nhiên. Ánh trăng vằng vặc và Tiếng suối trong như tiếng hát xa không làm quên đi nỗi đau nô lệ của nhân dân và trách nhiệm đem lại độc lập cho đất nước của Bác. Ngược lại, chính cảnh thiên nhiên đẹp đẽ đầy sức sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyết tâm cứu nước cứu dân của Bác. Non sông đất nước đẹp như gấm như hoa này không thể nào rơi vào tay quân xâm lược. Câu thơ cuối cùng chất chứa cảm xúc thật miên mông, sâu sắc. Hồn người lắng sâu vào hồn cảnh vật và cái sâu lắng của cảnh vật tôn thêm nét sâu lắng của hồn người.

Cảnh khuya là một bài thơ hay, có sự kết hợp hài hòa giữa tính truyền thống và tính hiện đại, giữa lãng mạn và hiện thực. Bài thơ bộc lộ rõ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và ý thức trách nhiệm cao cả của Bác Hồ - vị lãnh tụ giản dị mà vĩ đại của đại dân tộc ta. Bài thơ là một dẫn chứng sinh động chứng minh cho phong cách tuyệt vời của người nghệ sĩ - chiens sĩ Hồ Chí Minh.

13. Tự luận
1 điểm

Hãy cùng các bạn đóng vai, thực hiện một cuộc phỏng vấn nhằm tự khám phá, tìm hiểu một tác phẩm văn học yêu thích theo cách sáng tạo, sinh động.

Xem đáp án

Phỏng vấn về sách, văn hóa đọc, vấn đề gợi ra từ cuốn sách và trải nghiệm đọc, viết trong dự án “Văn học - lịch sử tâm hồn”

Khách mời: Nguyễn Văn Anh

Người phỏng vấn: Nguyễn Xuân Bắc

Nội dung phỏng vấn:

1. Xin chào Nguyễn Văn Anh, cảm ơn bạn đã dành thời gian tham gia buổi phỏng vấn ngày hôm nay. Là một người đam mê đọc sách và hoạt động trong dự án “Văn học - lịch sử tâm hồn”, bạn có thể chia sẻ một số suy nghĩ của mình về tầm quan trọng của việc đọc sách trong cuộc sống?

- Nguyễn Văn Anh: Chào bạn Nguyễn Xuân Bắc. Đối với tôi, đọc sách là một hoạt động vô cùng quan trọng và mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống. Sách giúp chúng ta mở rộng kiến thức, hiểu biết về thế giới xung quanh, đồng thời bồi dưỡng tâm hồn và hoàn thiện nhân cách.

2. Theo bạn, văn hóa đọc hiện nay ở Việt Nam đang ở mức độ nào? Và chúng ta cần làm gì để khuyến khích mọi người đọc sách nhiều hơn?

- Nguyễn Văn Anh: Văn hóa đọc ở Việt Nam hiện nay đang có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, so với các nước phát triển, tỉ lệ người đọc sách ở Việt Nam vẫn còn khá thấp. Để khuyến khích mọi người đọc sách nhiều hơn, tôi nghĩ rằng chúng ta cần có những giải pháp thiết thực như:

- Nâng cấp cơ sở vật chất, đa dạng hóa nguồn sách, tổ chức các hoạt động thu hút người đọc đến thư viện.

- Thực hiện các chương trình khuyến mãi, giảm giá sách để sách đến tay người đọc dễ dàng hơn.

- Phát động các phong trào đọc sách, tổ chức các hội thảo, tọa đàm về sách, giới thiệu sách hay đến với cộng đồng.

- Khuyến khích học sinh đọc sách, giáo dục kỹ năng đọc hiểu cho học sinh.

3. Trong dự án “Văn học - lịch sử tâm hồn”, bạn đã đọc và trải nghiệm những gì? Dự án đã mang lại cho bạn những điều gì?

-Nguyễn Văn Anh: Tham gia dự án “Văn học - lịch sử tâm hồn”, tôi có cơ hội đọc và trải nghiệm nhiều tác phẩm văn học kinh điển, từ đó hiểu hơn về lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam. Dự án đã giúp tôi bồi dưỡng tâm hồn, hoàn thiện nhân cách và có thêm nhiều kiến thức mới.

4. Cuốn sách nào đã để lại cho bạn ấn tượng sâu sắc nhất trong dự án “Văn học - lịch sử tâm hồn”? Vì sao?

- Nguyễn Văn Anh: Cuốn sách đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc nhất trong dự án là “Hà Nội – dấu xưa phố cũ” của tác giả Uông Triều. Cuốn sách này đã giúp tôi hiểu hơn về Hà Nội - nơi chứa những dấu vết của quá khứ đẹp và lịch sử, những lối cũ vẫn còn tồn tại và gợi nhớ về những kỷ niệm xưa. Đó là nơi mà những người dân yêu thương và gìn giữ những giá trị truyền thống của thành phố, từ những con phố cổ, những ngôi nhà cổ, đến những cổng làng đậm chất văn hóa. Hà Nội không chỉ là một thành phố hiện đại mà còn là nơi đong đầy những hồi ức và tình yêu với quá khứ.

5. Theo bạn, những vấn đề nào được nêu ra trong các tác phẩm văn học có thể giúp ích cho cuộc sống hiện đại?

- Nguyễn Văn Anh: Các tác phẩm văn học thường phản ánh những vấn đề của cuộc sống xã hội, từ đó giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về con người và thế giới xung quanh. Một số vấn đề được nêu ra trong các tác phẩm văn học có thể giúp ích cho cuộc sống hiện đại như:

- Giúp con người sống tốt đẹp hơn, hướng đến những giá trị chân thiện mỹ.

- Giúp con người hiểu biết và trân trọng những giá trị tình cảm trong cuộc sống.

- Giúp con người hiểu rõ hơn về những vấn đề xã hội, từ đó có ý thức trách nhiệm và chung tay giải quyết.

6. Bạn có lời khuyên nào dành cho những người đang muốn bắt đầu đọc sách?

- Nguyễn Văn Anh: Đối với những người đang muốn bắt đầu đọc sách, tôi có một số lời khuyên sau:

- Hãy chọn những cuốn sách mà bạn cảm thấy hứng thú để việc đọc sách trở nên thú vị hơn.

- Nếu bạn mới bắt đầu đọc sách, hãy bắt đầu từ những cuốn sách ngắn và dễ đọc.

- Hãy dành thời gian đọc sách mỗi ngày, dù có bận rộn như nào nhé!

Cảm ơn bạn đã dành thời gian tham gia buổi chia sẻ này. Chúc bạn có thật nhiều sức khỏe! Rất mong đợi được tiếp tục nghe những chia sẻ của bạn trong những dự án sau!

14. Tự luận
1 điểm

Dựa vào kết quả của bài tập 1 (phần Viết), em hãy chuyển thành bài nói nhằm mục đích quảng cáo, thuyết trình về một cuốn sách văn học yêu thích.

Xem đáp án

* Tham khảo:

Có những câu chuyện đọc rồi sẽ quên. Nhưng cũng không ít quyển sách đã để lại ấn tượng khó phai, là tiền đề, mục đích, lí tưởng và là bệ phóng hướng con người tới những chân trời tương lai tươi mới. “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là một quyển sách như vậy.

Tôi tin với bất cứ ai từng đọc tác phẩm này đều không thể quên được thế giới mông lung và đầy mơ mộng trong con mắt của cậu bé tám tuổi tinh nghịch. Nhưng thế giới ấy chẳng hề xa hoa, bí ẩn hay mĩ miều như trong những câu chuyện cổ tích gắn liền với tuổi thơ của mỗi đứa trẻ mà nó chính là góc khuất thầm kín trong tâm hồn, là những kí ức chân thật nhất, là tấm gương rọi vào quá khứ phản chiếu lại biết bao kỉ niệm của một thời thơ ấu đã qua.

Nguyễn Nhật Ánh đã tặng bạn đọc một tấm vé trên chuyến tàu đặc biệt để mỗi người chúng ta có thể lật lại trang sách thời gian nhuốm màu dĩ vãng này trở về dòng sông trong trẻo của tuổi thơ và gột rửa hết những bụi bặm, những bế tắc, những phù phiếm ở thế giới người lớn. Xin đừng vội nghĩ rằng đây chỉ là tác phẩm sáo rỗng, vô vị dành cho bọn trẻ con mà đánh mất đi cơ hội tìm về chính bản thân mình, tìm về chính bản chất đơn thuần nhất của cuộc sống, cũng như tác giả đã từng khẳng định “Tôi viết cuốn sách này không dành cho trẻ em. Tôi viết cho những ai từng là trẻ em”. Xuyên suốt quyển sách là câu chuyện xoay quanh nhóm bạn bốn người với những “ông cụ, bà cụ non” khoác trên mình hình hài trẻ thơ gồm: nhân vật tôi (cu Mùi), con Tí sún, thằng Hải cò và Tủn - hoa khôi của xóm. Qua hành trình khôn lớn của những “bé con” đó, tôi như được chứng kiến một thước phim quay chậm lúc thì mờ ảo, nhiễu loạn nhưng có lúc hình ảnh về ngày tháng tuổi thơ lại hiện lên rõ nét, sinh động ngỡ như mới chỉ ngày hôm qua. Những hồi ức ấy nào có phải toàn mang ánh hào quang rực rỡ, nào có phải là bản hùng ca với đầy chiến tích đáng tự hào mà với cu Mùi, nó đơn thuần chỉ là nỗi buồn không rõ nguồn gốc về cuộc sống cũ kĩ theo vòng tuần hoàn tẻ nhạt “Vẫn ánh mặt trời ấy chiếu rọi mỗi ngày. Vẫn bức màn đen đó buông xuống mỗi đêm. Trên mái nhà và trên các cành lá sau vườn, gió vẫn than thở giọng của gió. Chim vẫn hót giọng của chim. Dế ri ri giọng dế, gà quang quác giọng gà”. Và hơn hết sự nghịch ngợm, ngổ ngáo của cậu nhóc lên tám còn thể hiện rất chân thật qua những năm mài đũng quần trên ghế nhà trường với niềm vui thú đến lớp để tán gẫu, cãi cọ, cấu véo, ngủ gật hay chọn vị trí tối tăm cho ít bị kêu lên bảng trả bài. Ngay ở chương đầu tiên của quyển sách, chắc hẳn người đọc đã thoáng có chút giật mình, lắng đọng xen lẫn ngượng ngùng khi bắt gặp chính hình bóng của mình trong thời áo trắng qua nhân vật trữ tình. Dù bạn có dám thừa nhận hay không thì ở cái tuổi ham chơi, hiếu động ấy thì việc học như một nghĩa vụ giam cầm ta trước bao nhiêu trò chơi hấp dẫn, trước bao nhiêu khung trời mới mẻ và giờ ra chơi chính là thời gian thần tiên để chú chim non sổ lồng tìm chút niềm vui ngắn ngủi. Mạch liên tưởng độc đáo đó như thể là một chiếc chìa khóa vạn năng chạm tới mọi góc khuất riêng tư nhất trong miền kí ức của tôi, kí ức về cô học sinh lớp ba luôn thơ thẩn, mơ mộng về những bài toán chia dài ngoằng thành biết bao tòa cao ốc đồ sộ mà chính tôi là vị kiến trúc sư đại tài thiết kế nên hay những dòng chữ gà bới đang múa lượn trong quyển vở tập viết với tôi lại là món mì xoắn ốc mới mẻ, ngon lành dưới bàn tay khéo léo của đầu bếp cừ khôi… Có lẽ tôi và rất nhiều “bạn nhỏ” khác cũng đã hoặc đang đánh mất rất nhiều năm học tập quý giá, đánh mất rất nhiều kiến thức bổ ích nhưng tôi sẽ chẳng chối bỏ tuổi thơ đó, chẳng chối bỏ lỗi lầm đó vì con người không ai có thể luôn hoàn hảo, nếu ta không đủ can đảm nhìn nhận quá khứ, nhìn nhận những thiếu sót của bản thân thì ta chỉ đang tự lừa dối chính mình bởi vỏ bọc hoàn thiện giả tạo.

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cũng đã nêu triết lý “Để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn”, thật vậy qua những lời kể chân thật về tuổi thơ đã qua, tác giả đã nhẹ nhàng gởi gắm những tư tưởng mang tính giáo dục sâu lắng, nhẹ nhàng gõ tiếng chuông vang vọng vào tiềm thức con người giúp ta khai phá nên những chân lý mới lạ. Văn phong của tác giả nửa như giễu cợt, bông đùa, nửa lại mang hơi hướng triết lý sâu sắc truyền đạt tới đông đảo bạn đọc và đôi khi là các bậc cha mẹ nói riêng. Chắc ta không thể quên lời than phiền của cu Mùi “Người lớn thường cho phép mình làm tất cả những gì mình thích, kể cả những ý thích rất vớ vẩn và cấm trẻ con làm tất cả những gì họ không thích, và sự cấm cản của họ nhiều khi cũng vớ vẩn nốt”, đôi khi vì quá yêu thương con mà cha mẹ vô tình thái quá sự phán xét và áp đặt trẻ bởi họ luôn muốn con mình nhận lấy mọi điều tốt đẹp và tránh xa những cạm bẫy. Nhưng liệu có quá bất công khi chúng ta tước đi quyền được vấp ngã của con trẻ và ép chúng vào khuôn mẫu hoàn hảo chỉ chứa niềm vui và sự sung túc? Nghe có vẻ nghịch lý nhưng nó cũng giống như một món ăn tuy ngon đến mấy nhưng ăn hoài sẽ thành chán ngán, tầm thương ví như bước đường ta đi nếu quá bằng phẳng và trải đầy hoa hồng thì hạnh phúc cũng trở nên nhàm chán, vô vị vì đời người chỉ được một lần sống, ta chỉ một lần được trải nghiệm hết những hỉ, nộ, ái, ố, đau thương. Có đứa bé nào tập đi mà chưa từng vấp ngã, đứa bé chưa từng nói ngọng sẽ không thể phát âm tròn vành, rõ chữ vậy nên qua tác phẩm Nguyễn Nhật Ánh còn muốn gởi thông điệp đến “những người lớn” hãy để con cái được phát triển tự nhiên nhất, ta chỉ nên khuyên răn chứ đừng ngăn cấm chúng khám phá thế giới dù biết trước đó là ngõ cụt bởi ta cũng đã từng được trải nghiệm nên hãy để trẻ con vươn tới tương lai bằng chính đôi chân nhỏ bé của bản thân.

Không chỉ vậy, trong “cho tôi một vé đi tuổi thơ” làm mỗi người lớn phải thốt lên khâm phục trước sự sáng tạo, mộng mơ của bọn trẻ mà cũng chính là của ta ngày xưa. Đó là mong ước muốn “đặt tên cho thế giới”, dùng trí tưởng tượng biến cái gối thành búp bê, biến cái nón thành cuốn tập, con chó thành bàn ủi, chiếc quạt máy thành cái tivi và thằng Mùi là Thầy hiệu trưởng…Chúng không hề lố bịch, quậy phá mà bản chất của trò chơi “kì lạ” đó là ước muốn thầm kín được thay đổi thế giới xung quanh trở nên mới mẻ, tinh khôi như thể được sinh ra một lần nữa, để chúng khỏi chán ngắt với việc ăn, ngủ, đến lớp và học bài. Nhưng có lẽ trong tác phẩm người đọc thích thú nhất vẫn là cái tình cảm ngô nghê, hồn nhiên của cu Mùi với cô bạn Tủn mà thấp thoáng hiện lên lời bộc bạch rất ngây thơ. “Sau này tôi biết đó là cảm giác ghen tuông, tất nhiên là ghen tuông theo kiểu trẻ con, còn lúc đó tôi chỉ cảm thấy khó chịu”. Đó là tình yêu con nít mà có lẽ là trong sáng, thiêng liêng hơn cả vì nó không hề bị vẫn đục bởi vòng xoáy của tiền tài, danh lợi và không bị chi phối, bão hòa cảm xúc khi người lớn cố lập trình, lên kế hoạch để ép thứ cảm xúc vô hình vào khuôn khổ chặt chẽ.

Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ - một tác phẩm mở ra thiên đường trong trẻo, tràn ngập hoa nắng và tiếng cười giòn giã của trẻ thơ. Nguyễn Nhật Ánh đã kết nối những trang hồi ức vô tình bị lãng quên hay thậm chí là đánh mất giữa dòng đời xô bồ, tấp nập này. Ông đã mang bạn đọc từ khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp lên chung một chuyến tàu về lại sân ga tuổi thơ để từ đó bắt đầu hành trình tìm lại chính mình, chính bản chất “nhân chi sơ tính bản thiện”. Đọc tác phẩm mà mỗi hình ảnh, mỗi hành động, lời nói của bốn nhân vật đều để lại trong tôi một sự khắc khoải, ám ảnh sâu sắc, ám ảnh về dòng chảy hờ hững của thời gian đã mang đi mất của tôi rất nhiều thứ, mang đi mất những tháng ngày rong ruổi dạo chơi khắp xóm, mang đi mất những người bạn thân thiết đã từng là tất cả với tôi và hơn hết là mang đi mất chính hình bóng tuổi thơ thậm chí là biết bao hoài bão cháy bỏng mà tôi đã từng khát khao thực hiện cũng bị lớp bụi thời gian xóa mờ, vùi lấp.