Giải SBT Ngữ Văn 9 Cánh diềuBài 7. Thơ tám chữ và thơ tự do có đáp án
35 câu hỏi
Cách ngắt nhịp nào đúng với các dòng thơ sau?
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
“Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm,
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
A. 4/4
B. 3/5
C. 5/3
D. 2/2/2/2
Đáp án B. 3/5
(Câu hỏi 1, SGK) Xác định bố cục của bài thơ Quê hương và nêu nội dung chính của mỗi phần.
Bài thơ chia làm bốn phần:
Hai dòng đầu: Giới thiệu chung về “làng tôi”.
- Sáu dòng tiếp (dòng 3 – 8): Miêu tả cảnh thuyền chài ra khơi đánh cá.
- Tám dòng tiếp (dòng 9 – 16): Miêu tả cảnh thuyền cá trở về bến.
- Bốn dòng cuối (dòng 17 – 20): Bày tỏ nỗi nhớ làng của tác giả.
(Câu hỏi 3, SGK) Cảnh những con thuyền ra khơi và cảnh đón thuyền cá về bến được tác giả miêu tả như thế nào? Hình ảnh người dân và cuộc sống làng chài được thể hiện trong hai cảnh này có nét gì nổi bật?
- Cảnh những con thuyền ra khơi (dòng 3 – 8):
+ Thời gian: sớm mai.
+ Không gian: trời trong (cao và rộng), gió nhẹ, nhuốm nắng hồng bình minh.
+ Con người: trai tráng; phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
+ Con thuyền: nhẹ, hăng như con tuấn mã; cánh buồm to, rướn thân trắng bao la thâu góp gió.
Bằng bút pháp miêu tả, lãng mạn hoá, sử dụng hình ảnh so sánh, các từ ngữ chỉ động tác, trạng thái mạnh mẽ (hăng, phăng, vượt, rướn),..., đoạn thơ đã tái hiện phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống. Đồng thời, tác giả đã tô đậm biểu tượng của linh hồn làng chài – cánh buồm, nhấn mạnh vẻ lớn lao, thiêng liêng và rất đỗi thơ mộng của nó.
- Cảnh đón thuyền cá về bến (dòng 9–16):
+ Thời gian: ngày hôm sau.
+ Không gian: bến.
+ Con người: ồn ào, tấp nập đón ghe về, làn da ngăm rám nắng, thân hình nồng thở vị xa xăm.
+ Con thuyền: im, trở về nằm, nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Vẫn bằng bút pháp miêu tả kết hợp với lãng mạn hoá, sử dụng hình ảnh độc đáo, gợi cảm, thú vị,... tác giả cho thấy:
+ Bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống, toát ra từ không khí ôn ào, tấp nập, đông vui, từ những chiếc ghe đầy cá, từ những con cá tươi ngon thân bạc trắng, từ lời cảm tạ chân thành đất trời đã cho sóng yên biển lặng để người dân chài trở về an toàn với cá đầy ghe,...
+ Cảnh người dân chài và con thuyền nằm nghỉ trên bến sau chuyến ra khơi. Hình ảnh người dân chài có tầm vóc phi thường, con thuyền như có hồn – một tâm hồn rất tinh tế.
Những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong các dòng thơ sau?
Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
A. So sánh, điệp vần
C. Điệp vần, điệp thanh
B. Điệp vần, nhân hoá
D. So sánh, nhân hoá
Đáp án D. So sánh, nhân hoá.
Nêu tác dụng của một biện pháp tu từ có trong các dòng thơ đã nêu ở bài tập 4.
- Tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa:
+ Làm tăng giá trị biểu cảm cho câu thơ.
+ Giúp câu thơ trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
+ …
(Câu hỏi 4, SGK) Nêu cảm nhận của em về bốn dòng thơ cuối. Từ đó, xác định chủ đề bài thơ và tư tưởng của tác giả.
- Bốn dòng thơ cuối:
+ Nghệ thuật: điệp từ (nhớ), liệt kê (màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi, mùi nồng mặn), câu cảm thán,...
+ Nội dung: Bốn dòng thơ trực tiếp nói lên nỗi lòng nhớ làng quê da diết, mãnh liệt của tác giả. Nhà thơ nhớ “màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi”, đặc biệt là “cái mùi nồng mặn” đặc trưng của làng quê miền biển. Với ông, cái hương vị lao động làng chài đó chính là hương vị riêng đầy quyến rũ của quê hương.
- Chủ đề bài thơ: Bài thơ tái hiện hình ảnh quê hương trong tâm trí của nhà thơ – một quê hương tươi sáng, khoẻ khoắn, mang hơi thở nồng ấm của lao động, của sự sống. Qua đó, thể hiện tâm hồn tinh tế, tài hoa và tấm lòng gắn bó sâu nặng của nhà thơ với con người cùng cuộc sống lao động của làng chài quê hương.
- Tư tưởng của tác giả: Bài thơ cho thấy quê hương luôn là hình ảnh thân thương, in đậm trong tâm trí của nhà thơ nói riêng, mọi người nói chung. Tình yêu quê hương luôn là tình cảm lớn lao và thiêng liêng của mỗi người.
Hãy chỉ ra sự giống nhau về tình cảm, cảm xúc của nhà thơ Tế Hanh trong bài thơ Quê hương và đoạn trích trong bài Nhớ con sông quê hương của ông dưới đây:
Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Toả nắng xuống lòng sông lấp loáng.
Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng
Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ
Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu...
(Thơ Việt Nam 1945 – 1975, NXB Giáo dục, 1985)
Bài thơ Quê hương và đoạn trích trong bài Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh có sự giống nhau về tình cảm, cảm xúc. Đó là hai văn bản cùng thể hiện nỗi nhớ, tình yêu, sự gắn bó tha thiết và niềm tự hào của tác giả về quê hương của mình.
Bài thơ Bếp lửa gieo vần gì?
A. Vần chân
B. Vần lưng
C. Vần liền
D. Vần hỗn hợp
Đáp án D. Vần hỗn hợp.
(Câu hỏi 1, SGK) Kết cấu của bài thơ Bếp lửa được tổ chức theo trình tự nào? Cảm hứng chủ đạo của tác giả trong bài thơ là gì?
– Kết cấu của bài thơ Bếp lửa được tổ chức theo trình tự: hiện tại – quá khứ – hiện tại. Có thể chia bài thơ làm bốn phần:
+ Phần 1 (dòng 1 − 3): Giới thiệu hình ảnh bếp lửa – hình ảnh khơi nguồn cho dòng hồi tưởng về bà.
+ Phần 2 (dòng 4 – 29): Hồi tưởng về bà và bếp lửa gắn với các kỉ niệm.
+ Phần 3 (dòng 30 – 37): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.
+ Phần 4 (còn lại): Hình ảnh bà và bếp lửa sống mãi trong tâm hồn cháu.
– Cảm hứng chủ đạo của tác giả trong bài thơ: Bài thơ thể hiện nỗi nhớ, tình thương, sự kính trọng và biết ơn bà của người cháu.
(Câu hỏi 2, SGK) Người cháu đã hồi tưởng các kỉ niệm về bà ở những thời điểm nào? Trong mỗi kỉ niệm đó, tình bà cháu được thể hiện ra sao? Người bà có ý nghĩa gì với người cháu?
– Trong phần 2 (dòng 4 – 29), người cháu hồi tưởng các kỉ niệm về bà ở ba thời điểm chính: “lên bốn tuổi”, “tám năm ròng”, “năm giặc đốt làng”.
– Trong mỗi kỉ niệm, tình bà cháu được thể hiện như sau:
+ “Lên bốn tuổi”: gắn với nạn đói mùa xuân năm 1945. In đậm trong tâm trí người cháu là “mùi khói” bếp, “khói hun nhèm mắt cháu” – hình ảnh tượng trưng cho những ngày tháng cơ cực, thiếu thốn trăm bề. Từ đó, người cháu gián tiếp bộc lộ nỗi thương bà. Tình thương ấy khiến người cháu “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.
+ “Tám năm ròng”: gắn với những kỉ niệm đầy ắp tiếng chim tu hú và tình cảm bà cháu sâu sắc xung quanh bếp lửa. Tiếng chim như gợi ra tình cảnh vắng vẻ, côi cút, vời vợi nhớ thương của hai bà cháu. Bà luôn bên cháu, dạy dỗ, chăm sóc cháu. Cháu thương bà vất vả, khó nhọc một mình, biết ơn bà. Bà cháu quấn quýt bên nhau.
+ “Năm giặc đốt làng”: gắn với những năm tháng đau thương, vất vả, giặc tàn phá xóm làng. Bà vẫn vững lòng trước mọi biến cố, tai hoạ; trở thành chỗ dựa tinh thần cho con, cháu. Cháu biết ơn bà.
– Bà không chỉ là người nuôi nấng, dạy dỗ cháu mà còn là chỗ dựa tinh thần của cháu. Tình yêu thương của bà dành cho cháu trở thành nguồn sức mạnh to lớn giúp cháu khôn lớn và trưởng thành.
Biện pháp tu từ ẩn dụ không được sử dụng trong dòng thơ nào sau đây?
A. Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
B. Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
C. Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn
D. Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Đáp án B. Tu hú kêu trên những cánh đồng xa.
(Câu hỏi 3, SGK) Hình ảnh bếp lửa trong bài thơ có đặc điểm gì? Vì sao khi nhắc đến bếp lửa, người cháu lại nhớ đến bà và ngược lại? Hãy chỉ ra ý nghĩa của hình ảnh bếp lửa được khắc hoạ trong bài thơ.
– Trong bài thơ, có 10 lần tác giả nhắc tới bếp lửa. Bếp lửa trong bài thơ vừa là hình ảnh tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.
– Khi nhắc đến bếp lửa, người cháu lại nhớ đến bà và ngược lại. Vì bếp lửa do b nhóm lên, gắn với những khó khăn, gian khổ đời bà; thể hiện sự tảo tần, nhẫn nại và tình yêu thương của bà dành cho con cháu. Bếp lửa được nhóm lên không chỉ bằng nhiên liệu ở bên ngoài mà còn được nhóm bằng ngọn lửa trong lòng bà – ngọn lửa của sức sống, lòng yêu thương, niềm tin của bà.
– Bếp lửa tượng trưng cho tình cảm của bà dành cho con cháu.
Đọc khổ thơ sau (trích Bếp lửa – Bằng Việt) và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?...
a) Các hình ảnh: “Có ngọn khói trăm tàu”, “Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” cho thấy điều gì về cuộc sống của người cháu trong hiện tại?
b) Từ “nhưng” ở đầu dòng thơ thứ ba có ý nghĩa như thế nào?
c) Câu hỏi “– Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” thể hiện tình cảm, cảm xúc gì của người cháu?
a) Các hình ảnh: “Có ngọn khói trăm tàu”, “Có lửa trăm nhà, niềm vui trăn ngả” cho thấy cuộc sống của người cháu trong hiện tại rất đủ đầy, tràn ngập những điều mới mẻ, niềm vui sướng, hạnh phúc. Đó là cuộc sống gần như đối lập với cuộc sống nhiều khó khăn, vất vả, thiếu thốn, đau thương trong quá khứ của người cháu.
b) Từ “nhưng” ở đầu dòng thơ thứ ba mang tính chất chuyển ý, đồng thời tạo nên mối quan hệ đối lập về nghĩa giữa các từ ngữ ở trước và sau từ này. Mặc dù người cháu đã có cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ nhưng không bao giờ quên quá khứ gian khó bên bà, vẫn luôn nhớ về bà và bếp lửa tuổi thơ.
c) Câu hỏi “ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” thể hiện nỗi nhớ, sự khắc khoải của cháu khi nghĩ về bà và niềm biết ơn vô hạn đối với bà.
Sưu tầm một bài thơ khác viết về người bà; chỉ ra một số điểm giống và khác nhau về nội dung cũng như nghệ thuật giữa bài thơ đó với bài Bếp lửa (Bằng Việt).
Tham khảo hai bài thơ sau đây:
BÀ TÔI
Bà hành khất đến ngõ tôi
Bà tôi cung cúc ra mời vào trong
Lưng còng đỡ lấy lưng còng
Thầm hai tiếng gậy tụng trong nắng chiều.
Nhà nghèo chẳng có bao nhiêu
Gạo còn hai ống chia đều thảo thơm
Nhường khách ngồi chiếc chổi rơm
Bà ngồi dưới đất mắt buồn ngó xa...
Lá tre rụng xuống sân nhà
Thoảng hương nụ vối... chiều qua... cùng chiều.
(Kao Sơn, in trong Xúc xắc, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2006)
ĐÒ LÈN
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị
chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng
mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm
điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng
Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế
bà mò cua xúc tép ở đồng Quan
bà đi gánh chè xanh Ba Trại
Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn
Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực
giữa bà tôi và tiên Phật thánh thần
cái năm đói củ dong riềng luộc sượng
cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm
Bom Mỹ giội, nhà bà tôi bay mất
đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền
thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết
bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm có thôi.
(Nguyễn Duy, in trong Thơ Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn – Nhã Nam, 2010)
Nhận định nào sau đây không đúng về bài thơ Chiều xuân (Anh Thơ)?
A. Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ
B. Bài thơ có sử dụng phương thức tự sự
C. Nhân vật trữ tình trong bài thơ xuất hiện gián tiếp
D. Bài thơ viết về đề tài mùa xuân
Đáp án B. Bài thơ có sử dụng phương thức tự sự.
(Câu hỏi 1, SGK) Cảm hứng chủ đạo của tác giả thể hiện trong bài thơ là gì? Bài thơ triển khai mạch cảm xúc theo trình tự nào?
– Cảm hứng chủ đạo: Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tĩnh lặng, trong trẻo, yên bình giản dị nhưng vẫn tràn đầy sức sống của cảnh chiều xuân nơi thôn dã và tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả.
– Bài thơ triển khai mạch cảm xúc theo trình tự không gian.
(Câu hỏi 2, SGK) Chỉ ra bố cục của bài thơ Chiều xuân. Nêu nội dung chính của mỗi phần.
Bài thơ gồm ba khổ thơ:
– Khổ 1: Cảnh chiều xuân nơi bến đò ngày mưa.
– Khổ 2: Cảnh chiều xuân ở ngoài đê ngày mưa.
– Khổ 3: Cảnh chiều xuân trong đồng lúa ngày mưa.
(Câu hỏi 3, SGK) Bức tranh cảnh chiều xuân được khắc hoạ trong bài thơ có đặc điểm gì? Em thích nhất hình ảnh hoặc chi tiết nào trong bức tranh đó? Vì sao?
- Bức tranh chiều xuân được khắc họa trong bài thơ có con đò biếng lười, dòng sông trôi, quán tranh im lìm, hoa xoan tím rụng, cỏ non xanh biếc, đàn sáo mổ vu vơ, bướm bay rập rờn, trâu bò thong thả ăn, cánh đồng lúa xanh, lũ cò con chốc chốc bay, cô gái yếm thắm.
- Hình ảnh em tích nhất là “Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ” vì cảnh chiều xuân được mở rộng hơn sau những ngày băng giá, xuân về cỏ non trở nên tốt tươi hơn “cỏ non tràn biếc cỏ”, điệp từ “cỏ” được lặp lại 2 lần đã khắc họa được cảnh vật thân quen ở nông thôn, cỏ non xanh mơn mởn, sức sống bừng lên mạnh mẽ qua cụm từ “tràn biếc cỏ”.
Phương án nào nêu đúng những nét đặc sắc về nghệ thuật của khổ thơ thứ hai trong bài?
(1) Sử dụng bút pháp miêu tả là chính
(2) Sử dụng nhiều từ láy
(3) Sử dụng biện pháp so sánh
(4) Sử dụng phép liệt kê
(5) Ngôn ngữ giàu màu sắc hội hoạ
A. (1)-(2)-(3)-(4)
B. (2)-(3)-(4)-(5)
C. (1)-(2)-(4)-(5)
D. (1)-(3)-(4)-(5)
Đáp án C. (1)-(2)-(4)-(5).
Chỉ ra ít nhất một điểm khác nhau về nội dung và một điểm khác nhau về hình thức nghệ thuật của bài Chiều xuân với bài thơ sau:
MÙA XUÂN CHÍN
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan.
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng.
Sột soạt gió trêu tà áo biếc,
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời.
Bao cô thôn nữ hát trên đồi:
– Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi...
Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi,
Hổn hển như lời của nước mây,
Thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc,
Nghe ra ý vị và thơ ngây...
Khách xa, gặp lúc mùa xuân chín,
Lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng.
– “Chị ấy, năm nay còn gánh thóc.
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?”
(Hàn Mặc Tử, dẫn theo Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam,
NXB Văn học, Hà Nội, 1996)
- Điểm khác nhau về nội dung:
+ Chiều xuân: ngợi ca về vẻ đẹp của mùa xuân xứ Bắc, vẻ đẹp đầy tĩnh lặng của cảnh chiều xuân, không khí và nhịp sống vùng thôn dã trong trẻo, yên bình, gần gũi, qua đó cũng bày tỏ được tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả.
+ Mùa xuân chín: nói tới cảnh sắc thiên nhiên mùa xuân trong bài thơ đang ở độ tươi đẹp nhất, viên mãn nhất. Nhưng trạng thái đó cũng đồng nghĩa với việc mùa xuân đang và sẽ trôi qua, cái đẹp không tồn tại vĩnh hằng, mãi mãi, để lại trong lòng nhà thơ sự nuối tiếc khôn nguôi.
- Điểm khác nhau về hình thức:
+ Chiều xuân: Thơ tám chữ
+ Mùa xuân chín: Thơ bảy chữ
Mỗi thông tin về bài thơ Nhật kí đô thị hoá (Mai Văn Phấn) trong bảng sau đúng hay sai?
Thông tin | Đúng | Sai |
(1) Bài thơ viết theo thể thơ tự do. |
|
|
(2) Nhân vật trữ tình trong bài thơ xuất hiện gián tiếp. |
|
|
(3) Bài thơ viết về đề tài tình cảm gia đình. |
|
|
(4) Bài thơ sử dụng các phép chơi chữ, điệp thanh, điệp vần. |
|
|
Thông tin | Đúng | Sai |
(1) Bài thơ viết theo thể thơ tự do. | x |
|
(2) Nhân vật trữ tình trong bài thơ xuất hiện gián tiếp. | x |
|
(3) Bài thơ viết về đề tài tình cảm gia đình. |
| x |
(4) Bài thơ sử dụng các phép chơi chữ, điệp thanh, điệp vần. |
| x |
(Câu hỏi 1, SGK) Chỉ ra bố cục và nội dung chính của mỗi phần trong bài thơ Nhật kí đô thị hóa.
Bài thơ gồm năm khổ thơ, chia làm ba phần. Nội dung chính của mỗi phần:
− Phần 1 (khổ 1): Cảm nhận được “những bước chân đô thị”, người con trở về ngôi nhà của mẹ.
– Phần 2 (khổ 2, 3): Người con hồi tưởng những kỉ niệm thời thơ ấu khí làng quê chưa đô thị hoá.
– Phần 3 (khổ 4, 5): Những suy nghĩ của người con trước cảnh làng quê dần dần đô thị hoá.
(Câu hỏi 2, SGK) Về “ngôi nhà của mẹ”, “chạm phải tay mình ngày thơ ấu”, người con đã hồi tưởng những kỉ niệm gì và có những cảm xúc nào?
Người con trở về “ngôi nhà của mẹ”, “nhặt được đồng xu cùn gỉ cuối sân”, hồi tưởng những kỉ niệm thời thơ ấu: cùng bạn bè chơi đánh đáo, cánh đồng những ngày ngập lụt, con chó đá đầu làng sủa trong những đêm trăng, tiếng gọi nghe buồn như củi ướt, mẹ ra bến sông vớt những câu ca chưa tan vào nước,... Hồi tưởng những kỉ niệm này, người con có nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: vừa như được sống lại những ngày vui tươi, hồn nhiên bên bạn bè với những trò chơi của con trẻ, vừa nặng trĩu nỗi buồn khi nhớ lại những ngày tháng đói nghèo, buồn tủi và hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ, nhọc nhằn. Những kỉ niệm ấy có sức ám ảnh lớn đến nỗi chỉ nhìn một đồng xu cùn gi sót lại từ những năm tháng xa xưa mà cả quá khứ buồn vui đều sống dậy trong tâm trí của người con.
(Câu hỏi 3, SGK) Trước “những bước chân đô thị”, người con có suy nghĩ gì?
“Những bước chân đô thị” đã khiến làng quê có những thay đổi — mặc dù quang cảnh thị thành mới đang được “thai nghén”. Trước hiện tượng này, người con nhận thấy mọi người “còn ngơ ngác”, còn mình vẫn “e dè”. Biết rằng đô thị hoá là quy luật, là điều không tránh khỏi nhưng người con vẫn muốn làng quê giữ được nét bình dị, thân thuộc như xưa.
Nhà văn Tạ Duy Anh đã viết cuốn sách Làng quê đang biến mất? (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2014). Từ bài thơ Nhật kí đô thị hoá (Mai Văn Phấn), kết hợp với hiểu biết của em và suy nghĩ được gợi ra từ nhan đề cuốn sách của nhà văn Tạ Duy Anh, hãy viết một đoạn văn (khoảng 12 – 15 dòng) để bày tỏ quan điểm của em về vấn đề: “Phải chăng làng quê đang biến mất?”.
Tham khảo:
Đất nước ngày càng phát triển, kéo theo đó là sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí “diện mạo” của đất nước cũng dần thay đổi. Phải chăng điều đó cũng đang làm cho “diện mạo” của làng quê trở nên biến mất? Chúng ta có thể thấy môi trường văn hóa của chúng ta hiện đang bị ô nhiễm, bị hủy hoại vô cùng nặng nề. Và chính từ đó mà hàng loạt những hiện tượng quái dị được sinh ra, xã hội phải đối mặt với rất nhiều nan đề khác, khi mà những thảo thơm, vị tha, nhân hậu, trung thực…, những nét đẹp nhất của nhân cách Việt, được xây dựng và vun đắp qua ngàn đời trong cái nôi văn hóa Việt, đang bị dồn ép, bị truy sát đến cùng bởi những tham lam, ích kỷ, hung bạo, giả dối… Bên cạnh đó việc chạy theo những nền văn hóa khác nhau làm cho giá trị truyền thống tốt đẹp của làng quê cũng dần trở nên mai một và mất dần đi. Vì thế, chúng ta cần có ý thức giữ gìn và phát huy những truyền thống đó để nó ngày càng đẹp đẽ và phát triển rộng rãi hơn.
(Bài tập 1, SGK) Xác định biện pháp tu từ chơi chữ trong những câu dưới đây. Chỉ rõ lối chơi chữ trong mỗi câu và tác dụng của chúng.
a)
Bán rượu, bán chè, không bán nước.
Buôn trăm, buôn chục, chẳng buôn quan.
(Câu đối)
b)
Có tài mà cậy chi tài,
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
(Nguyễn Du)
c)
Ngọt thơm sau lớp vỏ gai,
Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng.
Mời cô mời bác ăn cùng,
Sầu riêng mà hóa vui chung trăm nhà.
(Phạm Hổ)
a)
- Lối chơi chữ: Sử dụng trò chơi chữ "bán" với nghĩa được mở rộng. Ở đây, "bán" không chỉ là bán hàng mà còn mang nghĩa "dễ thu phục" với nguyên vẹn ý "không bán" ở cuối câu.
- Tác dụng: Tạo ra sự hài hước, khéo léo thông qua lối chơi chữ, gợi lên hình ảnh những người giữ trọng vọng của mình và không dễ "bán" với mọi lời đề nghị.
b)
- Lối chơi chữ: Mối quan hệ không hoàn toàn tích cực giữa "tài" (năng khiếu, tài năng) và "tai" (tai nạn, rủi ro). Hai từ này có cùng âm vần nhưng ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau.
- Tác dụng: Cách chơi chữ này nhấn mạnh việc cần phải khiêm tốn, không được cầy có tài.
c)
- Lối chơi chữ: Cách chơi chữ đơn giản thông qua việc so sánh "vỏ gai" (gai khó chịu bên ngoài) với "quả" bên trong, hay tượng trưng cho người tâm hồn đẹp trong bên trong mặc dù bề ngoài không thể nào ám ảnh hơn.
- Tác dụng: Chơi chữ nhấn mạnh việc không nên đánh giá người khác qua hình dáng bên ngoài mà hãy để lòng chân thành và tốt đẹp bên trong xác định giá trị thực sự của họ.
Giải những câu đố dưới đây và chỉ rõ lối chơi chữ được sử dụng trong mỗi câu:
a) Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn.
b) Trên trời rơi xuống mà lại mau co.
c)
Trùng trục như con chó thui
Chín mắt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu.
a. Đáp án là con ngựa
Hiện tượng chơi chữ nói lái (cưa ngọn → con ngựa).
b. Đáp án là mo cau
Hiện tượng chơi chữ nói lái: mau co → mo cau
c. Đáp án là con chó thui
Hiện tượng chơi chữ đồng âm: Từ chín có nghĩa là thức ăn được nấu nướng kỹ đến mức ăn được chứ không phải là số 9 - số tự nhiên tiếp theo số 8.
Trong một truyện vui dân gian, nhân vật Trạng Quỳnh đã chơi chữ (đố chữ) bằng cách viết hai chữ “ĐẠI PHONG” dán trên một cái lọ (bên trong là tương). Trạng Quỳnh đã giải thích cách chơi chữ của mình như sau: “Đại phong là gió to, gió to khiến chùa đổ, chùa đổ khiến tượng lo, tượng lo là lọ tương.”. Theo em, cách chơi chữ của Trạng Quỳnh dựa trên những mối quan hệ nào giữa các từ ngữ?
Dựa vào sự giải thích của nhân vật Trạng Quỳnh về cách chơi chữ để xác định mối quan hệ giữa các từ ngữ. Ví dụ, quan hệ giữa đại phong và gió to là quan hệ đồng nghĩa, quan hệ giữa gió to và chùa đổ là quan hệ nguyên nhân – kết quả,...
(Bài tập 4, SGK) Tìm các biện pháp tu từ điệp thanh, điệp vần trong những câu dưới đây. Chỉ ra tác dụng của chúng.
a)
Đoạn trường thay lúc phân kì,
Vỏ câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.
(Nguyễn Du)
b)
Tài cao phận thấp chi khi uất,
Giang hồ mê chơi quên quê hương.
(Tản Đà)
c)
Bác đi... Di chúc giục lòng ta
Cho cả muôn đời một khúc ca
(Tố Hữu)
d)
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
(Tố Hữu)
a. Trong hai câu thơ Truyện Kiều, tác giả dùng hai từ láy: khấp khểnh, gập ghềnh.
- Ở mỗi từ láy, có điệp âm đầu (kh – kh, g – gh) và chuyển đổi vần âp – ênh.
- Hai từ láy điệp vần âp – ênh.
=> Tác dụng: tạo ra hình ảnh con đường mấp mô, vó ngựa và bánh xe luôn luôn ở trạng thái chuyển động khó khăn, xóc nảy, trục trặc. Đồng thời cũng gián tiếp bộc lộ tâm trạng đau khổ, bất an của nàng Kiều lúc phải li biệt với gia đình để bán mình cho Mã Giám Sinh.
b.
- Điệp thanh trắc: Thấp chí khí xuất (sắc).
=> Tác dụng: Gợi cảm giác về sự uất ức của một người tài cao. Câu: giang hồ mê chơi quên quê hương.
- Điệp thanh bằng: giang hồ mê chơi quên quê hương.
=> Tác dụng: Gợi cảm giác thanh bình của làng quê trong tâm trí của người giang hồ.
c.
- Điệp vần “i" (đi, di), “a" (ta, cả, ca)
=> Tác Dụng: Câu thơ chủ yếu Tạo ra sự tôn kính, thể hiện sự xót thương
d.
- Gieo vần "an" và điệp vần "ương" (đường - dương - sương), điệp vần "ăng" (trắng - nắng).
=> Sử dụng chủ yếu là vần bằng (Hai câu thơ mười bốn chữ có tới mười thanh bằng) nhưng không gợi cảm giác buồn như vẫn thường có mà kết hợp với các thanh trắc, cùng với những âm mở, khiến cho ta cảm nhận được niềm hân hoan trong cảm xúc của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên đẹp và mới lạ của nước bạn. Tiếng reo vui hân hoan cũng là một lời san sẻ với người mình yêu thương, với quê hương, đất nước mình.
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi,
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh,
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh,
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết.
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc;
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon,
Vài cụ già chống gậy bước lom khom,
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ.
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ,
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu,
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau.
Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa,
Tia nắng tia nhảy hoài trong ruộng lúa,
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh,
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh.
(Trích Chợ Tết – Đoàn Văn Cừ, dẫn theo Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1996)
– Chỉ ra cách gieo vần và ngắt nhịp trong đoạn thơ trên.
– Đoạn thơ sử dụng các phương thức biểu đạt nào?
– Các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên là gì?
– Đoạn thơ viết về điều gì?
– Tác giả thể hiện tình cảm, cảm xúc nào?
- Cách gieo vần và ngắt nhịp trong đoạn thơ:
+ Gieo vần chân: “anh” – “tranh, xanh”; “au” – “đầu, sau”; “ua” – “sữa, lúa”…
+ Ngắt nhịp: 3/2/3
- Phương thức biểu đạt: tự sự, biểu cảm.
- Các biện pháp tu từ được sử dụng: nhân hóa, so sánh, liệt kê.
- Đoạn thơ miêu tả cảnh chợ Tết ngày xưa. Người đi chợ Tết ai cũng vui vẻ, từ cụ già cho tới các cô thiếu nữ, trẻ con, người mua kẻ bán tấp nập trong khung cảnh thiên nhiên tuoi đẹp đậm sắc xuân.
- Tác giả thể hiện sự vui vẻ, tưng bừng.
Viết một bài thơ tám chữ về một chủ đề mà em yêu thích. Sau đó, hãy chỉ ra:
− Vần và nhịp của bài thơ.
– Kết cấu hoặc bố cục của bài thơ.
– Cảm hứng chủ đạo và tư tưởng của bài thơ.
– Các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ (nếu có).
Tham khảo:
ĐIỆP KHÚC CUỐI NĂM
Có bao giờ trở lại nữa không?
Những yêu thương vui buồn thuở đến lớp
Tiếng trống trường, con đường chiều tan học
Lá me bay... Ngơ ngác mắt ai nhìn?
Có bao giờ trở lại những bình yên?
Ô cửa sổ – khoảng trời riêng mơ ước...
Chiều máy bay ý thơ vui trong cặp
Chiếc lá thuộc bài, ai nhắc cho ai?
Giữ sao được góc sân trường sớm mai?
Hoa phượng đỏ mười hai mùa nhung nhớ...
Gió bâng quơ từng lời thương thủ thỉ...
Gốc cây chiều lặng lẽ tiễn nhau đi.
Khúc giao mùa ai viết tặng mùa thi
Ngày trở lại tìm gì trong lá biếc?
Gió vẫn hát từng lời như điệp khúc...
Có bao giờ trở lại những ngày xa?
(Lương Đình Khoa, in trong Văn học và Tuổi trẻ, số 4 –5, 2015)
QUÀ CỦA NẮNG
Nắng gửi gì trong ánh mắt em nâu
Cho mùa hạ thêm nhuốm màu cổ tích
Sau vòm lá chú ve con tinh nghịch
Thắp đèn lồng cho quả đỏ trên cây
Nắng gửi gì cho xanh những tầng mây
Mùa hạ dỗi làm mưa hờn tháng Bảy
Cổ tích ngày xưa trở mình thức dậy
Nắng gửi thật nhiều hơi ấm những bàn tay
(Võ Thị Ánh Hồng, in trong Văn học và Tuổi trẻ, số 5 + 6, 2014)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“…Trong khung cảnh đó, những con người chiến thắng trở về được khắc hoạ bằng những dòng thơ thật đẹp:
Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Bức tượng đài người dân chài tạc giữa trời đất, một bức tượng đài có hình khối, màu sắc và cả hương vị đặc trưng đã làm toát lên một phong thái, một thần sắc đặc biệt. Màu da rám nắng là tín hiệu của một đời sống lao động chân tay vất vả, phải vật lộn với thiên nhiên để tồn tại, màu da của cuộc đời gần gũi với trời đất, với nắng gió, chịu đựng được nắng sương, một màu da từng trải. Vị xa xăm không chỉ là vị muối mặn mòi, nồng đậm từng in dấu trên bất kì người đi khơi nào mà còn mang một ý vị tượng trưng, gợi cảm: đẩy hình ảnh những người trai làng chài sang một sắc thái huyền thoại, cổ tích, gợi hơi thở của đại dương, của biển xa, của những chân trời tít tắp, nơi con người kiên cường, dũng cảm làm nên những kì công đáng khâm phục. Quen mà lạ, thực mà hư là hình ảnh những con người ấy, những đứa con của lòng biển, của đại dương”
(Trần Đình Sử (Chủ biên), Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 8,
NXB Giáo dục, 2001)
a) Đoạn trích trên nêu cảm nghĩ của người viết về những dòng thơ nào trong bài thơ Quê hương (Tế Hanh)?
b) Những từ ngữ nào trong các dòng thơ ấy được người viết đi sâu vào lí giải, cảm nhận? Người viết có những cảm xúc, suy nghĩ hay liên tưởng, tưởng tượng như thế nào?
c) Trong đoạn trích, người viết nêu cảm nghĩ của mình trực tiếp hay gián tiếp? Vì sao?
a. Cảm nghĩ của người viết về những dòng thơ trong bài Quê hương là: tự hào, tràn đầy hứng khởi.
b.
- Những từ ngữ được người viết đi sâu vào lí giải cảm nhận: “làn da ngăm rám nắng”, “ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”.
- Có thể nói đây là những câu thơ hay nhất, tinh tế nhất của bài thơ. Với bút pháp tả thực, hình ảnh “làn da ngăm rám nắng” dường như đã để lại ấn tượng rất sâu sắc về vẻ đẹp rắn rỏi của người ngư chài bám biển, thì câu thơ sau lại được miêu tả với cảm giác rất lãng mạn “ Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”. Thân hình vạm vỡ của người đánh cá là thấm đượm hơi thở của biển, vị mặn mòi của đại dương bao la. Nét đặc sắc của đoạn thơ là gợi được cả tâm hồn và tầm vóc của con người xứ biển, hai câu thơ tả con thuyền nằm bất động trên bến cũng là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo.
c. Người viết nêu cảm nghĩ của mình theo cách gián tiếp vì người viết thông qua phân tích nội dung dòng thơ để thể hiện cảm xúc của mình trước những hình ảnh tươi đẹp.
Hãy viết đoạn văn nêu cảm nghĩ của em về một yếu tố nội dung hoặc nghệ thuật mà em cho là đặc sắc nhất của bài thơ Nhật kí đô thị hoá (Mai Văn Phấn).
Tham khảo:
Bài thơ là những kí ức về thời thơ ấu gắn liền với quê hương, với hình bóng mẹ của tác giả, đồng thời là sự tiếc nuối trước sự thay đổi của cuộc sống hiện nay. Xuyên suốt bài thơ là niềm tự hào, trân trọng các giá trị truyền thống. Bày tỏ sự tiếc nuối trước sự thay đổi của cuộc sống. Ngoài ra tác giả còn thể hiện tình cảm sâu sắc đối với gia đình và ký ức thời thơ ấu.
Để nghe và nhận biết tính thuyết phục của một ý kiến về thơ tám chữ, em cần chú ý những gì?
Tham khảo:
Xin chào các bạn! Sau khi nghe bài phát biểu của các bạn về đề tài: “Trong bài thơ “Quê hương", nhà thơ Tế Hanh đã sử dụng những hình ảnh so sánh đẹp, bay bổng, đồng thời cũng sử dụng biện pháp nhân hoá một cách độc đáo để thổi linh hồn vào sự vật, khiến cho sự vật có một vẻ đẹp và ý nghĩa bất ngờ.”. Tôi nhận thấy, tính thuyết phục trong ý kiến phát biểu của các bạn về bài thơ "Quê hương" của nhà thơ Tế Hanh rất rõ ràng và mạnh mẽ. Dưới đây là phân tích về tính thuyết phục trong ý kiến này:
Thứ nhất, sử dụng hình ảnh so sánh và biện pháp nhân hoá: Bạn đã nhận định rằng nhà thơ Tế Hanh sử dụng những hình ảnh so sánh đẹp, bay bổng để mô tả quê hương, cùng với việc sử dụng biện pháp nhân hoá độc đáo để thổi linh hồn vào các sự vật. Điều này giúp tạo ra một không gian thơ mộng, khơi dậy sự tưởng tượng, làm cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp và ý nghĩa không ngờ của quê hương qua góc nhìn mới mẻ và sáng tạo.
Thứ hai, vẻ đẹp và ý nghĩa bất ngờ: Bạn đã chỉ ra rằng việc sử dụng hình ảnh so sánh đẹp và biện pháp nhân hoá độc đáo không chỉ làm tôn vinh vẻ đẹp của quê hương mà còn giúp thổi linh hồn, ý nghĩa đặc biệt vào từng sự vật, cảnh vật. Điều này tạo ra một sự kỳ diệu, bất ngờ khi người đọc khám phá ra những chi tiết, ý nghĩa ẩn sau mỗi hình ảnh và mỗi nhân hoá, tạo nên một trải nghiệm đặc biệt, sâu sắc về quê hương.
Với việc phân tích chi tiết về việc sử dụng hình ảnh, biện pháp nhân hoá và nhấn mạnh vào vẻ đẹp, ý nghĩa bất ngờ được thể hiện trong bài thơ, ý kiến của bạn đã truyền đạt một cách rõ ràng và thuyết phục về sự tinh tế, sáng tạo và phong phú trong việc mô tả quê hương trong bài thơ "Quê hương" của nhà thơ Tế Hanh.
Nghe và nhận biết tính thuyết phục trong ý kiến phát biểu của một bạn về đề tài sau: Khổ thơ đầu của bài Chiều xuân (Anh Thơ) có nhiều hình ảnh thơ gần gũi với bài thơ sau của Nguyễn Trãi:
BẾN ĐÒ XUÂN ĐẦU TRẠI
(Trại đầu xuân độ)
Phiên âm:
Độ đầu xuân thảo lục như yên,
Xuân vũ thiêm lại thuỷ phách thiên.
Dã kính hoang lương hành khách thiểu,
Cô châu trấn nhật các sa miên.
Dịch nghĩa:
Đầu bến cỏ xuân xanh lục như khói (như mây),
Lại thêm trời mưa xuân nước vỗ ngang trời.
Đường ngoài nội vắng teo ít người đi,
Thuyền mồ côi suốt ngày gác đầu lên bãi mà ngủ.
Dịch thơ:
Cỏ xuân đầu bến biếc như mây,
Thêm lại mưa xuân trời nước đầy.
Đường nội vắng teo hành khách ít
Thuyền côi gác bãi ngủ thâu ngày.
(Nguyễn Trãi, Toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976)
Tham khảo:
Xin chào các bạn! Sau khi nghe bài thơ “Bến đò xuân đầu trại” chúng ta thấy có nhiều hình ảnh thơ gần gũi với khổ thơ đầu của bài thơ “Chiều xuân” của Anh Thơ.
Thiên nhiên, cái nôi lớn của bí ẩn, luôn thay đổi vẻ đẹp theo thời gian. Vẻ đẹp kì diệu này không thể nào diễn đạt hết bằng lời. Đã có bao thơ, ca khúc được sáng tác để tả vẻ đẹp của thiên nhiên. Người nông dân, người lãnh đạo đất nước, tất cả đều bị cuốn hút bởi thiên nhiên và họ cảm thấy hòa mình vào vẻ đẹp tuyệt vời ấy.
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng cho nghệ sĩ. Từ bức tranh của nông dân đơn giản đến người trị vì đất nước, tất cả đều đắm chìm trong vẻ đẹp tự nhiên, khám phá những điều kỳ diệu của nó.
Cảnh thiên nhiên trong thơ cổ điển luôn sống động, đẹp đẽ và trữ tình. Người viết chỉ cần một vài nét vẽ, nhưng đã tạo ra những đường nét uyển chuyển, gợi cảm. Điều này khiến tâm hồn độc giả phải rung động trước vẻ đẹp trong thơ, với những nhận định tinh tế, sâu sắc và chân thực từ các nhà thơ. Trong đó, tác phẩm của Nguyễn Trãi nổi bật.
Đọc bài thơ của ông, chúng ta cảm nhận được tâm hồn nhà thơ:
Cỏ xanh như khói bến xuân tươi,
Lại có mưa xuân nước vỗ trời.
Đường đồng quạnh quẽ thưa vắng khách,
Con đò gối bãi suốt ngày ngơi.
(Bến đò xuân đầu trại - Nguyễn Trãi)
Thiên nhiên ở đây là mùa xuân tại quê hương của Nguyễn Trãi. Mùa xuân tràn ngập vẻ đẹp: cỏ xanh tươi như làn khói lam nhẹ nhàng trên bến đò. Khung cảnh huyền bí này có những hạt mưa xuân bay nhẹ, như lơ lửng ngang trời.
Câu thơ đẹp nhưng cảm giác cô độc, hư vô xen giữa cảnh đẹp tươi tắn của mùa xuân. Tại sao Nguyễn Trãi chỉ miêu tả cảnh quạnh quẽ, vắng vẻ trên con đường nhỏ? Tại sao ông không tả sự tấp nập của những người dân về làng sau buổi chợ? Sao ông chỉ chú ý đến con đò nằm trên bãi cát, trong khi nhiều cảnh đẹp khác ông bỏ qua?
Đó chính là sự hiện thực của tâm hồn Nguyễn Trãi, người lính trung hiếu, dành tâm trí cho dân tộc, nhưng ghét sự hối hả, ông rút về quê hương, sống những năm tháng cuối đời trong cảnh thiên nhiên tươi đẹp.
Cô đơn và lẻ loi giữa thời đại ông sống, không người tri kỷ, ông làm bạn với thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên, cảm nhận vẻ tươi sáng của thiên nhiên để sáng tác ra những tác phẩm xuất sắc, trữ tình và bất hủ. Tâm sự của ông đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về ông, tìm thấy sự đồng cảm với ông, và nhìn nhận khác hơn về tình cảm của ông.
Điều này giúp chúng ta trân trọng hơn những đóng góp của Nguyễn Trãi, phần nào hiểu rõ nỗi cô đơn, lạnh lẽo mà con người trải qua. Đây là đặc trưng của văn thơ Nguyễn Trãi, với phong cách “tả cảnh ngụ tình” thường thấy trong văn thơ cổ điển thời phong kiến.
