Giải SBT Ngữ Văn 9 Cánh diều Bài 9. Bi kịch và truyện có đáp án
28 câu hỏi
Nhan đề Sống, hay không sống? liên quan đến nội dung nào của văn bản?
A. Đoạn độc thoại bộc lộ tâm trạng dằn vặt của Ham-lét
B. Mâu thuẫn giữa Ham-lét và hoàng hậu – mẹ của Ham-lét
C. Ham-lét chất vấn Ô-phê-li-a về thế nào là đức hạnh
D. Ham-lét nghi ngờ âm mưu của Pô-lô-ni-út và nhà vua
Đáp án A. Đoạn độc thoại bộc lộ tâm trạng dằn vặt của Ham-lét.
Đọc nội dung giới thiệu kịch Ham-lét ở mục 1. Chuẩn bị (SGK, trang 79) và nêu bối cảnh của đoạn trích Sống, hay không sống?.
Qua đoạn giới thiệu kịch Ham-lét ở mục 1. Chuẩn bị, có thể biết bối cảnh của đoạn trích Sống, hay không sống? như sau: Cha Ham-lét bị em trai mình là Clô-đi-út hãm hại, cướp ngôi vua và chiếm đoạt hoàng hậu. Hồn ma của cha hiện về báo cho Ham-lét biết sự thật. Ham-lét giả điên để chuẩn bị trả thù cho cha.
(Câu hỏi 3, SGK) Đoạn độc thoại của Ham-lét trong đoạn trích Sống, hay không sống? thể hiện tâm trạng và thái độ gì? Những lời độc thoại ấy bộc lộ mâu thuẫn nào trong con người Ham-lét?
– Đoạn độc thoại của Ham-lét trong đoạn trích: “Sống, hay không sông – đó là vấn đề.” cho đến “xin nàng đừng quên những tội lỗi của ta.”.
- Toàn bộ đoạn độc thoại này diễn tả tâm trạng dằn vặt, đau khổ và đầy mẫu thuẫn trong tâm hồn Ham-lét: “Chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại với sóng gió của biển khổ, chống lại để mà diệt chúng đi, đằng nào cao quý hơn?”. HS chỉ ra các biểu hiện cụ thể của tâm trạng mâu thuẫn giữa buông bỏ (chết) và sống để hành động, trả thù trong đoạn độc thoại này. Đây cũng chính là mâu thuẫn, xung đột mang tính bi kịch rõ nhất trong văn bản.
(Câu hỏi 4, SGK) Xác định hai tuyến nhân vật đối lập trong đoạn trích. Nhận xét đặc điểm tính cách của hai tuyến nhân vật này.
- Trong văn bản có hai tuyến nhân vật: tuyến nhân vật chính diện, tiêu biểu là Ham-lét; tuyến nhân vật phản diện, tiêu biểu là nhà vua, hoàng hậu và Pô-lô-ni-út.
- Nhận xét tính cách của nhân vật Ham-lét: Đó là một con người có ý chí và khát vọng mạnh mẽ, luôn trăn trở dằn vặt về ý nghĩa cuộc sống. Trong lòng chàng xảy ra cuộc đấu tranh gay gắt: “Sống, hay không sống? Sống thế nào cho cao quý?”. Và chàng đã tìm ra câu trả lời: cầm vũ khí chống lại bạo ngược, cường quyền.
– Về tuyến nhân vật phản diện: Đây là các nhân vật tiêu biểu cho cái ác, cái xấu.
+ Nhà vua là Clô-đi-út, chú ruột của Ham-lét, kẻ đã giết chết anh ruột (cha Ham-lét) để kế vị rồi chiếm đoạt mẹ Ham-lét, cũng là kẻ cuối cùng bị Ham-lét kết liễu trong cuộc đấu kiếm do ông ta bày ra hòng hãm hại chàng.
+ Hoàng hậu là mẹ Ham-lét, người đã lấy em trai của chồng là Clô-đi-út và tiếp tục làm hoàng hậu. Bà đã bị trúng độc chết do uống nhầm cốc rượu mà nhà vua chuẩn bị để giết Ham-lét khi đấu kiếm.
+ Pô-lô-ni-út, một nịnh thần, cha của Ô-phê-li-a (người yêu Ham-lét). Tên nịnh thần này đã bị Ham-lét đâm chết khi nghe lén cuộc nói chuyện của chàng với mẹ.
(Câu hỏi 5, SGK) Đặc điểm bi kịch (đề tài, cốt truyện, nhân vật và kiểu xung đột) thể hiện qua đoạn trích Sống, hay không sống? như thế nào?
- Đặc điểm bi kịch thể hiện qua đoạn trích là:
+ Đề tài và cốt truyện: Viết về câu chuyện buồn, tâm trạng dằn vặt, đau đớn của nhân vật Ham-lét.
+ Nhân vật: Đoạn trích đều gồm những nhân vật xuất thân từ cung đình (vua, hoàng hậu, thái tử,...). Đặc biệt là Ham-lét, nhân vật thể hiện cho những phẩm chất, năng lực vượt trội và có khát vọng lớn,...
+ Kiểu xung đột: Kịch Ham-lét có cả hai kiểu xung đột đã nêu trong phần Kiến thức ngữ văn; nhưng ở đoạn trích Sống, hay không sống? chủ yếu thể hiện kiểu xung đột thứ hai: xung đột năm trong chính nhân vật. Đó là cuộc đấu tranh giăng xé giữa vẻ đẹp khát vọng, những giá trị tích cực của nhân vật với phần bóng tối trong nội tâm nhân vật.
Dẫn ra một vài chỉ dẫn sân khấu trong đoạn trích Sống, hay không sống? và nêu tác dụng của các chỉ dẫn ấy.
- Chỉ dẫn : Nói với Ô – phê –li – a; nói với vua;…
- Tác dụng: Giúp người đọc có thể dễ dàng hình dung các cử chỉ, hành động của các nhân vật một cách chân thực từ đó theo dõi và hiểu được nội dung toàn bộ vở kịch cũng như ý nghĩa của vở kịch.
Đoạn trích sau đây (trích kịch Ham-lét của Sếch-xpia) kể về chuyện cha Ham-lét (hồn ma) hiện về, báo cho chàng biết ông đã bị hãm hại thế nào. Em hãy đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
HỒI I, CẢNH 5
Ở một phía khác trên sân thượng.
Hồn ma và Ham-lét ra.
HAM-LÉT – Hồn định đưa tôi đi đâu? Nói đi, tôi không đi xa hơn nữa đâu.
HỒN MA (ngoảnh lại) — Hãy nghe ta.
HAM-LÉT – Tôi xin lắng nghe.
HỒN MA – Sắp đến lúc ta phải trở về nộp mình cho ngọn lửa lưu hoàng thiêu đốt ta đây.
HAM-LÉT – Trời ơi, tội nghiệp hồn quá!
HỒN MA – Chẳng cần phải thương hại ta làm gì, hãy lắng nghe những lời ta sắp phát giác đây.
HAM-LÉT – Xin cứ nói, tôi sẵn sàng nghe.
HỒN MA – Con hãy sẵn sàng trả thù cho ta, khi nghe xong lời ta nói. HAM-LÉT – Sao?
HỒN MA – Ta là hồn cha con, còn bị đoạ đày trong ít lâu nữa, đêm đêm phải đi lang thang, ngày ngày bị bỏ đói, giam mình trong lửa, cho đến khi lửa kia thiêu sạch hết những tội ác nhơ bẩn đã phạm phải khi còn sống trên cõi trần. Phải chi ta không bị cấm tiết lộ những điều bí ẩn nơi địa ngục giam cầm ta, thì ta sẽ kể cho con nghe ch một câu chuyện dị kì mà mỗi tiếng sẽ vò xé tan nát tâm hồn con, làm cho bầu máu để nóng thanh xuân phải đông giá, làm cho hai mắt con bật ra khỏi tròng như hai ngôi trị sao lạc khỏi vòng quỹ đạo, mái tóc kết chặt của con sẽ rã rời tơi tả, tóc gáy con sẽ dựng đứng lên như lông dím lúc sợ hãi. Nhưng những điều bí mật ở cõi vô cùng vô tận kia không thể kể cho người trần mắt thịt nghe được. Hãy nghe ta, hãy nghe ta, ôi hãy nghe ta nếu con vẫn thương yêu người cha thiết cốt của con.
HAM-LÉT – Ôi trời!
HỒN MA – Hãy trả thù cho cha con, chết vì một vụ ám sát bất chính nhất.
HAM-LÉT – Ám sát!
HỒN MA – Ám sát kinh tởm. Vụ ám sát nào mà chả kinh tởm, nhưng vụ này là một vụ kinh tởm nhất, nham hiểm nhất và trái đạo trời nhất.
HAM-LÉT – Xin mau mau cho con biết chuyện để con bay ngay đi trả thù với cặp cánh nhanh tựa tư tưởng hay những ý nghĩ yêu đương.
HỒN MA – Ta biết là con đã sẵn sàng. Trừ phi vô tình, lãnh đạm như cỏ dại phì nhiêu tự huỷ nát trên bờ sông Lê Thê thì mới không xúc động khi nghe những lời ta sắp nói. Ham-lét con ơi, người ta đã phao đồn lên rằng cha đang nằm nghỉ trong vườn thượng uyển thì bị rắn độc cắn. Thế là khắp đất nước Đan Mạch này đều bị lừa một cách trắng trợn mà cả tin lời thêu dệt đó. Nhưng con ơi, con trai cao quý của ta, con nên biết rằng con rắn độc đã châm nọc cướp mất đời cha con, hiện đang đội vương miện của người đó.
HAM-LÉT – Ôi tâm hồn tiên tri của ta! Chú ruột ta!
HỒN MA – Chính nó, chính thằng súc sinh loạn luân, gian dâm ấy đã đem tài cám dỗ, đem những tặng vật lừa dối – ôi, tài độc ác và tặng vật ghê gớm đã quyến rũ lòng người! - để lôi cuốn vào vòng dâm ô bỉ ổi hoàng hậu của ta, người mà xưa kia ai cũng tưởng là đức hạnh nhất trần đời. Ham-lét ơi, thật là sa đoạ. Mẹ con bỏ ta trong khi ta vẫn đường đường chính chính thương yêu mẹ con thuỷ chung như lời thế ngày hôn lễ, để ngả vào tay thăng khốn nạn ấy, bẩm sinh tài đức vốn chẳng thể sánh nổi với ta. Song niềm đức hạnh thì dù sự bất chính có khoác áo thần tiên mà ve vãn cũng không thể lay chuyển nổi, còn thói dâm ô thì dù có tắm trong ánh sáng huy hoàng của long sàng cũng chỉ có thể thoả mãn trong ô uế mà thôi. Nhưng này khoan, ta đã cảm thấy khí lạnh ban mai. Để ta kể vắn tắt con nghe: Hôm ấy, theo lệ thường, ta ra ngủ trưa ngoài vườn thượng uyển, lòng bình thản không chút hồ nghi, thì chú con chợt đến lén cầm một cái lọ đựng nhựa độc, và đổ chất độc ghê gớm vào tai ta. Chất nhựa ấy rất kị máu người, thấm vào máu là lập tức truyền đi ngay như thuỷ ngân vào khắp các ngõ ngách trong cơ thể, làm cho máu một người lành mạnh cường tráng đến đâu cũng phải đông đặc lại, như một giọt cường toan rỏ vào sữa; đúng là ta bị như thế đấy. Chỉ một khắc sau, khắp người ta đang lành lặn là thế mà loang lỗ sần sùi cả lên, kinh tởm như người mắc bệnh hủi; đấy, trong giấc ngủ, ta bị tay thằng em cướp mất cả đời sống, ngai vàng lẫn cả hoàng hậu nữa. Nó cắt đứt đời ta, không cho ta kịp ăn năn, kịp rửa tội, kịp xức dầu thánh, khiến ta lên trình diện trước mặt Chúa còn mang theo tất cả tội lỗi của ta ở chốn dương gian. Ôi! Ghê gớm! Ôi ghê gớm! Ghê gớm quá chừng! Nếu con còn có chí khí nam nhi thì đừng cúi đầu cam chịu để cho long sàng của hoàng đế Đan Mạch biến thành nơi dâm bốn của kẻ loạn luân. Thật trăm nghìn lần đáng nguyền rủa! Nhưng dù phải trả thù bằng cách nào, con cũng chớ làm nhơ bẩn tâm hồn con, đừng suy tính một sự trừng phạt nào đối với mẹ con, hãy phó mặc nó cho trời, cứ để cho chông gai cấu xé cõi lòng nó. Thôi ta phải vĩnh biệt con ngay. Đom đóm đang tắt dần ánh lửa yếu ớt, báo hiệu bình minh sắp đến kia rồi. Vĩnh biệt! Thôi vĩnh biệt! Vĩnh biệt con! Hãy nhớ đến cha!
Hồn ma vào.
HAM-LÉT - Ôi! Hỡi chư vị thánh thần trên đời! Hỡi đất! Còn gì nữa? Tôi còn phải kêu gào địa ngục nữa chăng? Chao ôi! Lòng ta ơi, hãy cố nén lại, gân cốt ta ơi, đừng có yếu chùng đi trong giây phút, hãy cứng rắn lên mà giúp cho ta đứng vững. Nhớ đến cha ư? Ôi, hỡi hồn thiêng đáng thương, khi trí nhớ còn có một địa vị trên cõi thế điên cuồng này; nhớ đến cha ư? Vâng, từ nay con sẽ xin xoá bỏ khỏi trí nhớ của con mọi kí ức tạp nham, mọi châm ngôn sách vở, mọi hình thái, mọi ấn tượng dĩ vãng mà tuổi thơ và trí quan sát của con đã ghi chép tận tường; chỉ còn lời dặn dò của cha, con xin khắc sâu vào cuốn sách của khối óc con, không để cho lẫn lộn với những việc tầm thường vô nghĩa khác. Thế đấy. Trời hỡi! Người đàn bà thâm độc đến thế là cùng! Ôi! Thằng đểu cáng, thằng đểu cáng tươi cười, thằng đểu cáng trời tru đất diệt! Bản cáo của ta đâu, cho ta ghi vào mấy dòng này: Một thằng đểu có thể tươi cười, tươi cười thơn thớt, nhưng cũng vẫn cứ là thằng đểu. Ít nhất, đó cũng là điều chắc chắn đã xảy ra trên đất nước Đan Mạch này. (Ham-lét viết) Ông chú ơi thế là tên ông đã được ghi rồi. Giờ thì đến câu khẩu niệm: “Vĩnh biệt, vĩnh biệt con hãy nhớ đến cha!”. Ta đã thề rồi đấy. [...]
(Trích Ham-lét, Đào Anh Kha – Bùi Ý – Bùi Phụng dịch,
in trong Tuyển tập tác phẩm Uy-li-am Sếch-xpia,
NXB Sân khấu và Trung tâm văn hoá Đông Tây, 2006)
a) Nội dung chính của đoạn trích trên là gì?
b) Theo đoạn trích, cha Ham-lét đã bị em trai mình hãm hại như thế nào?
c) Tính chất bi kịch của đoạn trích được thể hiện như thế nào?
d) Đoạn trích này làm rõ thêm nội dung gì cho văn bản Sống, hay không sống đã học ở Bài 9?
a) Nội dung chính của đoạn trích kể về việc hồn ma cha Ham-lét hiện về báo cho chàng biết người hãm hại mình chính là em trai ông, người đã cướp ngôi vua và chiếm đoạt hoàng hậu (mẹ Ham-lét).
b) Theo đoạn trích, cha Ham-lét đã bị em trai mình hãm hại bằng cách lấy thuốc độc đổ vào tai khi đang ngủ, sau đó loan tin giả là nhà vua bị rắn độc cắn.
c) Tính chất bi kịch của đoạn trích được thể hiện ở nội dung sự việc (em giết anh trai để chiếm ngôi vua, hoàng hậu) và mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn của các nhân vật (vua cha và Ham-lét).
d) Đoạn trích này làm rõ thêm cho văn bản Sống, hay không sống? đã học như sau: giúp người đọc hiểu thêm nhà vua (cha của Ham-lét) bị giết như thế nào và vì sao Ham-lét lại phẫn uất, đau khổ, phải giả điện để trả thù cho cha mình.
Nội dung truyện Người thứ bảy có gì giống một văn bản bị kịch?
Nội dung truyện Người thứ bảy giống một văn bản bi kịch ở chỗ: Đây là câu chuyện rất buồn về K, người bạn thân của nhân vật “tôi”, chết đuối vì bị con sóng thần cuốn trôi một cách tàn bạo; để lại một nỗi ám ảnh trong tâm hồn nhân vật “tôi” suốt mấy chục năm trời.
Xung đột nào trong văn bản thể hiện rõ tính chất bi kịch của câu chuyện?
Xung đột thể hiện rõ tính chất bi kịch của câu chuyện là sự ám ảnh trong tâm hồn nhân vật: “tôi” (người đàn ông thứ bảy, người kể câu chuyện) luôn nghĩ cái chết của K một phần do sự yếu hèn của chính mình. Đấy chính là loại xung đột thứ hai của bi kịch: xung đột nằm trong chính nhân vật. Đó là cuộc đấu tranh giằng xé giữa vẻ đẹp khát vọng, những giá trị tích cực của nhân vật với phần bóng tối trong nội tâm nhân vật.
(Câu hỏi 3, SGK) Phân tích sự chuyển biến tâm lí của nhân vật “tôi” trước và sau cái chết của K; từ đó, nhận xét về tính cách nhân vật “tôi”.
– Trước khi xảy ra kết cục bi thảm do con sóng gây ra (cuốn phăng và nuốt chửng người bạn của mình), nhân vật “tôi” và K là một đôi bạn chân thành, có tình cảm thân thiết: “tôi thích ở bên cạnh K là vì cậu ấy có một trái tim rất ấm áp và chân thành”.
– Tâm lí của nhân vật “tôi” thay đổi hoàn toàn sau khi xảy ra cái chết của K:
+ Đầu tiên là sự bất ngờ đến hoang đường, khi con sóng thứ hai sắp ập đến cuốn “tôi” đi theo K thì “tôi” thấy: “Bên trong con sóng là K, cậu nhìn thẳng vào tôi và cười.”, “Đó không phải là nụ cười bình thường, mà là một nụ cười to, ngoác tận mang tai. Đôi mắt lạnh lẽo của cậu nhìn thẳng vào tôi.”.
+ Tiếp theo, toàn bộ phần (2) tái hiện tâm trạng do cú sốc tâm lí làm cuộc sống của “tôi” thay đổi hoàn toàn: “Tôi nghỉ học nhiều tuần, không ăn uống được gì, chỉ nằm trên giường và nhìn trần nhà. K luôn ở đó, bên trong con sóng, nhìn tôi và cười, tay giơ lên vẫy gọi. Tôi không thể xoá hình ảnh tang thương ấy ra khỏi tâm trí mình. Và khi tôi ngủ, hình ảnh ấy lại hiện lên ...”.
+ Sự ám ảnh giày vò khiến “tôi” phải chuyển đến một nơi khác và sau đó “tránh xa quê nhà mình gần như bốn mươi năm” không dám trở lại bãi biển quê nhà, “tôi không bao giờ đến hồ bơi nữa. Tôi cũng không đến những nơi có ao hồ hay sông suối. Tôi tránh xa mọi tàu thuyền và không đi máy bay để ra nước ngoài.”, luôn thấy “bàn tay lạnh lẽo của K, hình ảnh đen tối khi ấy không bao giờ rời khỏi tâm trí tôi”,...
Từ sự chuyển biến tâm lí trên, có thể thấy nhân vật “tôi” là người có cuộc sống nội tâm rất phong phú, đa cảm, luôn biết tự kiểm điểm, ăn năn, đau khổ trước lỗi lầm của mình,...; một con người biết trân trọng tình bạn, nặng tình, nặng nghĩa,...
(Câu hỏi 4, SGK) Hình ảnh con sóng dữ dội và nụ cười của nhân vật K trong con sóng được nhắc lại nhiều lần có ý nghĩa và tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung truyện?
Hình ảnh con sóng dữ dội và nụ cười của nhân vật K trong con sóng được nhắc lại nhiều lần diễn tả nỗi ám ảnh, sự dằn vặt trong tâm hồn nhân vật “tôi” về con sóng dữ và cái chết của K.
(Câu hỏi 5, SGK) Truyện Người thứ bảy muốn gửi đến bạn đọc thông điệp gì? Đoạn kết của truyện có phải là nội dung thông điệp ấy không? Vì sao?
– Truyện Người thứ bảy gửi gắm nhiều thông điệp và cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau về thông điệp ấy. Tuy nhiên, có thể thấy, thông điệp chính tập trung phần cuối truyện, điều mà nhân vật “tôi” nói với mọi người: Trong cuộc đời mỗi con người luôn có những nỗi sợ; cách tốt nhất là phải đối mặt với nỗi sợ, đừng đầu hàng trước nó. “Thứ đáng sợ nhất mà chúng ta làm khi ấy lại là quay lưng về phía nỗi sợ và nhắm mắt lại. Khi đó, chúng ta sẽ giữ lại thứ gì quý nhất đối với bản thân, giấu nó vào trong tim mình và đầu hàng trước một thứ khác.”.
- Sở dĩ coi đây là thông điệp chính vì toàn bộ câu chuyện đã tập trung thể hiện tư tưởng này. Nhân vật “tôi” chỉ vì sợ hãi trước con sóng lớn khủng khiếp mà đã không xả thân vì K: “Tôi tự nói với bản thân hãy chạy lại chỗ K, kéo cậu ấy đi ra khỏi chỗ đó. Đó là việc duy nhất cần phải làm. Tôi biết con sóng đang tới, còn K thì không Khi tôi nhận thức được hành động của bản thân, tôi đã chạy sang một con đường khác – chạy lên bờ đê, một mình. Thứ khiến tôi hành động như vậy, tôi chắc chắn, đó là nỗi sợ, nỗi sợ đã khiến giọng nói tôi tắt nghẹn và khiến chân tôi chạy đi thật ta”. Khi nhận ra được điều đó, nhân vật “tôi” đã thay đổi trước con sóng thứ hai: “Nó lao về phía tôi, xoá sạch sự hiện diện của bầu trời. Nhưng lần này tôi không chạy trốn. Tôi đứng đó, chân lún vào cát, để con sóng nhào đến mình.”. Nhưng khi ấy thì đã muộn, K đã bị con sóng đầu nuốt chửng, để lại cho nhân vật “tôi” sự ám ảnh mấy chục năm liền.
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
SAO SÁNG LẤP LÁNH
Đó là năm 1972.
Tiểu đội trinh sát của tôi được bổ sung một lính mới, rất trẻ, vừa tròn mười tám tuổi. Cậu ta tên là Minh, người Hà Nội. Tuổi trẻ mà, chúng tôi quý nhau ngay như anh em ruột thịt. Một đêm mưa rừng, cánh lính trẻ chúng tôi mắc võng năm tán gẫu... Tôi lấy tấm hình vợ chưa cưới của mình ra cho đồng đội xem. Đến lượt Minh, cậu ta cầm tấm ảnh trên tay bỗng cười cười cất tiếng:
– Vợ chưa cưới của tiểu đội trưởng rất đẹp... Nhưng chưa đẹp bằng người yêu của em.
Cả tiểu đội nhao nhao:
Ảnh đâu?... Đưa ra đây xem nào!
Minh gãi đầu buồn bã:
– Các vị quên à?... Trước khi đi B, cấp trên chẳng thu hết các giấy tờ, tấm ảnh của người thân rồi còn gì.
– Sao mày không cố giấu lấy tấm hình của người yêu?
– Ngày đó không biết, nghe lời cấp trên mới ngốc chứ!
– Người yêu làm nghề gì?
– Học sinh trường múa Việt Nam.
– Trời!
Tất cả trầm trồ xuýt xoa. Bởi chắc chắn rằng học sinh trường múa phải đẹp hớp hồn. Có tiếng nói lại vang lên:
– Tên là gì?
– Tên là Hạnh.
– Làm quen... và yêu như thế nào, kể cho bọn tao nghe đi.
Minh lại cười cười:
– Ờ thì kể. Nhưng cấm mọi người được cười đấy.
Rồi cậu ta nhìn vào ngọn lửa bập bùng cất tiếng nói:
“Hồi còn đóng quân ở gần Hà Nội, có một hôm, tớ được tranh thủ về thăm nhà. Bước chân lên chuyến xe buýt Cầu Giấy – Bờ Hồ, tớ vô tình đứng sau một cô gái mặc áo hoa. Tò mò muốn xem cô có đẹp không, nên tớ cố len lên. Chưa kịp nhìn đã va phải cô ấy. Cô gái lườm rồi đứng tránh ra. Tớ ngượng quá, ấp úng:
– Xin lỗi!... Tôi không có tiền mua vé. Bạn có thể mua giùm tôi được không?
Cô gái nhìn nghi ngờ. Anh bán vé tiến lại. Cô lấy tiền mua hai chiếc vé. Rồi đưa cho tớ một chiếc nhưng không nói một lời. Tớ vẫn đứng như trời trồng, thỉnh thoảng lại nhìn trộm... Một cô gái mắt to và sáng lấp lánh như sao. Xe đỗ cạnh Bờ Hồ.
Cô gái bước xuống. Không hiểu sao tớ cũng bị bước theo như sắt gặp nam châm. Tớ đi sau cô khoảng mười lăm bước chân. Cô gái rẽ trái, tớ cũng rẽ trái. Cô rẽ phải tớ cũng rẽ phải. Bỗng cô gái quay lại, cất tiếng:
– Anh bộ đội... Tại sao anh lại đi theo em?
Tớ cười, gãi đầu, ấp úng:
− Tôi... tôi... muốn biết nhà... để trả tiền.
Cô gái cười giòn:
– Không... không phải trả tiền đâu.
Rồi cô chạy vụt vào sau một cái cổng sắt. Mặt tớ đỏ bừng, bước đi như người say rượu.
Chiều hôm sau, tớ quay lại để trả tiền vé xe buýt. Gặp cô gái, tớ liều lĩnh mời cô đi xem phim. Cô đã nhận lời... Và chúng tớ yêu nhau.”.
Đêm đó, khi cơn mưa rừng vừa tạnh, những người lính chúng tôi cứ nhìn những vì sao lấp lánh trên bầu trời... mà không ngủ được.
Sáu tháng sau, một đêm tháng Mười, tôi và Minh được phái đi trinh sát cảng Cửa Việt. Sau ba tiếng đồng hồ tiếp cận mục tiêu, hai đứa rút ra ngoài. Ba giờ sáng, chúng tôi cố gắng băng ngang qua những đồi cát trắng mênh mông để trở về căn cứ. Bỗng một loạt pháo dàn từ biển bắn vào. Tôi bò xoài lăn mình trên cát để tránh. Sau loạt đạn, tôi chồm dậy cất tiếng gọi. Không có tiếng trả lời. Tôi vùng dậy chạy ngay đến chỗ Minh. Cậu ta nằm úp sấp. Một mảnh pháo đã cắm vào ổ bụng. Máu trào qua lớp áo. Tôi băng bó rồi cõng Minh đi thật nhanh. Máu từ vết thương trào ra thấm ướt lưng tôi rồi nhều xuống cát trắng. Bỗng Minh tỉnh lại, thều thào:
– Anh!... Để em xuống đi... Em không sống được nữa đâu.
Tôi khẽ đặt Minh nằm xuống đồi cát. Minh nhìn tôi, giọng đứt đoạn:
– Anh chôn em tại đây... Cố về đơn vị nhanh kẻo trời sáng.
Gió biển thổi vù vù. Người Minh lạnh toát. Tôi nắm lấy tay Minh, cuống cuồng:
_ Thế ... Thế... Em có nhắn gì cho Hạnh?
Minh cố cười:
– Chuyện... chuyện đó em tưởng tượng đấy! Em chưa được cô gái nào yêu cả. Cũng tại em mồ côi cha mẹ nên không còn người thân nào hết...
Nước mắt tôi trào ra. Bỗng Minh lại lên tiếng:
– Em có một lá thư... ở trong túi áo ngực. Bao giờ hoà bình, anh đem bỏ vào thùng thư hộ em...
Một cơn gió thổi đến. Người đồng đội của tôi theo gió ra đi. Tôi sờ túi áo ngực của Minh, thấy một mảnh giấy gấp làm tư. Tôi vội vã bấm đèn pin để đọc. Trong tờ giấy chỉ có mỗi một dòng chữ liêu xiêu: “Hạnh ơi!... Anh cô đơn lắm...”. Và kí tên.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi theo đoàn quân ào ạt tiến về giải phóng Sài Gòn. Năm giờ chiều, thành phố tràn ngập cờ hoa. Tôi thẫn thờ ra chợ mua một cái phong bì. Rồi bỏ lá thư bị vương máu vào trong. Bên ngoài bì thư tôi viết: Gửi Hạnh – Học sinh trường múa Việt Nam – Khu Cầu Giấy, Hà Nội.
Những người lính trong tiểu đội của tôi tin rằng... lá thư đó đã đến tay cô gái có đôi mắt như vì sao sáng lấp lánh.
(Nguyễn Thị Ấm, tailieu.vn)
a) Tóm tắt nội dung chính của truyện Sao sáng lấp lánh.
b) Chi tiết nào tạo nên sự bất ngờ nhất trong truyện ngắn Sao sáng lấp lánh?
c) Nhan đề Sao sáng lấp lánh liên quan đến nội dung truyện như thế nào?
d) Em có suy nghĩ gì về nhân vật Minh trong truyện ngắn trên?
a) Nội dung chính: Tác phẩm là câu chuyện mà nhân vật tôi kể về cậu tiểu đội trưởng trẻ tuổi tên là Minh của mình. Trong lần đầu gặp gỡ Minh kể cho mọi người nghe về Hạnh – cô người yêu xinh xắn với đôi mắt sáng lấp lánh như sao của mình. Câu chuyện tuyệt đẹp cho đến sáu tháng sau trong một đêm tháng Mười, Minh gặp nạn khi đi trinh sát tại cảng Cửa Việt. “Tôi” đã rất đau buồn và tuyệt vọng. Cho đến tận bấy giờ “tôi” mới biết Hạnh chỉ là tưởng tượng. Đến khi giải phóng Sài Gòn “tôi” đã gửi đi lá thư mà Minh viết cho cô gái có đôi mắt như vì sao lấp lánh.
b) Chi tiết tạo nên sự bất ngờ nhất trong truyện ngắn Sao sáng lấp lánh là mãi đến khi biết mình không sống được, Minh mới nói thật với nhân vật “tôi” rằng người yêu của Minh (Hạnh) là do mình tưởng tượng ra: “Chuyện... chuyện đó em tưởng tượng đấy! Em chưa được cô gái nào yêu cả. Cũng tại em mồ côi cha mẹ nên không còn người thân nào hết...”.
c) Nhan đề “Sao sáng lấp lánh” liên quan trực tiếp đến nội dung văn bản. gắn liền với sự kiện người lính trẻ tên Minh, trước khi hi sinh vì bom đạn địch trong một đêm đi trinh sát tại cảng Cửa Việt (Quảng Trị) vào những ngày nóng bỏng của cuộc chiến đấu (1972) đã trăng trối lại rằng câu chuyện tình yêu lãng mạn với Hạnh mà anh kể cho đồng đội nghe chỉ là tưởng tượng.
d) Nhân vật Minh là một người lính đã anh dũng ngã xuống chiến trường, khi tuổi còn rất trẻ, khi người yêu chỉ là trong tưởng tượng chứ không có thật (mà cứ làm như thật), đúng như nhà thơ Trần Đăng Khoa viết trong bài Lính đảo hát tình ca trên đảo:
Yêu em thuỷ chung hơn muối mặn
Dù thư tình chưa biết gửi cho ai.
Dựa vào nội dung giới thiệu kịch Kim tiền ở mục 1. Chuẩn bị (SGK, trang 93), hãy nêu đặc điểm của thể loại bi kịch thể hiện qua nội dung của vở kịch này.
Từ nội dung giới thiệu kịch Kim tiền trong SGK, có thể nêu đặc điểm của thể loại bi kịch:
- Thứ nhất, đề tài vở kịch viết về câu chuyện buồn bã, đau đớn với những tình huống căng thẳng và kết thúc bi thảm. Câu chuyện xoay quanh sự việc buồn về cuộc đời nhân vật Trần Thiết Chung: từ chỗ là một người coi thường tiền bạc, vật chất, trọng danh dự, phẩm giá,... đến chỗ bị tiền chi phối, trở thành ông chủ mà tham lam, gia đình tan nát và cuối cùng chết vì tiền.
- Thứ hai, xung đột trong vở kịch thể hiện ở cả hai loại:
+ Xung đột giữa những khát vọng đẹp đẽ của nhân vật với hoàn cảnh thực tế: Độ là xung đột, mâu thuẫn giữa cuộc sống vật chất (tiền bạc) với cuộc sống hạnh phúc của gia đình, xã hội,...
+ Xung đột nằm trong chính nhân vật: Đó là cuộc đấu tranh giằng xé giữa vẻ đẹp khát vọng, những giá trị tích cực của nhân vật Trần Thiết Chung khi còn trẻ, chưa bị tha hoá bởi đồng tiền với phần bóng tối của cuộc sống nợ nần, cơm áo ghì sát đất trong nội tâm nhân vật.
Kết thúc câu chuyện đầy các xung đột bi kịch: gia đình đảo lộn, con bóp cổ mẹ kế, những người nổi dậy giết ông chủ mỏ Trần Thiết Chung,...
(Câu hỏi 2, SGK) Em dựa vào những chi tiết nào để biết được bối cảnh và tình hình căng thẳng của câu chuyện?
Để biết bối cảnh và tình hình căng thẳng của câu chuyện, cần chú ý:
- Các chỉ dẫn sân khấu (in nghiêng trong văn bản); ví dụ: Bỗng có tiếng nói leo xéo, tiếng giày chạy thình thịch lên cầu thang, rồi cửa phía buồng kế toán mở bung ra. Người loong toong mặt cắt không ra một hột máu, hớt hơ hớt hải chạy vào, nhìn về phía bàn giấy không có ai, liền chạy thẳng đến cửa buồng ăn thông vào tư thất của ông Chung.
Lời thoại của nhân vật; ví dụ, chi tiết ông Chung gọi điện cho đồn lính Tây như: “Tôi đây... tôi là ông Chung, chủ mỏ Tiêu Giao đây... Vâng... cu li ở mỏ tôi nó nổi loạn... Nó đương kéo nhau phá nhà kho... Vâng... nguy cấp vô cùng, quan đi vắng thì ông cứ cho ngay ông quản đem ngay lính lại dẹp bọn cu li giúp tôi... Vâng... nếu chờ quan thì chậm quá... có thể nguy đến tính mệnh chúng tôi mất... Vâng, ông giúp chúng tôi, không bao giờ chúng tôi dám quên ơn... Vâng... hai chục người mới được... A lô! A lô! A lô!...”.
(Câu hỏi 3, SGK) Phân tích nhân vật ông chủ mỏ Trần Thiết Chung qua thái độ, lời thoại và hành động,...
Thái độ của nhân vật trong kịch đều thông qua hành động và ngôn ngữ (lời thoại). Nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên trong đoạn trích là một ông chủ mỏ luôn bình tĩnh, cứng rắn. Điều đó được thể hiện qua các lời thoại và hành động như:
- Lời thoại:
+ Nói với bà Ba: “Lính ở đồn đến bây giờ, không sợ.”, “Ô hay, sợ cái gì... Mình cứ để tôi ra xem chúng nó nói gì... Có súng đây, sợ gì...”,
+ Hoặc đối thoại với những người nổi loạn: “Nếu ai không nghe lời, còn đứng làng vàng ở ngoài đường, lính ở đồn xuống ngay bây giờ, tôi sẽ hạ lệnh bắn về tội phiến loạn.......
- Hành động: gọi điện cho đồn lính khố xanh, ra lệnh chặn cửa, giằng tay bà đi ra chỗ cửa sổ, để khẩu súng lục một bên, chống hai tay thắng ra, ghé đầu ra ngoài nhìn xuống,…
(Câu hỏi 4, SGK) Qua đoạn trích, hãy nhận xét cách xây dựng diễn biến xung đột của tác giả.
Diễn biến xung đột trong đoạn trích được xây dựng theo hướng ngày càng căng thẳng, bất ngờ.
- Ban đầu: Sau khi được loong toong báo có nổi loạn, bên ngoài xa xa có tiếng hò reo, lúc rõ, lúc không rõ, tuỳ theo gió thổi, Trần Thiết Chung gọi điện thoại nhờ đồn Tây giúp.
- Trong khi ông nói tê-lê-phôn, tiếng ồn ào càng ngày càng to hơn, bà Ba nhìn ông rồi lại nhìn ra cửa.
- “Bà Ba (Đương nhìn qua cửa sổ bỗng kêu rú lên) – Mình ơi, nó kéo đổ cột dây thép... mình gọi mau lên, đổ rồi!”.
- Ông Chung sai loong trong chặn cửa: “Này, này! Anh kéo thêm bàn ghế mà chận thêm vào nữa, nghe không! Mau lên!... Mau lên!”.
- Ông nói rồi lại bàn giấy, kéo ngăn kéo, lấy ra một khẩu súng lục và giơ ra.
- Khi quân nổi loạn đốt nhà kho: “Bà Ba (Bỗng kêu to lên) – Mình ơi! Khói! Khói ở đằng nhà kho... Thôi chết rồi, chúng nó đốt nhà kho, mình ơi!”.
- Trần Thiết Chung buộc phải ra cửa sổ đối thoại với những người nổi dậy, đã bị thương và chết.
- Kết thúc bất ngờ: Cả Bích nhảy vào bóp cổ bà Ba và mở két tủ, những người nổi dậy phá tung cửa xông vào.
Dẫn ra một số chỉ dẫn sân khấu trong đoạn trích và phân tích tác dụng của các chỉ dẫn đó.
- Một số chỉ dẫn sân khấu như: “Có tiếng giày ở trong buồng…”; “Bỗng kêu to lên”; “Ông nói rồi lại bàn giấy kéo ngăn kéo…); …
- Những chỉ dẫn sân khấu này đã giúp cho tác phẩm trở nên sinh động, hấp dẫn, tạo tiếng cười sảng khoái, khiến cho không khí tuồng càng về sau trở nên hấp dẫn. Đây cũng coi là một phần tạo nên cái hay cho vở kịch, giúp vở kịch trở nên đặc sắc hơn. Những chỉ dẫn sân khấu này đã giúp cho nhân vật tỏa sáng, lộ rõ bản chất, cá tính nhân vật.
Đọc đoạn trích sau (trích Đình công và nổi dậy – Vi Huyền Đắc) và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Tiếng ở dưới đường (Lại ồn ào hơn trước) – Anh em ơi! Ông ấy gọi lính về để bắn chết anh em... Bắn thì bắn... không sợ... Có giỏi cứ bắn chết cả đi xem nào... Anh em ơi! Đừng đợi lính đến, phá, phá cái nhà này đi cho ông... Phá... đốt... phá!
Rồi ở trong những tiếng ồn ào bỗng có tiếng nổ to hơn. Dứt tiếng nổ thì thấy ông Chung giơ tay phải bưng lấy trán, còn tay trái, ông vịn vào vai bà Ba. Bà nhìn lên thấy máu ở trán ông chảy ròng ròng xuống tay ông thì kêu rú lên.
Bà Ba – Ối giời ơi, nó bắn chết chồng tôi rồi... (Bà vừa kêu vừa khóc, vừa dìu ông, đỡ ông ngồi xuống ghế. Ông vừa ngồi xuống ghế xong thì xoài tay ra, gục đầu xuống bàn, bất tỉnh nhân sự. Bà cuống quýt, rờ vào chỗ vết thương, ngước mắt nhìn quanh quẩn để cầu cứu, nhưng không thấy ai. Bà lại lay ông) Ông ơi! Ông ơi! Ông ơi! Ới ông ơi! (Ông nấc lên một cái rồi xoài hẳn người ra, một tay buông thõng xuống. Bà ôm chặt lấy ông, mặt ngơ ngác như hoá điên) Ới giời ơi! Giời đất ơi! Chồng tôi chết rồi! Có ai cứu chúng tôi... Ới giời ơi! (Bà rờ trán ông, rồi lại rờ tay ông. Bà chạy đi, chạy lại, rồi lại đứng dừng lại, ngẫm nghĩ một lát. Sau vụt đến bên ông, thò tay móc túi ông, túi bên phải, túi bên trái, rồi bà rút ra một chùm chìa khoá. Bà đi ra tủ két tìm chìa khoá cho vào lỗ khoa. Ngay lúc bấy giờ, cái cửa kính phía tay phải bỗng bật tung ra, kính vỡ rơi loảng xoảng. Bà giật mình, dừng tay nhìn ra. Một người đàn ông bận đồ Tây nhảy xuống sàn. Người ấy đứng nhìn các phía rồi chạy xông lại phía tủ két. Bà Ba hình như đã nhìn rõ người đàn ông nên kêu rú lên) Cả Bích! Mày... (thì vừa bị người đàn ông nhảy xổ vào giơ hai tay bóp cổ. [...] Cả Bích, vì chính người đàn ông ấy là cả Bích, đẩy bà Ba ngã ra đấy, rồi ra tủ két mở tủ. Cả Bích vừa xoay cái chìa thì có tiếng rầm rộ ở buồng kế toán. Cửa bị phá tung ra. Kẻ xẻng, người cuốc, kẻ dao, người gây ùa vào). [...]
Màn hạ thật nhanh.”
a) Nhận biết và dẫn ra ví dụ cụ thể của các yếu tố: tên nhân vật, lời nhân vật, chỉ dẫn sân khấu trong đoạn trích trên.
b) Điều gì khiến người đọc bất ngờ khi đọc đoạn trích trên? Dẫn ra chi tiết mà em thấy bất ngờ nhất.
c) Trong đoạn trích trên, vì sao tác giả chủ yếu sử dụng các chỉ dẫn sân khấu?
d) Em hãy hình dung về kết cục của câu chuyện gia đình Trần Thiết Chung.
a) Trong đoạn trích có tất cả các yếu tố: nhân vật, lời nhân vật và chỉ dẫn sân khấu.
- Tên nhân vật, ví dụ: Bà Ba.
- Lời nhân vật, ví dụ: “Ối giời ơi, nó bắn chết chồng tôi rồi...”.
- Chỉ dẫn sân khấu, ví dụ: Bà vừa kêu vừa khóc, vừa dìu ông, đỡ ông ngồi xuống ghế. Ông vừa ngồi xuống ghế xong thì xoài tay ra, gục đầu xuống bàn, bất tỉnh nhân sự.
b) Người đọc bất ngờ khi đọc đoạn trích trên vì diễn biến câu chuyện quá nhanh, mâu thuẫn căng thẳng giữa các nhân vật bị đẩy lên đỉnh điểm,... Chi tiết bất nhất là; lúc hỗn loạn ấy, nhân vật Cả Bích (con trai cả của Trần Thiết Chung) xuất hiện: nhảy xổ vào giơ hai tay bóp cổ bà Ba, đẩy bà Ba ngã ra đấy, rồi ra tủ két mở tủ để lấy tiền...
c) Trong đoạn trích trên, tác giả chủ yếu sử dụng các chỉ dẫn sân khấu vì dùng lời thoại không thể tái hiện được bối cảnh và hành động của nhân vật trong tình huống rất hỗn loạn, căng thẳng mà phải thông qua các chỉ dẫn sân khấu.
d) Kết cục của câu chuyện gia đình Trần Thiết Chung: Gia đình ông bị nhân dân lao động đánh trả lại hết những thiệt thòi, khổ cực mà gia đình ông Chung đã bóc lột.
Tìm một số từ phức (từ ghép, từ láy) có chứa các yếu tố dưới đây. Chỉ ra nét chung và nét khác biệt giữa các từ có chung yếu tố cấu tạo.
a) lạnh; ví dụ: lạnh giá,...
b) nhẹ; ví dụ: nhè nhẹ,...
a. lạnh tanh, lành lạnh, lạnh cóng, lạnh nhạt, lạnh lẽo, lạnh toát…
b. nhỏ nhẹ, nhẹ nhàng, nhẹ nhõm, nhẹ lòng, nhẹ dạ…
=> Nét chung và nét khác biệt giữa các từ có chung yếu tố cấu tạo là:
- Đều có yếu tố cấu tạo giống nhau là từ “lạnh” và từ “nhẹ”
- Khác: Tuy yếu tố cấu tạo giống nhau nhưng trật tự các yếu tố khác nhau.
(Bài tập 3, SGK) Chỉ ra sự khác biệt về nghĩa giữa các yếu tố Hán Việt dưới đây:
- đồng: đồng âm, đồng bào, đồng ca / đồng dao, mục đồng, thần đồng.
- giai: giai nhân, giai phẩm, giai thoại / giai cấp, giai đoạn, giai tầng / giai lão, bách niên giai lão.
- minh: minh châu, minh quân, minh tinh / chứng minh, thuyết minh, minh oan / đồng minh, liên minh.
- tân: lễ tân, tân khách, tiếp tân / tân binh, tân dược, tân thời.
- vị: định vị, hoán vị, kế vị / vị quốc, vị tha / vị lai, vị tất, vị thành niên.
- Từ "Đồng":
+ Đồng âm: âm giống nhau nhưng có nghĩa khác nhau.
+ Đồng bào: người cùng dòng huyết.
+ Đồng ca: hát chung một bài ca.
+ Đồng dao: cùng một điệu nhịp, khích lệ nhau.
+ Mục đồng: trẻ em chăn gia súc.
+ Thần đồng: người có tài năng vượt trội.
- Từ "Giai":
+ Giai nhân: người phụ nữ tài sắc vượt trội.
+ Giai phẩm: phẩm chất tốt đẹp của người.
+ Giai thoại: câu chuyện huyền bí, truyền kỳ.
+ Giai cấp: tầng lớp xã hội.
+ Giai đoạn: giai đoạn.
+ Giai tầng: tầng lớp xã hội.
+ Giai lão: người cao tuổi, lão luyện.
+ Bách niên giai lão: người sống được trăm tuổi.
- Từ "Minh":
+ Minh châu: viên ngọc sáng.
+ Minh quân: ông vua sáng suốt.
+ Minh tinh: ngôi sao nổi tiếng.
+ Chứng minh: xác định căn cứ đó là đúng hay sai, có hay không.
+ Thuyết minh: giải thích, làm rõ.
+ Minh oan: rõ ràng, công bằng.
+ Đồng minh: Cùng đứng về một phía, liên kết với nhau để hành động vì mục đích chung.
+ Liên minh: Sự kết hợp giữa hai hay nhiều lực lượng để cùng chiến đấu cho một mục đích chung
- Từ "Tân":
+ Lễ tân: người đón tiếp.
+ Tiếp tân: đón tiếp, chào đón.
+ Tân khách: khách mới, người đến mới.
+ Tân binh: người lính mới.
+ Tân dược: loại thuốc mới.
+ Tân thời: thời đại mới.
- Từ "Vị":
+ Định vị: xác định vị trí.
+ Hoán vị: sắp xếp lại theo thứ tự khác.
+ Kế vị: người thừa kế vị trí.
+ Vị quốc: vì quốc gia, đất nước.
+ Vị tha: lòng từ bi, sự thông cảm.
+ Vị lai: tương lai.
+ Vị tất: vĩnh viễn, mãi mãi.
+ Vị thành niên: tuổi trẻ.
(Bài tập 4, SGK) Tìm các từ ghép Hán Việt trong những câu dưới đây, chỉ ra nghĩa của mỗi từ ghép Hán Việt tìm được và nghĩa của mỗi yếu tố cấu tạo nên chúng.
a)
Tái sinh chưa dứt hương thề,
Làm thân trâu ngựa, đền nghì trúc mai.
(Nguyễn Du)
b) Khi nhận được đường chuyền của thằng Phước, tôi lướt xuống sút vào gôn đội nó một quả tuyệt đẹp thì nó la toáng lên bảo tôi việt vị. (Nguyễn Nhật Ánh)
a)
- Tái sinh: Tái có nghĩa là "lại", sinh có nghĩa là "sống, sanh ra".
=> Tái sinh ám chỉ quá trình tái sanh, sinh ra lại sau khi chết.
- Trâu ngựa: Trâu là con vật có sức mạnh, ngựa là linh cẩu nhanh nhẹn.
=> Trâu ngựa: thường đề cập đến sự vất vả, bị chà đạp.
- Đền nghì: Đền có nghĩa là trạm dừng chân, nghì đề cập đến ngựa.
=> Đền nghì ám chỉ trạm ngựa, nơi dừng chân của ngựa.
- Trúc mai: Trúc là tre, mai là cây hoa mai.
=> Trúc mai: thường xuất hiện trong thơ ca, ám chỉ vẻ đẹp xuân tươi của thiên nhiên.
b)
- Việt vị: Việt ở đây liên quan đến vị trí, định vị. Trong bóng đá, việt vị nghĩa là bị việt vị, đứng ở vị trí không hợp lệ, thường dùng để ám chỉ việc đối thủ ở vị trí việt vị.
Dựa vào cách hiểu nghĩa của các từ ghép Hán Việt và nghĩa của mỗi yếu tố cấu tạo nên các từ đó ở bài tập 3, hãy phát hiện và sửa lỗi về dùng từ trong những câu dưới đây:
a) Sau khi được tái lập lại, tỉnh này đã có những bước phát triển mạnh mẽ.
b) Bàn thắng không được trọng tài công nhận vì cầu thủ ghi bàn đã mắc lỗi liệt vị.
a. “tái lập”: lập lại, xây dựng lại (sau một thời gian bị ngưng hoặc đình trệ)
= > Sửa: Sau khi được thiết lập lại, tỉnh này đã có những bước phát triển mạnh mẽ.
b. “công nhận”: thừa nhận là đúng với sự thật, với lẽ phải hoặc là hợp lệ
= > Sửa: Bàn thắng không được trọng tài ghi nhận vì cầu thủ ghi bàn đã mắc lỗi liệt vị.
Nêu các điểm cần lưu ý khi viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch
Để viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm kịch, các em cần chú ý:
- Xác định rõ yêu cầu nghị luận (nếu là bài làm theo đề đã cho thì yêu cầu này được thể hiện ở đề bài).
- Đọc lại tác phẩm hài kịch là đối tượng phân tích.
- Xác định vấn đề cụ thể (nội dung, hình thức) mà bài viết sẽ tập trung làm sáng rõ.
- Thực hiện các bước theo quy trình viết bài văn nghị luận.
- Chú ý lựa chọn, sử dụng bằng chứng trong tác phẩm để lí giải, phân tích, đưa ra nhận xét, góp phần khẳng định giá trị của tác phẩm.
- Bài viết cần tránh việc chỉ kể lại đơn thuần nội dung hay nhận xét về giá trị nội dung, nghệ thuật một cách chung chung, thiếu thuyết phục.
Trả lời câu hỏi ở mục b) Tìm ý và lập dàn ý trong SGK trang 98: “Nếu không có những lời độc thoại của Ham-lét thì điều đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến việc thể hiện mâu thuẫn trong nhân vật? Từ đó, em có nhận xét gì về giá trị nội dung nghệ thuật của những lời độc thoại?”.
Nếu không có những lời độc thoại của Ham-lét thì điều đó sẽ ảnh hưởng rất đến việc thể hiện mâu thuẫn trong nhân vật. Vì khi đó, người đọc không thấy được mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn nhân vật này. Đây vốn là loại mâu thuẫn thứ hai của bi kịch: “Xung đột nằm trong chính nhân vật. Đó là cuộc đấu tranh giằng xé giữa vẻ đẹp khát vọng, những giá trị tích cực của nhân vật với phần bóng tối trong nội tâm nhân vật.”.
Từ đó, nêu nhận xét về giá trị nội dung, nghệ thuật của những lời độc thoại.
(SGK) Viết đoạn văn giải thích khái niệm độc thoại.
Tham khảo:
Như chúng ta đã biết, độc thoại là hình thức đối đáp với chính bản thân mình hoặc ai đó trong tưởng tượng được hư cấu tạo dựng lên. Hình thức độc thoại cũng được thể hiện cất tiếng ra thành lời khi nhân vật nói chuyện. Độc thoại là một trong những hình thức biểu lộ rõ những điều mà các tác giả của các tác phẩm tự sự mong muốn gửi gắm tới độc giả của mình. Đó có thể là những cảm xúc đau đớn, bế tắc, vô vọng, ngăn cản, mâu thuẫn với chính bản thân mình. Đó có thể là những lời động viên bản thân không được bỏ cuộc, phải cố gắng theo đuổi nhiều hơn nữa. Hoặc đó có thể là nỗi nhớ, những mất mát về một ai đó, một nơi nào đó mà nhân vật luyến tiếc, tiếc nuối mong muốn hàn gắn,… Có rất nhiều điều mà tác giả muốn gửi gắm tới độc giả của mình, là những bài học bổ ích, là những lời khuyên mà cách tốt nhất chính là lựa chọn để cho nhân vật của chính mình tự độc thoại với chính bản thân nhân vật.
Nêu những điểm cần chú ý khi thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống.
Để thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống, các em cần chú ý: - Quan sát, tìm hiểu thực tế đời sống để phát hiện và lựa chọn được vấn đề nêu ra; về các ý kiến của những người khác cùng tham gia thảo luận vấn đề (đồng tình, đồng tình một phần, hoặc không đồng tình với các ý kiến khác về vấn đề thảo luận).
- Khi trình bày, cần đưa ra được các lí lẽ, kèm theo phân tích những bằng chứng tin cậy thể hiện quan điểm của bản thân.
- Khi thảo luận cần nêu được nhận xét, đánh giá về ý kiến của các thành viên khác trong nhóm; nếu không đồng tình vẫn cần thể hiện sự tôn trọng người cùng tham gia thảo luận.
- Có thể kết hợp sử dụng phương tiện hỗ trợ như tranh, ảnh, video… và máy chiếu, màn hình (nếu có) để thăng hiệu quả thuyết phục.
Nếu trao đổi về ý kiến: “Truyện Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi Ha-ru-ki) nhắc nhở người đọc cần biết ăn năn, ân hận vì những lỗi lầm (hèn yếu) của chính mình”. em sẽ nêu một số ý lớn như thế nào?
Để trao đổi ý kiến: “Truyện Người thứ bảy (Mu-ra-ka-mi Ha-ru-ki) nhắc nhở người đọc cần biết ăn năn, ân hận vì những lỗi lầm (hèn yếu) của chính mình.”, có thể nêu một số ý lớn bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi như:
– Nội dung chính của truyện Người thứ bảy là gì?
– Nội dung ấy liên quan gì đến sự ăn năn, ân hận vì những lỗi lầm của chính mình?
– Vì sao có thể khẳng định ý kiến trên là đúng?
–….
