Giải SBT Ngữ Văn 9 CTST BÀI 8 NHỮNG CUNG BẬC TÌNH CẢM
12 câu hỏi
Lập bảng tóm tắt đặc điểm về thi luật của thể thơ song thất lục bát.
Đặc điểm | Thơ song thất lục bát |
Số chữ, số dòng | Mỗi khổ thơ bốn dòng được cấu trúc bằng hai dòng thất kết nối với hai dòng lục bát. |
Vần | Hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng; giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền. |
Nhịp | Thường ngắt nhịp ¾ ở hai dòng thất, 2/2/2 và 2/2/2/2 ở cặp lục bát |
Hài thanh | Cặp song thất lấy tiếng ở vị trí thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc thanh trắc nhưng không bắt buộc. Cặp lục bát thì sự đối xứng bằng - trắc chặt chẽ hơn (giống như thơ lục bát). |
Làm rõ sự khác biệt về thi luật của thể thơ lục bát và song thất lục bát qua hai ví dụ cụ thể là một vài dòng thơ lục bát và song thất lục bát.
- Ví dụ thơ lục bát:
Công cha/ như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ/ như nước/ trong nguồn/ chảy ra
Một lòng/ thờ mẹ/ kính cha
Cho tròn/ chữ hiếu/ mới là/ đạo con
- Ví dụ thơ song thất lục bát
Trống Trường Thành/ lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyên/ mờ mịt thức mây
Chín tầng/ gươm báu/ trao tay
Nửa đêm/ truyền hịch/ định ngày/ xuất chinh
Phương diện so sánh | Thơ lục bát | Thơ song thất lục bát |
Số chữ, số dòng
| Cặp câu thơ gồm một dòng sáu chữ, một dòng tám chữ | Mỗi khổ thơ bốn dòng được cấu trúc bằng hai dòng thất kết nối với hai dòng lục bát |
Vần | Sơn - nguồn, ra - cha => Tiếng thứ sáu của dòng lục vần với tiếng thứ sáu của dòng bát kế nó, tiếng thứ tám của dòng bát vần với tiếng thứ sáu của dòng lục tiếp theo. | Nguyệt: vần trắc Tay - ngày: vần bằng Mây - tay: vần liền => Hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng; giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền. |
Nhịp | Ngắt nhịp chẵn (xem ví dụ) | Thường ngắt nhịp ¾ ở hai dòng thất, 2/2/2 và 2/2/2/2 ở cặp lục bát (xem ví dụ) |
Hài thanh | Các tiếng ở vị trí 2,4,6,8 phải tuân thủ chặt chẽ theo quy định: Tiếng thứ hai là thanh bằng, tiếng thứ tư là thanh trắc, riêng trong dòng bát, nếu tiếng thứ sáu là thanh bằng (ngang) thì tiếng thứ tám phải là thanh bằng (huyền) và ngược lại | Cặp song thất lấy tiếng ở vị trí thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc thanh trắc nhưng không bắt buộc. Cặp lục bát thì sự đối xứng bằng - trắc chặt chẽ hơn (giống như thơ lục bát). |
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
KHÓC DƯƠNG KHUÊ
Nguyễn Khuyến
1. Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
3. Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau;
Kính yêu từ trước đến sau,
Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời?
7. Cũng có lúc chơi nơi dặm khách,
Tiếng suối nghe róc rách lưng đèo;
Có khi từng gác cheo leo,
Thú vui con hát lựa chiều cầm xoang.
Cũng có lúc rượu ngon cùng nhắp,
Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Có khi bàn soạn câu văn,
Biết bao đông bích, điển phần trước sau.
15. Buổi dương cửu cùng nhau hoạn nạn,
Phận đẩu thăng chẳng dám than trời;
Bác già tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
19. Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác hãy tinh thần chưa can.
23. Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày;
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
27. Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
31. Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.
35. Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan!
(In trong Nguyễn Khuyến – Tác phẩm chọn lọc,
Lại Văn Hùng giới thiệu, tuyển chọn, NXB Giáo dục, 2009)
a. Liệt kê vào bảng sau những từ ngữ, hình ảnh bộc lộ tình cảm, cảm xúc của Nguyễn Khuyến đối với Dương Khuê (làm vào vở):
| Từ ngữ | Hình ảnh | Tình cảm, cảm xúc |
Khi mới hay tin bạn qua đời |
|
|
|
Khi kể lại kỉ niệm với bạn |
|
|
|
Khi nói về việc bạn đột ngột từ giã cõi đời |
|
|
|
Khi bạn không còn nữa |
|
|
|
Theo em, cách bộc lộ nỗi đau của Nguyễn Khuyến khi hay tin bạn qua đời có gì đặc biệt?
b. Qua tình cảm của Nguyễn Khuyến dành cho Dương Khuê, em nghĩ gì về nhân cách và tâm sự của tác giả?
c. Xác định bố cục, từ đó nêu mạch cảm xúc của văn bản.
d. Nêu chủ đề, tư tưởng và cảm hứng chủ đạo của văn bản. Cho biết một số căn cứ để xác định chủ đề.
đ. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm thông qua văn bản là gì?
e. Chọn một đoạn (từ tám đến mười hai dòng) trong văn bản và làm rõ một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn đó.
i dung/ vấn đề chính được đề cập trong văn bản.
Tư tưởng của văn bản: Những nhận thức và trải nghiệm sâu sắc về vai trò, giá trị lớn lao của tình bạn trong đời sống tình cảm của con người. Cảm hứng chủ đạo của văn bản: Ngợi ca tình bạn và bày tỏ niềm đau đón, tiếc thương vô hạn của Nguyễn Khuyến khi người bạn thân thiết của nhà thơ là Dương Khuê từ giã cõi đời.
đ. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm thông qua văn bản: Con người sống không thể thiếu tình bạn, nhất là tình bạn tri kỉ, tri âm; vì vậy, hãy trân trọng, yêu thương, đối xử chân thành với những người bạn, trân trọng, giữ gìn tình bạn và những kỉ niệm về tình bạn,..
e. Học sinh tự chọn một đoạn (từ tám đến mười hai dòng thơ) trong bài Khóc Dương Khuê và làm rõ một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn đó. Tham khảo cách phân tích một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn sau:
Ai chẳng biết chán đời là phải (T),
Sao vội vàng đã mải (T) lên tiên (B);
Rượu ngon không có bạn hiền (B),
Không mua không phải không tiền (B) không mua (B) .
Câu thơ nghĩ đắn đo (B) không viết (T),
Viết đưa ai, ai biết (T) mà đưa (B);
Giường kia treo cũng hững hờ (B),
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ (B) tiếng đàn (B).
Vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vẫn với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc): phải – tải. Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng): tiên – hiền. Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng): mua – đo và cứ thế tiếp tục.
Nhịp: Hai dòng thất ngắt nhịp 3/4, dòng lục ngắt nhịp 2/2/2 và dòng bát ngắt nhịp 2/2/2/2.
Trả lời:
a.
Từ ngữ | Hình ảnh | Tình cảm, cảm xúc | |
Khi mới hay tin bạn qua đời | Thôi đã thôi rồi, ngậm ngùi lòng ta | Nước mây man mác | Bất ngờ, đau đớn, bàng hoàng |
Khi kể lại kỉ niệm với bạn | Duyên trời, cùng nhau hoạn nạn, chẳng dám than trời,... | Chơi nơi dặm khách, rượu ngon cùng nhắp, bàn soạn câu văn,... | Xúc động, trìu mến, yêu thương |
Khi nói về việc bạn đột ngột từ giã cõi đời | Vội về ngay, chân tay rụng rời, chán đời là phải, vội vàng đã mải lên tiên,… | Rượu ngon không có bạn hiền, không mua không phải không tiền không mua, câu thơ nghĩ đắn đo không viết, giường kia treo cũng hững hờ, đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn,… | Đau đớn, tiếc thương |
Khi bạn không còn nữa | Chẳng ở, dẫu van chẳng ở, lấy nhớ làm thương,… | Hạt lệ như sương, hơi đâu chuốc lấy hai hàng chứa chan,… | Thương nhớ, hụt hẫng, cô đơn, trống vắng, buồn bã. |
Cách bộc lộ nỗi đau khi hay tin bạn qua đời của Nguyễn Khuyến có âm điệu và sắc thái tình cảm riêng của một người lớn tuổi: Nỗi đau lớn được bộc lộ một cách điềm đạm, trầm tĩnh, bởi tác giả là một người bản lĩnh, đã trải qua bao cay đắng của cuộc đời. Biểu hiện cụ thể: Từ ngữ mộc mạc, chân thành; hình ảnh và biện pháp tu từ đặc sắc (nói giảm, điệp từ,...) ; sử dụng một loạt các điển cố, điển tích về tình bạn tri âm để thể hiện và khẳng định tình bạn thân thiết; nhịp thơ thay đổi linh hoạt góp phần thể hiện rõ tâm trạng tác giả (đoạn kể lại những kỉ niệm đẹp của tình bạn với nhịp điệu vui tươi, dồn dập; các đoạn sau, khi tác giả chỉ còn lại một mình, nhịp thơ chậm rãi, trầm lắng); thể thơ song thất lục bát với đặc trưng về vần, nhịp cũng góp phần truyền tải chính xác, chân thật nỗi đau khóc bạn của Nguyễn Khuyến.
b. Tình bạn đẹp đẽ, chân thành, sâu sắc của Nguyễn Khuyến dành cho Dương Khuê cho thấy ông là một người có nhân cách cao đẹp, một người bạn biết yêu thương, lo lắng, quan tâm, chia sẻ vinh quang lẫn hoạn nạn cùng với bạn mình. Bài thơ cũng nói lên tâm sự thầm kín, nỗi đau trước thời thế xoay vần của Nguyễn Khuyến (Ai chẳng biết chán đời là phải).
c. Bố cục của văn bản:
− Phần 1 (hai dòng đầu): Sự đau xót, bàng hoàng khi nghe tin bạn mất.
– Phần 2 (từ dòng 3 đến dòng 18): Kể lại những kỉ niệm giữa hai người bạn.
- Phần 3 (từ dòng 19 đến dòng 28): Nỗi đau mất bạn.
- Phần còn lại: Cảm giác cô đơn, trống vắng của người ở lại vì mất đi người tri kỉ.
Dựa vào bố cục, có thể xác định mạch cảm xúc của văn bản như sau: Sự ra đi đột ngột của người bạn tri kỉ khiến nhà thơ bất ngờ, đau đớn, bàng hoàng khôn xiết. Sau giây phút ấy là tâm trạng xúc động, bồi hồi xen lẫn trìu mến, yêu thương khi nhớ lại những kỉ niệm đẹp của hai người đã gắn bó với nhau từ lúc “đăng khoa ngày trước” cho đến khi tuổi già tóc bạc. Tiếp theo, đó là hồi ức về những ngày đã qua, tác giả cảm nhận rõ ràng, sâu sắc hơn nỗi đau đớn khi mất bạn; không chỉ tiếc thương cho bạn sớm từ giã cõi trần mà còn thương mình từ nay đã mất tri âm, tri kỉ. Ở đoạn này, nỗi đau khóc bạn được hoà cùng nỗi u uất thời thế của tác giả. Cuối cùng là nỗi đau của người già khi mất bạn, sự sâu sắc của tình bạn keo sơn thể hiện rõ nhất ở bốn dòng cuối: Lấy nhớ làm thương, đau đớn, chỉ biết nuốt nước mắt vào trong.
d. Chủ đề của văn bản: Những kỉ niệm sâu sắc, thân thiết về tình bạn và niềm xót thương của tác giả khi nghe tin bạn mất.
Căn cứ xác định chủ đề: Nhan đề (Khóc Dương Khuê); bố cục, mạch nội dung – cảm xúc; hệ thống từ ngữ, hình ảnh; biện pháp tu từ, điển cố, điển tích,... thể hiện nội dung/ vấn đề chính được đề cập trong văn bản.
Tư tưởng của văn bản: Những nhận thức và trải nghiệm sâu sắc về vai trò, giá trị lớn lao của tình bạn trong đời sống tình cảm của con người. Cảm hứng chủ đạo của văn bản: Ngợi ca tình bạn và bày tỏ niềm đau đón, tiếc thương vô hạn của Nguyễn Khuyến khi người bạn thân thiết của nhà thơ là Dương Khuê từ giã cõi đời.
đ. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm thông qua văn bản: Con người sống không thể thiếu tình bạn, nhất là tình bạn tri kỉ, tri âm; vì vậy, hãy trân trọng, yêu thương, đối xử chân thành với những người bạn, trân trọng, giữ gìn tình bạn và những kỉ niệm về tình bạn,..
e. Học sinh tự chọn một đoạn (từ tám đến mười hai dòng thơ) trong bài Khóc Dương Khuê và làm rõ một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn đó. Tham khảo cách phân tích một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn sau:
Ai chẳng biết chán đời là phải (T),
Sao vội vàng đã mải (T) lên tiên (B);
Rượu ngon không có bạn hiền (B),
Không mua không phải không tiền (B) không mua (B) .
Câu thơ nghĩ đắn đo (B) không viết (T),
Viết đưa ai, ai biết (T) mà đưa (B);
Giường kia treo cũng hững hờ (B),
Đàn kia gảy cũng ngẩn ngơ (B) tiếng đàn (B).
Vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vẫn với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc): phải – tải. Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng): tiên – hiền. Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng): mua – đo và cứ thế tiếp tục.
Nhịp: Hai dòng thất ngắt nhịp 3/4, dòng lục ngắt nhịp 2/2/2 và dòng bát ngắt nhịp 2/2/2/2.
Các yếu tố Hán Việt “nhân” trong các trường hợp dưới đây tương ứng với nghĩa nào? Đánh dấu X vào ô thích hợp để hoàn thành bảng sau (làm vào vở):
Nghĩa Từ ngữ | người | lòng thương người | nguyên do, duyên cớ | việc kết hôn |
nhân nghĩa |
|
|
|
|
nhân quả |
|
|
|
|
hôn nhân |
|
|
|
|
nhân tình thế thái |
|
|
|
|
Nghĩa Từ ngữ | người | lòng thương người | nguyên do, duyên cớ | việc kết hôn |
nhân nghĩa | x | |||
nhân quả | x | |||
hôn nhân | x |
Xác định nghĩa của từng yếu tố Hán Việt “thị” trong các trường hợp sau bằng cách đánh dấu X vào ô thích hợp (làm vào vở):
Nghĩa Từ ngữ | hầu hạ, phục dịch | ham thích | chợ, chỗ để mua bán | sức nhìn của mắt |
thị hiếu |
|
|
|
|
thị nữ |
|
|
|
|
thị giác |
|
|
|
|
thị trường |
|
|
|
|
Nghĩa Từ ngữ | hầu hạ, phục dịch | ham thích | chợ, chỗ để mua bán | sức nhìn của mắt |
thị hiếu | x | |||
thị nữ | x | |||
thị giác | x | |||
thị trường | x |
Giải thích các từ ngữ Hán Việt sau:
– Đồng chí
– Nhi đồng
– Đồng sinh cộng tử
– Đồng chí: người có cùng chí hướng; “đồng” ở đây nghĩa là “cùng”.
– Nhi đồng: trẻ em; “đồng” ở đây nghĩa là “đứa trẻ”.
– Đồng sinh cộng tử: có sống thì cùng sống, có chết thì cùng chết, biểu thị quan hệ thân thiết, gắn bó, sống chết có nhau; “đồng” ở đây nghĩa là “cùng”.
Phân biệt ý nghĩa của các cặp từ Hán Việt sau:
– Minh bạch/ minh định
– U minh/ minh phủ
– Minh bạch: sáng tỏ, rõ ràng; minh định: xác định rõ ràng.
– U minh: mù mịt, tối tăm; minh phủ: âm phủ.
Đọc ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
Nét đặc sắc nghệ thuật đầu tiên của bài thơ này là hình ảnh. Bài thơ có sự kết hợp giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng mà đặc sắc nhất là loại hình ảnh thứ hai. Sau câu thơ mở đầu Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác như lời tâm sự của người con miền Nam nói với Bác, ba câu thơ tiếp theo tập trung khắc hoạ hình ảnh hết sức thân thuộc của làng quê Việt Nam: Tre quanh lăng. Từ lâu, cây tre, hàng tre bát ngát xanh đã trở thành biểu tượng của xứ sở với những phẩm chất cao quý như thẳng, thuỷ chung, can đảm. Nhưng với tác giả, một người vừa trải qua ngay cuộc chiến đấu ở chiến trường miền Nam, thì phẩm chất nổi bật của cây tre là kiên cường, vững vàng trước mọi giông bão bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng. Hình ảnh hàng tre quanh lăng còn được nhắc lại ở khổ thơ cuối bài (cây tre trung hiếu) như một ấn tượng sâu đậm nhất của tác giả về khung cảnh quanh lăng Bác.
Khổ thơ thứ hai được tạo nên từ hai cặp câu với những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi. Câu Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng là một hình ảnh thực, còn một mặt trời trong lăng rất đỏ là một hình ảnh ẩn dụ vừa nói lên sự vĩ đại của Bác Hồ (như mặt trời) vừa thể hiện được sự tôn kính của nhân dân, của nhà thơ đối với Bác. Tương tự, dòng người đi trong thương nhớ là hình ảnh thực, còn câu Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân là một ấn dụ rất đẹp và sáng tạo về tình cảm yêu kính của nhân dân dành cho Bác. Ở khổ thơ thứ ba, hình ảnh ẩn dụ vầng trăng sáng trong dịu hiền gợi nghĩ đến tâm hồn cao đẹp và những vần thơ tràn ngập ánh trăng của Bác. Tâm trạng xúc động của tác giả còn được biểu hiện trực tiếp qua hai câu thơ:
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim.
Trời xanh cũng là một hình ảnh ẩn dụ về Bác. Bác tuy đã đi xa nhưng vẫn còn sống mãi với non sông, đất nước, như trời xanh kia là vĩnh cửu. Dù vẫn tin là thế nhưng không thể không đau xót vì sự ra đi của Người! Có thể nói những hình ảnh biểu tượng như mặt trời, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng vừa quen thuộc, gần gũi (vì được tạo thành từ những hình ảnh thực) lại vừa có sức biểu cảm và giá trị biểu tượng lớn lao.
Điều tôi ấn tượng về nghệ thuật của bài thơ còn là giọng điệu. Bài thơ có giọng điệu rất phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc. Đó là giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa tha thiết, đau xót, tự hào khi vào viếng lăng Bác. Giọng điệu ấy được tạo nên bởi nhiều yếu tố: Thể thơ, nhịp điệu, từ ngữ và hình ảnh. Thể thơ tám chữ, nhưng có những dòng thơ bảy hoặc chín chữ tuỳ theo cung bậc cảm xúc. Cách gieo vần trong từng khổ thơ cũng không cố định, có khi liền, có khi cách. Nhịp thơ nhìn chung là nhịp chậm; diễn tả sự trang nghiêm, thành kính, lắng đọng trong tâm trạng nhà thơ. Riêng khổ thơ cuối, nhịp thơ nhanh hơn, với điệp từ muốn làm được lặp lại ba lần, thể hiện mong ước thiết tha và nỗi lưu luyến của tác giả.
Nhưng đối với tôi, cái ấn tượng đậm nét về bài thơ không chỉ là đặc sắc về phương diện nghệ thuật mà còn là chủ đề của tác phẩm: Tấm lòng thành kính và niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khi viếng lăng Bác. Tấm lòng tha thiết, chân thành ấy được thể hiện thông qua hệ thống hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng đặc sắc như trên đã phân tích cùng giọng điệu thơ trang trọng, đau xót xen lẫn tự hào. Vì thế, có thể nói bài thơ là minh chứng cho một chân lí trong sáng tạo thơ ca, từng được nhà thơ Viên Mai đời nhà Thanh khẳng định trong “Tuỳ Viên thi thoại” “Làm thơ cốt ở tấm lòng, hãy để tấm lòng điều khiển bàn tay”.
(Theo Phân tích tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại từ góc nhìn thể loại,
Nguyễn Văn Long, NXB Giáo dục, 2009)
a. Vẽ sơ đồ thể hiện các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.
b. Em có nhận xét gì về cách sắp xếp luận điểm của tác giả trong bài viết?
c. Nhận xét về cách văn bản phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
a. Sơ đồ thể hiện các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản:
- Luận điểm 1: Chủ đề của tác phẩm
+ Lí lẽ; Tấm lòng thành kính của nhà thơ dành cho Bác
+ Bằng chứng: Niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khi viếng lăng Bác.
- Luận điểm 2: Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật và tác dụng đối với việc thể hiện nội dung
+ Lí lẽ: Sự kết hợp giữa hình ảnh thực (hàng tre, mặt trời đi qua trên lăng, dòng người), hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng (mặt trời, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng) và tác dụng của chúng trong việc thể hiện chủ đề.
+ Bằng chứng: Giọng điệu phù hợp với nội dung tình cảm, cảm xúc (vừa trang nghiêm, sâu lắng vừa thiết tha, đau xót, tự hào)
b. Nhận xét về cách sắp xếp luận điểm của tác giả trong bài viết: Nêu luận điểm về hình thức nghệ thuật của bài thơ, sau đó nêu luận điểm về chủ đề.
c. Nhận xét về cách văn bản phân tích chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật: Đầu tiên, người viết đưa ra luận điểm, sau đó sử dụng lí lẽ và các bằng chứng lấy từ tác phẩm để làm rõ cho luận điểm.
Ví dụ: Ở luận điểm 1, người viết đưa ra lí lẽ 1 “Bài thơ có sự kết hợp giữa hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng mà đặc sắc nhất là loại hình ảnh thứ hai”. Để làm rõ cho lí lẽ này, người viết đã phân tích các hình ảnh thực (hàng tre quanh lăng, mặt trời đi qua trên lăng, dòng người,...) kết hợp với các hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng (mặt trời trong lăng, tràng hoa, trời xanh, vầng trăng,...) để làm rõ tình cảm tôn kính, yêu thương chân thành, sâu sắc của tác giả bài thơ dành cho Bác.
Dựa vào bảng kiểm ở Bài 2 (Giá trị của văn chương – Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo), thiết kế bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật
Tiêu chí | Đạt | Chưa đạt | |
Mở bài | Giới thiệu tên bài thơ, thể loại, tên tác giả (nếu có) | ||
Khái quát nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ (chủ đề, hình thức nghệ thuật nổi bật) | |||
Thân bài | Trình bày luận điểm về chủ đề bài thơ | ||
Phân tích lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ một vài khía cạnh nội dung của chủ đề | |||
Trình bày luận điểm về những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ | |||
Phân tích lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ | |||
Kết bài | Khẳng định lại ý kiến về chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của bài thơ | ||
Nêu suy nghĩ, cảm xúc hoặc bài học rút ra từ bài thơ | |||
Diễn đạt | Không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp | ||
Sử dụng từ ngữ phù hợp | |||
Có phần mở bài lôi cuốn, hấp dẫn | |||
Có cách kết bài ấn tượng, đặc sắc | |||
Thực hiện đề bài sau:
Đề bài: Câu lạc bộ Văn học trường em tổ chức cuộc thi viết với chủ đề “Văn học và tuổi trẻ”. Em hãy chọn một bài thơ/ đoạn trích ngâm khúc mà mình yêu thích (thể thơ song thất lục bát, lục bát,...) để viết bài nghị luận và tham gia cuộc thi.
Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết
Trả lời các câu hỏi: Đề tài bài viết là gì? Bài được viết nhằm mục đích nào? Người đọc là ai? Họ mong chờ điều gì ở bài viết này? Từ đó, lựa chọn cách trình bày phù hợp, hiệu quả.
Đề bài yêu cầu em chọn một bài thơ mà mình yêu thích, không bắt buộc về thể thơ. Nếu em muốn chọn một bài thơ thể song thất lục bát hoặc đoạn trích ngâm khúc, tham khảo một số gợi ý sau:
- Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến).
- Bà má Hậu Giang (Tố Hữu).
- Đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ (Cung oán ngâm, Nguyễn Gia Thiều).
- Đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Chinh phụ ngâm, Đặng Trần Côn).
Sau khi chọn được đề tài, tiến hành thu thập và lập bảng thống kê tư liệu như hướng dẫn ở Bài 2.
Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý
Em tiến hành tìm ý cho bài viết bằng cách điền vào Phiếu tìm ý phân tích bài thơ (xem phiếu tham khảo ở Bài 8 trong sách giáo khoa) và sắp xếp thành dàn ý hoàn chỉnh, dựa vào Tri thức về kiểu bài ở Bài 2.
Ví dụ, đối với bài thơ Viếng lăng Bác (Viễn Phương) được phân tích ở bài tập 1, dàn ý có thể như sau:
- Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, khái quát chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
- Thân bài:
+ Luận điểm 1: Những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật.
• Lí lẽ 1: Hình ảnh thơ (kèm phân tích bằng chứng lấy từ tác phẩm).
• Lí lẽ 2: Giọng điệu (kèm phân tích bằng chứng lấy từ tác phẩm).
+ Luận điểm 2: Chủ đề của tác phẩm.
• Khía cạnh thứ nhất: Tấm lòng thành kính của nhà thơ dành cho Bác (kèm phân tích lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ nội dung chủ đề).
• Khía cạnh thứ hai: Niềm xúc động sâu sắc của nhà thơ khi viếng lăng Bác (kèm phân tích lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ nội dung chủ đề).
– Kết bài: Khẳng định lại ý kiến về chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật; nêu suy nghĩ, tình cảm, bài học rút ra từ tác phẩm.
Bước 3: Viết bài
Từ dàn ý, em viết bài văn hoàn chỉnh; chú ý đảm bảo không mắc lỗi chính tả, dùng từ; diễn đạt mạch lạc. Cần viết mở bài lôi cuốn, hấp dẫn và kết bài ấn tượng, đặc sắc (xem hướng dẫn ở Bài 2). Có thể tham khảo Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật (đã làm ở bài tập 2) trước khi viết để đảm bảo bài viết đi đúng hướng, đáp ứng được yêu cầu của kiểu bài.
Bài tham khảo:
Đã từ lâu, tình bạn đã được đề cập đến trong các tác phẩm văn học. Nguyễn Khuyến là nhà văn sở hữu số lượng lớn các bài thơ mang chủ đề rất quen thuộc trong đời sống hàng ngày như thế. Nếu như trong Bạn đến chơi nhà, ông dùng giọng văn hóm hỉnh, khôi hài để nói về tình bạn không màng vật chất, thì sang bài thơ Khóc Dương Khuê, giọng thơ đã thay đổi hẳn. Cả bài thơ như tiếng khóc nấc lên trong sự buồn bã của Nguyến Khuyến khi đến đám tang của người bạn Dương Khuê. Đặc biệt trong 16 câu thơ cuối:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.
…
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”
Nỗi xót thương cho người bạn quá cố càng được thể hiện đậm nét.
Nguyễn Khuyến xuất thân là nhà nho, có tài văn chương, đỗ đầu cả ba kỳ thi nên còn được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ. Ông thường viết về gia đình, bạn bè, quê hương và châm biếm bọn thực dân. Bài thơ Khóc Dương Khuê ban đầu được viết bằng chữ Hán, sau được Nguyễn Khuyến dịch lại bằng chữ Nôm. Dương Khuê là bạn của Nguyễn Khuyến, mặc dù kém tuổi nhưng Dương Khuê cũng đỗ chức tước cao, trở thành tri âm của Nguyễn Khuyến. Mười sáu câu thơ cuối là nỗi đau đáu, thương xót của Nguyễn Khuyến trước sự ra đi đột ngột của bạn.
Hai câu thơ mở đầu được nhà thơ viết bằng giọng văn khôi hài, nhưng chua xót, bộc lộ sự đau lòng của ông:
“Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày.”
Quả thật, Nguyễn Khuyến hơn Dương Khuê bốn tuổi, nhưng Nguyễn Khuyến vẫn gọi Dương Khuê bằng giọng thân mật “tôi - bác”. Câu thơ “đau trước bác mấy ngày” sử dụng biện pháp ẩn dụ, ý chỉ sự ra đi của Dương Khuê quá đột ngột, khiến tác giả không thôi giật mình và đau đớn.
Trong bốn câu thơ tiếp theo, nhà thơ tiếp tục mạch cảm xúc trầm lắng, đau thắt lòng:
“Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Sao vội vàng mà mải lên tiên.”
Tác giả sử dụng biện pháp nói giảm, nói tránh và biện pháp nói quá rất khéo léo,, ý nhị. Để chỉ sự ra đi của người bạn thân, ông dùng những từ “vội về ngay”, “chán đời”, “vội vàng”, “lên tiên”, với mục đích để giảm đi sự đau thương, nhưng sao câu thơ vẫn đau bội phần như vậy. Nói tránh đi sự ra đi của bạn, Nguyễn Khuyến phóng đại nỗi đau của mình “chân tay rụng rời”. Chắc hẳn, vì quá bất ngờ, ông đã không kìm được cảm xúc mà suy sụp, đau như “chân tay rụng rời”.
Trước kia, tất cả những thú vui trên cõi đời đều có ông và Dương Khuê hưởng thụ. Nhưng nay, những niềm vui đó bỗng trở nên chán chường, vô nghĩa bởi đã mất bạn rồi:
“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa;
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gãy củng ngẩn ngơ tiếng đàn.”
Rượu luôn là thức uống yêu thích của thi nhân, thế nên mới có thi tửu. Nhưng rượu chỉ ngon khi được uống cùng bạn hiền. Biện pháp điệp từ “không” ba lần liên tiếp trong một câu thơ như nhân lên ba lần sự vô vị, không ham muốn thi tửu của Nguyễn Khuyến khi không có bạn. Hôm nay không mua rượu, không phải do không có tiền, mà là do không còn tri âm.
Bài thơ vẫn còn dang dở, chưa viết xong, bởi với ông, mất bạn rồi thì còn ai để đọc. Một lần nữa, biện pháp điệp ngữ lại xuất hiện, điệp từ “ai” và”đưa” hai lần, kết hợp với biện pháp chơi chữ “viết đưa ai” - “ai biết mà đưa”. Đây như một vòng luẩn quẩn, viết xong cũng không biết đưa cho ai, mà cũng không có ai để đưa. Mất đi Dương Khuê, Nguyễn Khuyến gần như mất đi cả một người đọc tri kỉ của mình.
Các sự vật tạo niềm vui khác như giường, đàn cũng mất đi sự sống, trở nên “hững hờ” và “ngẩn ngơ”. Đây là hai từ láy rất đặc sắc trong đoạn thơ, đồng thời là hai từ ngữ nhân hóa, khiến các sự vật tưởng như vô cảm ấy cũng đang hòa dần với nỗi đau mất mát bạn của nhà thơ. Sau cùng, thú vui để thưởng ngoạn với bạn, mất bạn rồi, thú vui cùng dần trở thành nỗi buồn sâu lắng.
Đau đớn là vậy, xót thương là vậy, nhưng Nguyễn Khuyến cũng đành chấp nhận sự thật rằng bạn đã đi xa:
“Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương.
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!”
Nguyễn Khuyến trách móc, hờn dỗi bạn khi “Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở”. Đây là một điều vô lý nhưng hết sức hợp lý. Vô lý bởi Dương Khuê mất do tuổi già, nên cho dù nhà thơ có trách móc, van nài thì Dương Khuê cũng đâu thể nghe thấy được. Nhưng hợp lý là bởi, Nguyễn Khuyến quá nhớ thương Dương Khuê, mong muốn bạn ở lại với mình, nên mới buông lời mà trách nhẹ nhàng thế.
Mãi đến tận cuối bài thơ, ta mới thấy xuất hiện giọt nước mắt của nhà thơ. Nhưng sao giọt nước mắt ấy lại “như sương”, mà còn phải ‘ép” mới ra? Đọc đến đây, ta chợt nhớ lại giọt nước mắt cũng phải “ép” mới ra của Lão Hạc trong tác phẩm của Nam Cao. Một phần cũng là do tuổi cao nên khó chảy nước mắt. Nhưng phần nhiều, do lão quá đau khổ vì mất cậu Vàng, nên không thể khóc thành dòng được nữa. Cũng như vậy, Nguyễn Khuyến cũng nói một phần do “tuổi già”, nhưng thật ra, sâu trong thâm tâm, ông đau lòng đến độ thật khó để có “hai hàng chứa chan”. Nước mắt chảy ngược vào trong, như thể ông đang “nuốt” cái thương bạn vào trong bụng.
Bằng những câu thơ sử dụng ngôn ngữ bình dân mộc mạc, gần gũi, từng câu thơ chất chứa cảm xúc mãnh liệt, sử dụng tài tình biện pháp nhân hóa, phép điệp ngữ, biện pháp so sánh, Nguyễn Khuyến đã bộc lộ lòng thương bạn, đau đớn muôn phần khi mất bạn, nhưng đồng thời cũng thể hiện thái độ chấp nhận sự thật. Đọc bài thơ, ta càng thêm trân trọng hơn những tình bạn đẹp đẽ, trong sáng giữa đời thường.
Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa, rút kinh nghiệm
Đọc lại bài viết, dựa vào Bảng kiểm kĩ năng viết bài văn nghị luận phân tích một bài thơ: chủ đề và những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật để tự đánh giá và chỉnh sửa bài viết (nếu có). Ghi lại các kinh nghiệm bản thân thu nhận được để viết tốt hơn ở những lần sau.
Vẽ sơ đồ tóm tắt quy trình thực hiện cuộc thảo luận về một vấn đề trong đời sống.

Thực hiện đề bài sau:
Đề bài: Buổi sinh hoạt cuối tuần, giáo viên chủ nhiệm lớp em tổ chức buổi thảo luận với chủ đề “Góc nhìn tuổi trẻ về các vấn đề trong đời sống”. Hãy chọn một vấn đề trong đời sống mà em quan tâm, chuẩn bị ý kiến để tham gia vào buổi thảo luận của lớp.
Bước 1: Chuẩn bị
- Thành lập nhóm (khoảng sáu thành viên/ nhóm), bầu nhóm trưởng, thư kí và phân công nhiệm vụ cho các thành viên.
- Xác định vấn đề trong đời sống cần thảo luận nhóm, ví dụ: vấn đề bạo lực trong nhà trường, vấn đề gian lận trong thi cử, vấn đề vi phạm Luật Giao thông,…
- Thống nhất mục tiêu, thời gian thảo luận bằng cách trả lời các câu hỏi: Nhóm thảo luận về vấn đề này để làm gì? Mỗi thành viên được trình bày trong bao lâu? Cả nhóm có thời gian bao lâu để thảo luận trong các nhóm nhỏ?
- Xác định đối tượng người nghe, hình thức trình bày bằng cách trả lời các câu hỏi: Người nghe trong buổi sinh hoạt lớp là những ai? Họ đã biết gì về vấn đề thảo luận? Nên trình bày ý kiến như thế nào cho dễ hiểu, phù hợp với đối tượng người nghe đó? Nên thảo luận ra sao để đảm bảo thời gian thảo luận cho phép?
- Chuẩn bị nội dung thảo luận: Mỗi thành viên tìm tài liệu, chuẩn bị ý kiến, lí lẽ, bằng chứng về vấn đề đời sống cần thảo luận; dự kiến các ý kiến trái chiều và nội dung phản hồi bằng cách điền vào Phiếu chuẩn bị thảo luận nhóm (tham khảo phiếu ở Bài 1 – Thương nhớ quê hương, Ngữ văn 9, tập một, bộ sách Chân trời sáng tạo).
Bước 2: Thảo luận
Vận dụng các kĩ năng thảo luận trong nhóm nhỏ và thảo luận giữa các nhóm đã học ở Bài 1 để tiến hành thảo luận.
Bước 3: Suy ngẫm và rút kinh nghiệm
Nêu những điều bản thân, nhóm đã làm tốt và chưa tốt (dựa trên những hướng dẫn thảo luận ở bước 2).
Nêu một số bài học kinh nghiệm về cách trình bày ý kiến, cách thảo luận, tranh luận để lần sau thảo luận hiệu quả hơn.
Tham khảo:
Kính chào thầy cô và các bạn. Tôi tên là............học sinh lớp.........trường.......... Hôm nay, tôi sẽ trao đổi về nội dung: Cách thể hiện bản thân của học sinh hiện nay.
Có ai đó đã từng nói rằng: “Con người sinh ra không phải để tan biến như hạt cát vô danh, mà để lưu dấu chân trên mặt đất và trong tim mọi người”. Việc thể hiện bản thân, do vậy, là một nhu cầu chính đáng của mỗi con người, các bạn học sinh cũng không là ngoại lệ. Vấn đề đặt ra cho mỗi chúng ta là: Thể hiện bản thân như thế nào là đúng đắn?
Thể hiện bản thân là một chuỗi hành động do con người tạo ra hay học hỏi của một ai đó nhằm khẳng định và cho thấy những đặc điểm nổi bật của bản thân mình, gây ấn tượng mạnh đối với mọi người xung quanh. Thể hiện bản thân ở môi trường học đường được chứng minh qua cả ngoại hình, lời nói, cách ứng xử và hành động của học sinh.
Ở độ tuổi mới lớn, học sinh có những sự thay đổi đáng kể về tâm lý và suy nghĩ, dẫn đến hành động cũng trở nên nhạy cảm với mọi thứ xung quanh, điều này khiến họ luôn muốn thể hiện mình, chứng minh rằng mình đã trưởng thành. Mặt khác, nhu cầu được mọi người chú ý, được mọi người nể trọng, cũng là lí do khiến các bạn học sinh muốn thể hiện bản thân, để khẳng định năng lực và cái tôi của mình.
Những hành động thể hiện bản thân tích cực đến từ những việc đơn giản không những ở bề ngoài chỉnh chu, phù hợp với quy định của nhà trường mà còn ở lời nói và cử chỉ lịch sự lễ phép. Việc dám nói lên ý kiến, bảo vệ những quan điểm đúng đắn của mình đánh dấu cột mốc của sự trưởng thành. Cậu bé Đỗ Nhật Nam là một tấm gương hiếu học và không ngần ngại thể hiện bản thân trước mọi người xung quanh, cậu đã được tổng thống Obama gửi thư khen ngợi. Dẫu vậy, cậu vẫn quan tâm đến việc giúp đỡ cộng đồng, kì nghỉ hè vừa rồi cậu đã về nước mở lớp học tiếng Anh miễn phí cho các bạn đồng trang lứa. Hàng năm cứ đến hè, các bạn học sinh lại tích cực tham gia chiến dịch Hoa phượng đỏ, mồ hôi nhễ nhại nhưng khuôn miệng vẫn tươi cười, hăng say giúp đỡ mọi người. Họ cho chúng ta một bài học đúng đắn về cách thể hiện bản thân: cống hiến hết mình vì cộng đồng!
Tuy nhiên, hiện nay một số học sinh đã có những hành động khẳng định bản thân mình sai trái, không phù hợp với độ tuổi. Họ tập tành hút thuốc lá, tụ tập băng nhóm đánh nhau, quay clip bạo lực phát tán lên mạng, họ nói tục chửi thề, lạm dụng “ngôn ngữ teen” để chứng tỏ mình là “người sành điệu”… Đó là những hiện tượng đáng buồn, gây ra nhiều hậu quả khó lường cho bản thân và những người xung quanh.
Thể hiện bản thân mình, đúng đắn hay sai lầm, chủ yếu phụ thuộc vào việc mỗi chúng ta nhận thức bản thân và các giá trị sống. Mỗi chúng ta cần hướng đến cộng đồng để sống có ích, từ những việc làm nhỏ nhất: tham gia quỹ giúp bạn vượt khó, tiết kiệm tiền tiêu vặt để ủng họ đồng bào lũ lụt miền Trung… Đó là những hành động nhỏ những có ý nghĩa lớn, đánh dấu sự trưởng thành trong mỗi người học sinh.
Một vì sao sinh ra phải được tỏa sáng, mỗi con người sinh ra đều có nhu cầu thể hiện mình. Điều quan trọng là mỗi chúng ta phải biết phân định đúng, sai và sống tích cực, có như vậy chúng ta mới có thể trở thành ngôi sao bình dị nhưng lung linh, được mọi người yêu quý!
Qua đây, mỗi bạn học sinh hãy có cho mình một hãy nhiều cách thể hiện bản thân đúng đắn. Có như vậy, bạn mới là một người học sinh mang nhiều phẩm chất đạo đức tốt, được thầy cô, bạn bè và gia đình ngợi ca, tự hào.
