Giải SBT Ngữ Văn 9 Cánh diều Bài 6. Truyện truyền kì và truyện trinh thám có đáp án
37 câu hỏi
Phương án nào nêu không đúng đặc điểm của thể loại truyện truyền kì?
A. Cốt truyện được xây dựng dựa trên những câu chuyện trong dân gian
B. Nhân vật chính thường là các thám tử hoặc điều tra viên
C. Trong truyện, có nhiều chi tiết kì ảo, thậm chí hoang đường
D. Con người và thánh thần, ma quỷ có sự hoà trộn, kết nối
Đáp án B. Nhân vật chính thường là các thám tử hoặc điều tra viên.
Truyền kì mạn lục nghĩa là gì?
A. Ghi chép lại những truyền thuyết trong dân gian
B. Ghi chép lại những chuyện kì thú trong thế giới khoa học
C. Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền
D. Ghi chép những chuyện có ý nghĩa về truyền thống của dân tộc
Đáp án C. Ghi chép tản mạn những chuyện kì lạ được lưu truyền.
Ở phần (1), nhân vật Vũ Nương được tác giả miêu tả thế nào qua lời của người kể chuyện và lời đối thoại của nhân vật này với chồng? Qua đó, có thể thấy đặc điểm tính cách, phẩm chất nào ở Vũ Nương?
Ở phần (1), nhân vật Vũ Nương được tác giả miêu tả:
- Qua lời của người kể chuyện: “Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương tính đã thuỷ mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.”; do chồng đa nghi nên “Nàng cũng giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hoà.”; khi mẹ chồng ốm, “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn.”; khi bà cụ mất, “Nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”.
- Qua lời đối thoại của nhân vật này với chồng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi.”, “Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”,... Ý của Vũ Nương là không tham vinh hoa phú quý, điều quan trọng nhất là chồng bình an và sớm trở về.
Qua đây, có thể thấy đặc điểm tính cách, phẩm chất ở Vũ Nương: thuỳ mị, nết na, yêu chồng, hiếu thuận, không tham vinh hoa phú quý.
Trong phần (2), tác giả đã tạo ra tình huống nào để khắc hoạ bi kịch của nhân vật Vũ Nương?
Trong phần (2), tác giả đã tạo ra tình huống nghi ngờ để khắc hoạ bi kịch của nhân vật Vũ Nương: Trương Sinh nghi ngờ lòng chung thuỷ của Vũ Nương qua lời nói của đứa con: “Trước đây, thường có một người đàn ông, đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngôi cũng ngôi, nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.” . Kì thực, đó là cái bóng của Vũ Nương ở trên vách: “ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Sự nghi ngờ này đã dẫn đến kết đớn cho Vũ Nương; “gieo mình xuống sông mà chết”.
(Câu hỏi 3, SGK) Chỉ ra biểu hiện và phân tích tác dụng của yếu tố kì ảo trong văn bản Chuyện người con gái Nam Xương.
– Các chi tiết kì ảo thể hiện tập trung ở phần (3), trước hết là không gian nghệ thuật – cung điện, đền đài sang trọng ở dưới nước của rùa thần, là nơi ở của vợ vua biển Nam Hải, nơi sinh sống của các nàng tiên. Không gian kì lạ này gắn liền với một chi tiết kì ảo khác, đó là: “Tôi (Vũ Nương) ngày trước không may bị người vu oan, phải gieo mình xuống sông tự tử. Các nàng tiên trong cung nước thương tôi vô tội, rẽ một đường nước cho tôi thoát chết”,... Học sinh (HS) có thể nêu thêm các chi tiết khác.
– Yếu tố kì ảo có tác dụng mở ra những diễn biến tiếp theo cho câu chuyện, đẩy cốt truyện vận động, đồng thời giúp tác giả tiếp tục khắc hoạ số phận, phẩm chất của nhân vật Vũ Nương (số phận bất hạnh vì Vũ Nương vẫn luôn bị ám ảnh, dằn vặt bởi nỗi oan chưa được giải toả; là người có tình nghĩa, luôn hướng về gia đình, quê nhà và luôn khát khao được giải oan để giữ khí tiết thanh sạch) và thể hiện tư tưởng nhân đạo (cảm thông với những người phụ nữ có số phận kém may mắn; yêu mến, trân trọng những con người có tâm hồn và phẩm chất cao đẹp).
(Câu hỏi 4, SGK) Phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa các chi tiết kì ảo và chi tiết đời thường ở một đoạn văn cụ thể trong văn bản.
- Đoạn văn:
“Lúc đến nhà, Phan đem chuyện kể lại với họ Trương. Ban đầu Trương không tin. Nhưng khi nhận được chiếc hoa vàng, chàng mới sợ hãi mà nói:
– Đây quả là vật dụng mà vợ tôi mang lúc ra đi.
Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện.
Chàng vội gọi, nàng vẫn ở giữa dòng mà nói vọng vào:
– Thiếp cảm ơn đức của Linh Phi, đã thề sống chết cũng không bỏ. Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
Rồi trong chốc lát, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất.”.
Ở đoạn trên, các chi tiết như Phan kể chuyện với Trương ở nhà, Trương lập đàn tràng ở bến Hoàng Giang, Trương gọi vợ,... là các chi tiết đời thường, trần tục, hoàn toàn có thể có thật. Còn các chi tiết như Trương nhận lại chiếc hoa vàng, Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện, bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất,.... là chi tiết không có thật. Ngay trong một chi tiết nhỏ cũng có sự kết hợp các yếu tố đời thường và kì ảo. Chẳng hạn: việc Trương nhận lại chiếc hoa vàng từ Phan. Chiếc hoa vàng là một vật dụng có thật, một đồ vật của Vũ Nương. Nhưng việc Phan nhận chiếc hoa vàng từ Vũ Nương ở chỗ của Linh Phi để rồi về nhà trao lại cho Trương thì lại là kì ảo. Nhìn chung, sự kết hợp giữa các chi tiết trên giúp câu chuyện trở nên hấp dẫn, vừa hư vừa thực, vừa gắn với những vấn đề của cuộc sống hằng ngày, gần gũi với mọi người vừa thể hiện trí tưởng tượng phong phú và ước mơ của tác giả về những điều tốt đẹp trong cuộc sống.
(Câu hỏi 5, SGK) Chủ đề của văn bản Chuyện người con gái Nam Xương là gì?
Qua câu chuyện về cuộc đời của nhân vật Vũ Nương, truyện đặt ra vấn đề về số phận oan trái của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, thể hiện sự thương xót đối với những người phụ nữ bất hạnh, kém may mắn, đồng thời bộc lộ cái nhìn nhân hậu, mong ước những điều tốt đẹp sẽ đến với họ. Truyện cũng ngợi ca vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: nết na, hiếu thuận,...
(Câu hỏi 6, SGK) Hãy nêu suy nghĩ của em về một vấn đề có ý nghĩa nhân sinh mà truyện đặt ra và liên hệ với cuộc sống ngày nay.
Tham khảo:
Văn bản "Chuyện người con gái Nam Xương" đã để lại cho em nhiều ấn tượng và bài học nhân sinh sâu sắc. Thật vậy, bài học đầu tiên mà em thấy được đó là số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Họ là những người phụ nữ có số phận bất hạnh, vô định không bến bờ và phải sống phụ thuộc vào người chồng của mình. Đồng thời, họ cũng không có tiếng nói, bị đè nặng bởi các định kiến phong kiến đến nỗi chẳng thể tự giải oan cho mình. Cuối cùng, họ vẫn khó có thể tự giành cho mình được hạnh phúc, không có quyền được hưởng hạnh phúc ở nhân gian. Bài học thứ hai mà em nhận ra được đó là vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những người phụ nữ như Vũ Nương không chỉ có tấm lòng thơm thảo dành cho gia đình nhà chồng, mà còn có đức hy sinh, tấm lòng chung thủy, trinh bạch sâu sắc. Bài học cuối cùng mà em rút ra được từ văn bản đó là hôn nhân và hạnh phúc gia đình bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố. Chỉ khi sự vun vén đến từ cả người chồng và người vợ thì mọi sự hiểu nhầm đều có thể hóa giải. Chiến tranh chia cắt cũng gây chia cắt và là nguyên nhân gián tiếp phá hoại hôn nhân con người. Đó là những bài học nhân sinh mà em rút ra được từ văn bản.
Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương cho thấy những đặc điểm nào của thể loại truyện truyền kì?
Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương cho thấy những đặc điểm sau của thể loại truyện truyền kì:
– Sử dụng nhiều yếu tố kì ảo nhưng nội dung của truyện lại là những vấn đề của đời sống nhân sinh.
– Không gian, sự việc, con người,... có sự kết hợp giữa những chi tiết có thật với không có thật, vừa ở thế giới siêu nhiên vừa gắn với những số phận đời thường.
– Nhân vật chính là người bình dân, gắn với những vấn đề của cuộc sống đời thường (hạnh phúc gia đình).
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
CHUYỆN NGƯỜI NGHĨA PHỤ Ở KHOÁI CHÂU
(Trích Truyền kì mạn lục)
Từ Đạt, người ở Khoái Châu, lên làm quan tại thành Đông Quan, thuê nhà ở cạnh cầu Đồng Xuân, láng giềng với nhà quan Thiêm thư là Phùng Lập Ngôn. Phùng giàu mà Từ nghèo, Phùng xa hoa mà Từ tiết kiệm, Phùng chuộng dễ dãi mà Từ thì giữ lễ. Lề thói hai nhà đại khái không giống nhau. Song cũng lấy nghĩa mà chơi bời đi lại với nhau rất thân, coi nhau như anh em vậy.
Phùng có người con trai là Trọng Quỳ, Từ có người con gái là Nhị Khanh, gái sắc trai tài, tuổi cũng suýt soát. Hai người thường gặp nhau trong những bữa tiệc, mền vì tài, yêu vì sắc, cũng có ý muốn kết duyên Châu Trần. Cha mẹ đôi bên cũng vui lòng ưng cho, nhân chọn ngày mối lái, định kì cưới hỏi.
Nhị Khanh tuy hãy còn nhỏ, nhưng sau khi về nhà họ Phùng, khéo biết cư xử với họ hàng rất hoà mục và thờ chồng rất cung thuận; người ta đều khen là người nội trợ hiền.
Trọng Quỳ lớn lên, dần sinh ra chơi bời lêu lổng; Nhị Khanh thường vẫn phải can ngăn. Chàng tuy không nghe nhưng cũng rất kính trọng. Năm chàng hai mươi tuổi, nhờ phụ ấm được bổ làm một chức ở phủ Kiến Hưng. Gặp khi vùng Nghệ An có giặc, triều đình xuống chiếu kén một viên quan giỏi bổ vào cai trị. Đình thần ghét Lập Ngôn tính hay nói thẳng, ý muốn làm hại, bèn hùa nhau tiến cử. Khi sắp đi phó nhậm, Phùng Lập Ngôn bảo Nhị Khanh rằng:
– Đường sá xa xăm, ta không muốn đem đàn bà con gái đi theo, vậy con nên tạm ở quê nhà. Đợi khi sông bằng nước phẳng, vợ chồng con cái sẽ lại cùng nhau tương kiến.
Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh không đi, có ý quyến luyến không dứt. Nhị Khanh ngăn, bảo rằng:
– Nay nghiêm đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để ở lại nơi khu yếu, bề ngoài vờ tiến cử đến chốn hùng phiên, bên trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa. Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo. Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo. Mặc dầu cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng bận lòng đến chốn hương khuê.
Trọng Quỳ không đừng được, mới bày một bữa tiệc từ biệt, rồi cùng Lập Ngôn đem người nhà đi vào phương nam.
Không ngờ lòng giời khó hiểu, việc người khôn lường, cha mẹ Nhị Khanh nối nhau tạ thế. Nàng đưa tang về Khoái Châu, chôn cất cúng tế xong rồi, đến cùng ở chung với bà cô Lưu thị.
(Lược một đoạn: Bà cô Lưu thị muốn ép Nhị Khanh lấy người quan tướng quân họ Bạch giàu có nhưng Nhị Khanh một lòng phản đối, nàng sai người bõ già lặn lội đi tìm chồng ở Nghệ An. Khi người bõ già đến nơi thì thấy Phùng Lập Ngôn đã mất, Trọng Quỳ vì ăn chơi nên phá nát gia sản, hiện đang mắc kẹt, người bõ già phải giúp đưa về nhà. Về đến nhà, vợ chồng trông nhau mà khóc, Trọng Quỳ bèn làm bài thơ thể hiện tình cảm với vợ. Hai vợ chồng vì xa cách lâu ngày mới được gặp lại nên tình cảm nồng nàn thắm thiết.)
Song, Trọng Quỳ vì quen thân phóng lãng, thuộc tính chơi bời, về nhà ít lâu rồi nết cũ lại đâu đóng đấy, hằng ngày cùng người lái buôn là Đỗ Tam bê tha lêu lổng. Trọng Quỳ thì thích Đỗ có tiền nhiều. Đỗ thì ham Trọng Quỳ có vợ đẹp. Những khi uống rượu với nhau rồi đánh bạc, Đỗ thường lấy lợi nhử Trọng Quỳ. Trọng Quỳ đánh lần nào cũng được, thấy kiếm tiền dễ như thò tay vào túi mình lấy đồ vật vậy. Nhị Khanh vẫn răn bảo rằng:
– Những người lái buôn phần nhiều là giảo quyệt, đừng nên chơi thân với họ, ban đầu tuy họ thả cho mình được, nhưng rồi họ sẽ vét hết của mình cho mà xem.
Trọng Quỳ không nghe. Một hôm, Trọng Quỳ cùng các bè bạn họp nhau đánh tứ sắc. Đỗ bỏ ra trăm vạn đồng tiền để đánh và đòi Trọng Quỳ đánh bằng Nhị Khanh. Trọng Quỳ quen mui vẫn được luôn, chẳng suy nghĩ gì, liền bằng lòng cách ấy. Giấy giao kèo viết xong rồi vừa uống rượu vừa gieo quân. Trọng Quỳ gieo ba lần đều thua cả ba, sắc mặt tái mét; cử toạ cũng đều ngơ ngác buồn rầu hộ.
Trọng Quỳ phải cho gọi Nhị Khanh đến, bảo rõ thực tình, đưa tờ giao kèo cho xem và yên ủi rằng:
– Tôi vì nỗi nghèo nó bó buộc, để luỵ đến nàng. Việc đã đến thế này, hối lại cũng không kịp nữa. Thôi thì bi hoan tán tụ cũng là việc thường của người ta. Nàng nên tạm về với người mới, khéo chiều chuộng hắn, rồi bất nhật tôi sẽ đem tiền đến chuộc.
Nàng liệu cơ không thể thoát khỏi, giả vờ nói tử tế rằng:
– Bỏ nghèo theo giàu, thiếp lẽ đâu từ chối. Số giời xếp đặt, há chẳng là tiền định hay sao! Nếu chồng mới không nỡ rẽ bỏ, còn đoái thu đến cái dung nhan tàn tạ này, thiếp xin sửa túi nâng khăn, hết lòng hầu hạ như đã đối với chàng xưa nay. Nhưng xin cho uống một chén rượu, mượn làm một chén tiễn biệt và cho về từ giã các con một chút.
Đỗ cả mừng, rót đầy một chén xà cừ rượu đưa mời nàng uống. Uống xong, nàng về nhà ôm lấy hai con, vỗ vào lưng mà bảo rằng:
– Cha con bạc tình, mẹ đau buồn lắm. Biệt li là việc thường thiên hạ, một cái chết với mẹ có khó khăn gì. Nhưng mẹ chỉ nghĩ thương các con mà thôi.
Nói xong, lấy đoạn dây tơ thắt cổ mà chết.
Đỗ thấy mãi nàng không đến, lấy làm lạ, sai người đến giục, té ra nàng đã chết rồi. Trọng Quỳ hối hận vô cùng, sắm đồ liệm táng tử tế rồi làm một bài văn tế. [...]
Trọng Quỳ đã goá vợ, rất ăn năn tội lỗi của mình. Song sinh kế ngày một cùng quẫn, ăn bữa sớm lo bữa tối, phải đi vay quanh của mọi người làng xóm. Nhân nghĩ có một người bạn cũ, hiện làm quan ở Quy Hoá, bèn tìm đến để mong nhờ vả. Dọc đường buồn ngủ, chàng nằm ghé xuống ngủ ở gốc cây bàng, bỗng nghe trên không có tiếng gọi rằng:
– Có phải Phùng lang đấy không? Nếu còn nghĩ đến tình xưa thì ngày ấy tháng ấy xin đến chờ thiếp ở cửa đền Trưng Vương. Ân tình thiết tha, đừng coi là âm dương cách trở.
Trọng Quỳ lấy làm lạ, tiếng giống như tiếng Nhị Khanh, mở mắt ra nhìn thì chỉ thấy trên trời một đám mây đen bay về tây bắc. Trọng Quỳ tuy rất lấy làm ngờ nhưng cũng muốn thử xem sao, bèn đúng hẹn đến trước đền ấy. Song đến nơi chỉ thấy bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác. Trọng Quỳ buồn rầu toan về thì Mặt Trời đã lặn, bèn ngả mình nằm ở tấm ván nát trên một cái cầu. Khoảng cuối canh ba, bỗng nghe thấy tiếng khóc nức nở từ xa rồi gần. Khi thấy tiếng khóc chỉ còn cách mình độ nửa trượng, nhìn kĩ thì người khóc chính là Nhị Khanh. Nàng bảo với Trọng Quỳ rằng:
– Đa tạ ơn chàng, từ xa lặn lội tới đây, biết lấy gì để tặng chàng được! Trọng Quỳ chỉ tự nhận tội lỗi của mình; nhân hỏi đầu đuôi, Nhị Khanh nói:
– Thiếp sau khi mất đi, Thượng đế thương là oan uổng bèn ra ân chỉ. Hiện thiếp được lệ thuộc vào toà đền này, coi giữ về những sớ văn tấu đối, không lúc nào nhàn rỗi để thăm nhau được. Bữa nọ nhân đi làm mưa, chợt trông thấy chàng nên mới gọi; nếu không thì nghìn thu dằng dặc, chẳng biết đến bao giờ được gặp gỡ nhau.
Trọng Quỳ nói:
– Sao nàng đến chậm thế!
Nhị Khanh nói:
Vừa rồi thiếp nhân theo xe mây, lên có việc ở nơi Đế sở. Vì cớ có chàng nên thiếp đã phải bẩm xin về trước đấy, thành ra cũng sai hẹn với chàng một chút.
Bèn dắt tay nhau đi nằm, cùng nhau chuyện trò thủ thỉ. Khi nói đến việc hiện thời, Nhị Khanh chau mày:
– Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn hai mươi vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi. Nếu không phải người giống cây đức đã sâu thì chỉ e ngọc đá đều bị cháy cả. Bấy giờ có một vị chân nhân họ Lê, từ miền tây nam xuất hiện; chàng nên khuyên hai con bên chí đi theo vị ấy, thiếp dù chết cũng không nát.
Trời gần sáng, Nhị Khanh vội dậy để cáo biệt, vừa đi vừa ngoảnh đầu nhìn lại rồi thoắt chốc thì biến đi mất.
Trọng Quỳ bèn không lấy ai nữa, chăm chỉ nuôi hai con cho nên người. Đến khi vua Lê Thái Tổ tuốt gươm đứng dậy ở Lam Sơn, hai người con trai đều đi theo, trải làm đến chức Nhập thị nội. Đến nay ở Khoái Châu hiện còn con cháu.
(Nguyễn Dữ, Truyền kì mạn lục, Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 1999)
a) Nhân vật chính trong văn bản trên là ai? Nhân vật ấy được khắc hoạ qua những chi tiết tiêu biểu nào?
b) Xác định và nêu tác dụng của những chi tiết kì ảo trong truyện.
c) Vấn đề xã hội mà truyện đặt ra là gì? Vấn đề đó có còn trong xã hội Việt Nam ngày nay không?
d) Văn bản trên chuyển tải thông điệp gì?
e) Hãy so sánh nhân vật Nhị Khanh và nhân vật Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương).
a) Nhân vật chính trong văn bản là Nhị Khanh. Nhân vật ấy được khắc hoạ qua những chi tiết tiêu biểu:
– Tuy còn nhỏ nhưng khéo léo, biết cư xử với họ hàng rất hoà mục, thờ chồng cung thuận, là người nội trợ hiền.
– Khuyên can chồng gạt bỏ tình riêng đi theo cha vào Nghệ An để thực hiện chữ hiếu. Một lòng chung thuỷ thờ chồng, khước từ mọi cám dỗ tiền bạc của tướng quân họ Bạch, chống lại lời thúc giục ép buộc của bà cô. Chủ động nhờ người bõ già đi tìm và đưa chồng về khi chồng mắc kẹt ở Nghệ An. Hết lòng khuyên can khi thấy chồng giao du với bạn xấu, sa ngã cờ bạc.
– Khi bị chồng gán nợ bạc cho Đỗ Tam, nàng giả vờ ưng thuận, rồi về dặn dò con, thắt cổ tự tử.
Sau khi chết vẫn ân tình, nhắc nhở chồng, khuyên chồng tu chí, hướng hai con đến nghĩa khí, tương lai tươi sáng.
b) Những chi tiết kì ảo trong truyện:
– Chi tiết về cuộc gặp gỡ của Trọng Quỳ với Nhị Khanh: “Trọng Quỳ lấy làm lạ, tiếng giống như tiếng Nhị Khanh, mở mắt ra nhìn thì chỉ thấy trên trời một đám mây đen bay về tây bắc. Trọng Quỳ tuy rất lấy làm ngờ nhưng cũng muốn thử xem sao, bèn đúng hẹn đến trước đền ấy. Song đến nơi chỉ thấy bóng tà rọi cửa, rêu biếc đầy sân, năm ba tiếng quạ kêu ở trên cành cây xao xác. Trọng Quỳ buồn rầu toan về thì Mặt Trời đã lặn, bèn ngả mình nằm ở tấm ván nát trên một cái cầu. Khoảng cuối canh ba, bỗng nghe thấy tiếng khóc nức nở từ xa rồi gần. Khi thấy tiếng khóc chỉ còn cách mình độ nửa trượng, nhìn kĩ thì người khóc chính là Nhị Khanh.”.
– Chi tiết Nhị Khanh khuyên Trọng Quỳ: “Vừa rồi thiếp nhân theo xe mây, lên có việc ở nơi Đế sở. Vì cớ có chàng nên thiếp đã phải bẩm xin về trước đấy, thành ra cũng sai hẹn với chàng một chút.”, “Thiếp thường theo chầu tả hữu Đức Bà ở đây, được trộm nghe chư tiên nói chuyện với nhau, bảo Hồ triều sẽ hết vào năm Bính Tuất, binh cách nổi lớn, số người bị giết chóc đến chừng hơn hai mươi vạn, ấy là chưa kể số bị bắt cướp đi.”.
= > Tác dụng của những chi tiết kì ảo trong truyện: vừa thúc đẩy cốt truyện vận động với những diễn biến mới vừa tạo tình huống để nhân vật bộc lộ những nét mới trong tính cách (Trọng Quỳ đã biết ăn năn hối lỗi hơn, đã tu chỉnh hơn để định hướng cho hai con đi theo con đường chính nghĩa); tạo ra kết thúc có hậu, thể hiện tinh thần nhân đạo của tác giả.
c) Qua câu chuyện về nàng Nhị Khanh, truyện đặt ra vấn đề về số phận bất hạnh của người phụ nữ trong chế độ xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Người phụ nữ phải gánh chịu những thiệt thòi, vất vả khi gia đình xảy ra biến cố, khi chồng sa ngã. Vấn đề đó vẫn còn nhưng đã giảm thiểu đáng kể trong xã hội Việt Nam ngày nay.
d) Thông điệp: Phải xây dựng một xã hội bình đẳng giữa nam và nữ, cần bảo vệ người phụ nữ, nhất là những người phụ nữ có phẩm hạnh tốt đẹp.
e) Nhân vật Nhị Khanh và Vũ Nương (Chuyện người con gái Nam Xương) đều là những người phụ nữ bất hạnh, kém may mắn trong xã hội phong kiến. Họ đều phải tìm đến cái chết để bảo toàn nhân phẩm. Tuy đều được các lực lượng siêu nhiên (thần tiên) cứu giúp và có cơ hội gặp lại chồng ở trần thế nhưng họ không thể có lại hạnh phúc gia đình. Khác với Vũ Nương, Nhị Khanh có cơ hội gặp gỡ và tác động đến chồng nhiều hơn.
Dòng nào dưới đây nêu không đúng đặc điểm của truyện trinh thám?
A. Truyện thường viết về việc điều tra, khám phá các vụ án
B. Nhân vật chính thường là các thám tử hoặc điều tra viên
C. Truyện bắt đầu bằng một sự việc hoặc tình huống gay cấn
D. Các nhân vật trong truyện có thể chết đi sống lại nhiều lần
Đáp án D. Các nhân vật trong truyện có thể chết đi sống lại nhiều lần.
Phương án nào dưới đây là nhận xét đúng về ngôn ngữ trong đoạn văn sau?
“Phải, luật pháp thì không thể động tới ông được. – Hôm vừa nói vừa mở toang cửa. – Nhưng không có kẻ nào đáng bị trừng phạt hơn ông đâu. Nếu Me-ri mà có một người anh trai hoặc có bạn trai, thì ông đã tan xương nát thịt rồi.”
A. Toàn bộ đoạn văn là lời của người kể chuyện
B. Toàn bộ đoạn văn là lời của nhân vật thám tử Hôm
C. Đoạn văn có sự kết hợp giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện
D. Đoạn văn là lời đối thoại giữa nhân vật Hôm và Me-ri về Uyn-đi-banh
Đáp án C. Đoạn văn có sự kết hợp giữa lời nhân vật và lời người kể chuyện.
(Câu hỏi 4, SGK) Trong văn bản, thám tử Hôm đã tìm ra chân tướng của vụ việc như thế nào? Qua đó, em thấy được những năng lực nào của nhân vật này?
- Hôm đã phát hiện ra sự thật đằng sau sự mất tích của Ên-giô – hôn phu của Me-ri. Đây thực chất là âm mưu của người cha dượng, gã đã đóng giả Ên-giô, đưa mẹ con Me-ri đến cổng nhà thờ rồi lẩn qua cửa kia của xe ngựa và biến mất. Mục đích của gã là giữ chân Me-ri trong mối quan hệ hôn nhân với Ên-giô – một mối quan hệ không dễ dứt bỏ vì đã có lời thề nhưng cũng không đi đến đích – để được tiếp tục hưởng lợi tức món tiền gửi ngân hàng của Me-ri. Tuy nhiên, âm mưu này đã bị thám tử Hôm phát hiện, vạch trần. Trong đoạn trích, Hôm đã phát hiện ra những điểm bất thường trên tờ thông báo và trên các bức thư được đánh máy. Đây chính là điểm nghi vấn, là cơ sở để Hôm viết thư cho người cha dượng của Me-ri và đề nghị gã phúc đáp. Chính việc trả lời của người cha dượng với những lỗi đánh máy quen thuộc đã góp phần lật tẩy hắn và nhờ đó, cùng với các thông tin khác thu thập được, Hôm đã bóc trần sự thật được giấu kín bên trong.
- Qua đoạn trích, có thể thấy thám tử Hôm là người có óc quan sát tinh tường, có khả năng tổng hợp, kết nối các thông tin và năng lực phán đoán, suy luận rất tốt.
Ở cuối văn bản, thái độ của Hôm đối với Uyn-đi-banh như thế nào? Thái độ đó cùng với quá trình tìm ra sự thật của Hôm đã cho thấy điều gì về tính cách của nhân vật này?
Ở cuối văn bản, Hôm đã tỏ ra vô cùng giận dữ, bất bình, căm ghét Uyn-đi-banh. Thái độ đó cùng với quá trình tìm ra sự thật của Hôm đã cho thấy nhân vật thám tử này là người chính trực, căm ghét cái ác, cái xấu, không ngại dấn thân để vạch trần âm mưu, thủ đoạn xấu xa của những kẻ “vô lại”.
(Câu hỏi 5, SGK) Người kể chuyện trong văn bản trên là ai? Theo em, sự lựa chọn ngôi kể đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung câu chuyện và thái độ của tác giả?
- Người kể chuyện trong văn bản trên là Oát-xơn – bạn của Hôm, tức là một nhân vật trong truyện.
- Đây là ngôi kể thứ nhất, là hình thức nhân vật kể chuyện hay còn gọi là người kể chuyện hạn tri.
- Với việc lựa chọn ngôi kể này, câu chuyện trở nên chân thực hơn (vì được kể bởi một người trong cuộc, tai nghe mắt thấy); tính cách và phẩm chất của nhân vật chính cũng được thể hiện một cách cụ thể và sống động thông qua sự quan sát của người kể chuyện, chẳng hạn: “Hôm ngồi lặng vài phút, các ngón tay chụm vào nhau, hai chân duỗi ra phía trước, mắt chăm chú ngước lên trần nhà.”; hay qua những tương tác trực tiếp giữa người kể chuyện và nhân vật chính mà ở đó, người kể chuyện với năng lực hạn chế của mình đã làm nền cho người thám tử.
(Câu hỏi 6, SGK) Văn bản Vụ cải trang bất thành đặt ra những vấn đề gì trong cuộc sống?
Văn bản đặt ra vấn đề: lòng tham đánh mất nhân tính. Vì tham lam của cải, tiền bạc, một số kẻ sẵn sàng bày mưu tính kế để lừa dối người khác, đẩy họ vào bi kịch, thậm chí chà đạp lên các quan hệ gia đình, thân thuộc. Nhưng cũng từ văn bản, có thể thấy chân lí mà nhân dân lao động đã tổng kết: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”,... Những người chân chính sẽ vẫn không ngừng đấu tranh để tìm ra sự thật, công lí cho xã hội. Vấn đề mà đoạn trích nêu ra vẫn tiếp diễn trong cuộc sống ngày nay, không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều quốc gia khác trên thế giới.
Theo em, những người lương thiện cần làm gì để không rơi vào tình cảnh như cô Me-ri ở trong truyện?
Để không rơi vào tình cảnh như cô Me-ri ở trong truyện, mỗi người cần tự trang bị những kĩ năng sống hiệu quả để hạn chế rủi ro; thường xuyên quan sát, suy ngẫm về các sự việc, hiện tượng diễn ra xung quanh để phòng ngừa từ trước những nguy cơ, nguy hiểm.
Từ việc đọc hiểu văn bản Vụ cải trang bất thành, hãy rút ra cách đọc truyện trinh thám.
Cách đọc truyện trinh thám: Đọc kĩ văn bản để nắm được diễn biến của câu chuyện được kể; phát hiện tình huống nảy sinh vụ án, những chi tiết bất thường, bất ngờ mà qua đó nhân vật thám tử khám phá ra sự thật; phân tích nhân vật thám tử và suy ngẫm về ý nghĩa của truyện.
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
“Hôm rời ghế ngồi, đứng giữa hai phần rèm cửa sổ, dõi mắt xuống con phố ảm đạm. Ngó qua vai anh, tôi thấy một phụ nữ cao lớn, cổ quấn khăn da trăn, đầu đội mũ da đỏ rộng vành đang đứng trên hè đường trông thẳng sang nhà. Trông cô ta đỏm dáng như nữ công tước Đi-vôn-sai (Devonshire) vậy. Cô cố giấu vẻ bối rối sau bộ phục trang rực rỡ, lưỡng lự ngước mắt lên căn hộ có sự hiện diện của chúng tôi, các ngón tay không biết làm gì ngoài mân mê hàng cúc áo. Đột nhiên, với sự quả quyết của một vận động viên bơi lội bật khỏi bờ, cô gái lao vút qua đường. Rồi chúng tôi nghe thấy một hồi chuông giòn giã ngoài cửa.
– Tôi biết cái triệu chứng này rồi! – Hôm ném điếu thuốc hút dở vào lò sưởi. – Dấp da dấp dính trên vỉa hè là có sự mà. Cô nàng muốn hỏi xin ý kiến, nhưng không chắc có nên thổ lộ vấn đề tế nhị cho người lạ không. Chúng ta nên phân biệt rõ. Nếu người chồng có lỗi rất nghiêm trọng thì cô ta đã không ngần ngại gì mà không đến chỗ chúng ta và rung chuông ngay. Đằng này chắc có chút gì liên quan đến tình cảm, thành thử cô nàng hơi lúng túng hoặc thương cảm. Được rồi, chính cô ấy sẽ đến giải toả các mối nghi ngờ của chúng ta.
Nói tới đây thì có tiếng gõ cửa. Người hầu giới thiệu cô Me-ri Sơ-thơ-len. Người phụ nữ dần dần hiện ra sau thân hình khiêm tốn của Hôm. Anh bạn tôi thân mật tiếp khách, sau khi khép cửa lại và mời cô ngồi. Ngắm kĩ bộ đồ độc đáo của nữ thân chủ, Hôm từ tốn:
– Thưa cô, cô không thấy khó chịu khi phải đánh máy quá nhiều với cặp kính cận này chứ?
– Ban đầu thì có. Nhưng giờ tôi đã có thể đánh máy mà chẳng cần nhìn bàn phím rồi.
Rồi như chợt nhận ra ngụ ý trong ngôn từ của Hôm, cô gái rùng mình ngước lên, trên khuôn mặt còn đọng lại nỗi sợ hãi và sửng sốt. Cô bối rối hỏi:
– Ông đã nghe nói về tôi rồi, ông Hôm? Nếu không làm sao ông biết chuyện ấy?
Đừng để ý đến chuyện ấy. – Hôm vui vẻ cười. – Nghề của tôi là phải biết nhiều thông tin. Có lẽ tôi đã quen quan sát những gì mà người khác bỏ qua. Nếu không, chắc gì cô đã tới xin ý kiến tôi, đúng không?
– Thưa ông, tôi được bà E-thơ-di (Etherege) giới thiệu đến gặp ông. Ông đã tìm lại người chồng cho bà ấy, trong khi nhiều người khác, thậm chí cảnh sát, đều cho rằng ông ấy đã chết. Ôi, ông Hôm, khẩn cầu ông giúp tôi càng nhiều càng tốt. Tôi chẳng giàu có gì, song cũng có lợi tức khoảng một trăm bảng mỗi năm. Ngoài ra, tôi còn có chút thù lao đánh máy nữa. Tôi sẽ chi hết, miễn là tìm được ông Hót-mơ En-giô.”
(Đoi-lơ, trích Sơ-lốc Hôm, tập 1, Bùi Liên Thảo – Vũ Thu Hà – Vũ Quế Anh dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 2016)
a) Đoạn trích trên kể về cuộc gặp gỡ giữa ai với ai? Vì sao có cuộc gặp gỡ này?
b) Hãy xác định người kể chuyện trong đoạn trích trên (chú ý kết nối với văn bản Vụ cải trang bất thành trong SGK) và tìm một ví dụ để phân biệt lời người kể chuyện và lời nhân vật.
c) Nhân vật Hôm đã được khắc hoạ như thế nào trong đoạn trích trên?
d) Tìm các chi tiết trong đoạn trích cho thấy những đặc điểm phổ biến về tính cách hoặc năng lực ở nhân vật thám tử.
a) Đoạn trích trên kể về cuộc gặp gỡ giữa Hôm và Me-ri. Sở dĩ có cuộc gặp gỡ này là vì Me-ri muốn nhờ Hôm (một thám tử giỏi, người đã giúp bà E-thơ-di tìm lại người chồng) giúp cô ấy tìm vị hôn phu tương lai đã biệt tăm của mình: Hót-mơ En-giô.
b) Người kể chuyện xưng “tôi” trong đoạn trích trên là Oát-xơn – bạn thân của Hôm (“Ngó qua vai anh, tôi thấy một phụ nữ cao lớn, cổ quấn khăn da trăn”).
Có thể phân biệt lời người kể chuyện và lời nhân vật qua câu văn sau: “Tôi biết cái triệu chứng này rồi! – Hôm ném điếu thuốc hút dở vào lò sưởi.”. Trong đó, “Tôi biết cái triệu chứng này rồi!” là lời của nhân vật Hôm; còn “Hôm ném điếu thuốc hút do vào lò sưởi.” là lời của người kể chuyện.
c) Trong đoạn trích trên, nhân vật Hôm đã được khắc hoạ như sau:
- Qua lời của người kể chuyện. Ví dụ: “Anh bạn tôi thân mật tiếp khách, sau khi khép cửa lại và mời cô ngồi.”.
- Qua lời nói, suy nghĩ của chính nhân vật. Ví dụ: “Dấp da dấp dính trên vỉa hè là có sự mà. Cô nàng muốn hỏi xin ý kiến, nhưng không chắc có nên thổ lộ vấn đề tế nhị cho người lạ không?”, hay “Nghề của tôi là phải biết nhiều thông tin. Có lẽ tôi đã quen quan sát những gì mà người khác bỏ qua. Nếu không, chắc gì cô đã tới xin ý kiến tôi, đúng không?”.
- Qua lời của nhân vật khác trong truyện. Ví dụ: “Thưa ông, tôi được bà E-thơ-di giới thiệu đến gặp ông. Ông đã tìm lại người chồng cho bà ấy, trong khi nhiều người khác, thậm chí cảnh sát, đều cho rằng ông ấy đã chết.”.
d) Các chi tiết sau trong đoạn trích cho biết những đặc điểm thường thấy về năng lực quan sát, phán đoán ở nhân vật thám tử:
- “Cô nàng muốn hỏi xin ý kiến, nhưng không chắc có nên thổ lộ vấn đề tế nhị cho người lạ không. Chúng ta nên phân biệt rõ. Khi người chồng có lỗi rất nghiêm trọng thì cô ta đã không ngần ngại gì mà không đến chỗ chúng ta và rung chuông ngay. Đằng này chắc có chút gì liên quan đến tình cảm thành thủ cô nàng hơi lúng túng hoặc thương cảm.”.
- “Nghề của tôi là phải biết nhiều thông tin. Có lẽ tôi đã quen quan sát những gì mà người khác bỏ qua. Nếu không, chắc gì cô đã tới xin ý kiến tôi, đúng không?”.
Vì sao chuyện chọi dế lại khiến các gia đình khuynh gia bại sản?
A. Vì trong tỉnh, huyện có nhiều người dân ham thích trò chơi chọi dế
B. Vì dế chọi là loài vật quý hiếm nhưng rất dễ bắt lúc bấy giờ
C. Vì dế là một loài vật thông minh, có thể nhảy múa theo các tiết điệu
D. Vì các quan bắt dân phải cung tiến dế, dế thành hàng hiếm, giá cao
Đáp án D. Vì các quan bắt dân phải cung tiến dế, dế thành hàng hiếm, giá cao.
Hậu quả bi thảm nhất của việc “trong cung rất chuộng trò chơi chọi dế” đối với gia đình Thành Danh là gì?
A. Đứa con phải hoá thành dế, sống trơ như gỗ hơn một năm
B. Gia đình Thành Danh kiệt quệ, không còn tài sản gì hết
C. Thành Danh lo quá, chết đi sống lại mấy lần
D. Thành Danh phải chịu đòn trăm gậy, máu me bê bết
Đáp án A. Đứa con phải hoá thành dế, sống trơ như gỗ hơn một năm
Cuối truyện, nhờ đâu mà Thành Danh được học quan cho “thi lấy học vị tú tài”, có “ruộng đồng trăm khoảnh, lầu gác nguy nga, trâu dê đầy đàn”?
A. Nhờ có quan huyện là người quen nên được giúp đỡ
B. Nhờ vợ đi hỏi cô đồng gù, có tài bói toán cầu thần
C. Nhờ đứa con đã đánh đổi phần linh hồn cho dế để tiến vua
D. Nhờ Thành chịu khó tu chí học hành, thi cử đỗ đạt và ra làm quan
Đáp án C. Nhờ đứa con đã đánh đổi phần linh hồn cho dế để tiến vua
(Câu hỏi 3, SGK) Phân tích tác dụng của những yếu tố kì ảo trong truyện Dế chọi.
Các yếu tố kì ảo trong truyện Dế chọi:
- “Cô đồng đứng bên hướng lên không trung khấn thay, mồm mấp máy thầm thì không biết những gì. Mọi người xung quanh cung kính đứng nghe. Lát sau, trong mành ném ra mảnh giấy ghi những lời truyền phán chỉ bảo, không mảy may sai lẫn.”.
- “con dế của Thành mỗi khi nghe tiếng đàn cầm, đàn sắt là lại nhảy múa theo các tiết điệu”.
- “Còn con Thành, hơn năm sau tinh thần trở lại như cũ và kể lại rằng: Mình đã hoá thành dế lanh lẹ, chọi giỏi, nay mới thực sống lại.”.
Các yếu tố này khiến cho câu chuyện trở nên li kì, hấp dẫn, đồng thời góp phần làm nổi bật những tiêu cực trong đời sống xã hội thời đó: Người dân khốn đốn vì sự hưởng lạc của quan lại.
(Câu hỏi 4, SGK) Theo em, qua truyện Dế chọi, tác giả muốn tập trung thể hiện những điều tiêu cực gì trong xã hội lúc bấy giờ?
Qua truyện Dế chọi, tác giả Bồ Tùng Linh tập trung phơi bày hệ thống chính trị thối nát đương thời: quan lại từ cao xuống thấp ăn chơi, hưởng lạc làm cho dân khuynh gia bại sản; việc tiến cử, thăng quan không dựa vào năng lực, kết quả công việc mà do cung tiến dế; người dân được vinh hoa phú quý không do lao động, phấn đấu mà do may mắn tiến được dế quý;…
(Câu hỏi 5, SGK) Lời bàn của tác giả ở cuối truyện có tác dụng gì trong việc chuyển tải thông điệp của văn bản?
Lời bàn của tác giả ở cuối truyện có tác dụng gia tăng giá trị hiện thực của tác phẩm: tố cáo bọn tham quan lại ngược đã gây ra biết bao đau khổ, phiền nhiễu cho người dân. Tác giả thể hiện thái độ phê phán vua chúa, quan lại (“Từ đó, qua bọn tham quan lại ngược, dân phải bán vợ đợ con không dứt. Cho nên, nửa bước của bậc thiên tử cũng quan hệ đến dân, không thể coi nhẹ được.”); giễu cợt, châm biếm sâu sắc (“Còn ơn trời đền đáp sao mà dài lâu hậu hĩ vậy, khiến cho quan tỉnh, quan huyện đều được hưởng ân huệ và phúc ấm của dế.”) khi đưa địa vị của “dế chọi” lên ngang hàng “tổ tiên” của bọn quan tham lại nhũng. Phúc ấm (nguyên văn là ân ấm): chỉ công danh, chức tước triều đình ban cho con cháu do cha ông lập được nhiều công tích. Phúc ấm của dế tức là dế giống như ông cha của các quan.
(Bài tập 1, SGK) Thử chuyển mỗi thành phần câu hoặc thành phần của cụm từ được in đậm dưới đây sang vị trí khác trong câu; qua đó, giải thích vì sao các tác giả lại chọn vị trí của chúng như ở những câu đã cho.
a) Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn.
(Hồ Chí Minh)
b) Vì đường xa, chúng tôi chỉ ở nhà được có ba ngày. Trong ba ngày ngắn ngủi đó, con bé không kịp nhận ra anh là cha.
(Nguyễn Quang Sáng)
c) Giữa mặt vịnh mênh mông xanh ngắt và tim tím, nhô lên những tảng đá vôi hình thù kì dị và dường như được bút sơn của một hoạ sĩ quét lên vô số màu sắc, từ màu xanh ngọc bích đến màu đỏ nâu và vàng.
(Thi Sảnh)
d)
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
(Bà Huyện Thanh Quan)
a. Đặt "Từ đó" ngay sau "Dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật" để nối liền nguyên nhân và hậu quả của sự kiện. "Từ đó" dân ta càng cực khổ, nghèo nàn.
b. Đặt "Trong ba ngày ngắn ngủi đó" ngay sau "chúng tôi chỉ ở nhà được có ba ngày" để làm rõ thời gian và tình huống diễn ra.
c. Đặt "nhô lên" ngay sau "tim tím" để mô tả rõ hơn cảnh vật.
d. Đặt "vài chú" ngay sau "tiều" và "mấy nhà" ngay sau "chợ" để nhấn mạnh sự tiêu điều của cảnh vật và tăng giá trị gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
(Bài tập 2, SGK) Tìm câu bị động trong những đoạn văn dưới đây. Cho biết việc sử dụng những câu bị động đó phù hợp như thế nào đối với văn cảnh và mục đích diễn đạt.
a) Sau nghi lễ bái tổ, hai đô thực hiện nghi thức xe đài. Những động tác xe đài được thực hiện rất đa dạng. (Phí Trường Giang)
b) Địa đạo Củ Chi hình thành trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp (khoảng năm 1948). Hệ thống địa đạo được xây dựng sớm nhất tại hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An [...]. Lúc đầu, địa đạo chỉ có những đoạn ngắn, cấu trúc đơn giản, dùng để giấu tài liệu, trú ém cán bộ trong vùng địch hậu. Sang giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, địa đạo được gia cố và mở rộng. (Di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi)
c) Trong hơn một thế kỉ trở lại đây, dân số thế giới ngày càng tăng, trong khi số lượng các loài động vật ngày một giảm đi rõ rệt. Môi trường sống của động vật bị con người chiếm lĩnh, phá hoại [....]. Nhiều loài thậm chí thường xuyên bị con người ngược đãi, săn bắt vô tổ chức và tàn sát không nương tay. (Theo Kim Hạnh Bảo – Trần Nghị Du)
a) Câu bị động: "Nghi thức xe đài được thực hiện rất đa dạng."
=> Việc sử dụng câu bị động ở đây phù hợp để tập trung sự chú ý vào hành động "được thực hiện" chứ không phải người hoặc vật thực hiện nó. Câu bị động cũng tạo ra sự trừu tượng và tập trung vào hành động chính.
b) Câu bị động: "Địa đạo được xây dựng sớm nhất tại hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An [...] Sang giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ, địa đạo được gia cố và mở rộng."
=> Việc sử dụng câu bị động ở đây phù hợp để tập trung vào việc hành động "được xây dựng", "được gia cố và mở rộng", thay vì người nào hoặc tổ chức nào thực hiện hành động.
Quảng cáo
c) Câu bị động: "Môi trường sống của động vật bị con người chiếm đóng, phá hoại [...]. Nhiều loài thậm chí thường xuyên bị con người ngược đãi, sẵn bắt vô tổ chức và tàn sát không nương tay."
=> Việc sử dụng câu bị động ở đây phù hợp để tập trung vào việc hành động "bị chiếm đóng, phá hoại", "bị ngược đãi, sẵn bắt và tàn sát", thay vì người làm hành động đó. Câu bị động cũng làm cho thông điệp trở nên mạnh mẽ và tập trung hơn vào hành động.
(Bài tập 3, SGK) Biến đổi những câu chủ động dưới đây thành câu bị động:
a) Quan Phó bảng Sắc đã dẫn hai con trai đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An. (Sơn Tùng)
b) Ba nó bế nó lên. (Nguyễn Quang Sáng)
c) Tây nó đốt nhà tôi rồi, bác ạ. (Kim Lân)
d) Cuộc sống càng văn minh tiến bộ, con người càng sử dụng nhiều nước hơn cho mọi nhu cầu của mình... (Theo Trịnh Văn)
a) Hai con trai đã được dẫn đi hầu khắp những nơi nổi tiếng về phong cảnh đẹp, về di tích lịch sử của Nghệ An bởi Quan Phó bảng Sắc.
b) Nó đã được bế lên bởi ba.
c) Nhà tôi đã bị đốt rồi, bác ạ.
d) Nước đã được mọi người sử dụng càng nhiều hơn.
Những câu dưới đây có phải là câu bị động không? Vì sao?
a) Năm bị đi đày. (Nguyên Hồng)
b) Anh còn bị mất cái ô trắng. (Nguyễn Công Hoan)
a. Không phải câu bị động vì chủ ngữ trong hai câu này không phải đối tượng được hoạt động của người hay vật khác hướng vào.
b. Có là câu bị động vì chủ ngữ là “anh” là người “bị mất cái ô trắng”.
a. Không phải câu bị động vì chủ ngữ trong hai câu này không phải đối tượng được hoạt động của người hay vật khác hướng vào.
b. Có là câu bị động vì chủ ngữ là “anh” là người “bị mất cái ô trắng”.
a. Trạng ngữ “Trên hương án” được đặt ở đầu câu nhằm bổ nghĩa (nơi chốn) cho cụm chủ vị “trầm hương toả khói thơm”.
b. Trạng ngữ “Lúc đi” được đặt ở đầu câu nhầm bổ nghĩa (thời gian) cho cụm chủ vị “đứa con gái đầu lòng của anh – và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một tuổi”.
c. Trạng ngữ “Mỗi lần bị xúc động” được đặt ở đầu câu nhầm bổ nghĩa (nguyên nhân) cho cụm chủ vị “vết thẹo dài bên má phải lại đỏ ửng lên, giần giật, trông rất dễ sợ”.
Chọn từ ngữ phù hợp với chỗ trống trong những câu sau để hoàn thành phần kiến thức về truyện kể sáng tạo và viết truyện kể sáng tạo.
sáng tạo, hư cấu, miêu tả, mô phỏng, nhân vật, tưởng tượng, sự việc, đời sống, tự sự, người kể, tác giả, thông điệp |
Truyện kể sáng tạo là một văn bản (1)..........., ở đó, (2)........... (có thể là nhân vật trong truyện – ngôi thứ nhất, hoặc người ngoài cuộc – ngôi thứ ba) kể lại một cách sáng tạo những (3)........... đã diễn ra ở một không gian, thời gian nào đó, gắn với những (4)........... cụ thể. Thông qua câu chuyện, (5)........... thể hiện quan điểm, suy nghĩ, thái độ của mình về những vấn đề của đời sống. Trong truyện, bên cạnh lời kể, còn có những câu, đoạn văn (6)..........., biểu cảm để làm nổi bật đặc điểm của nhân vật hoặc bối cảnh, đồng thời bộc lộ cái nhìn, tình cảm, cảm xúc của người kể và của chính nhà văn. Truyện kể sáng tạo có thể là một câu chuyện hoàn toàn mới hoặc (7)........... một truyện đã có nhưng điều chỉnh, thay đổi các chi tiết, sự việc, nhân vật,... theo ý tưởng của người kể.
Viết truyện kể sáng tạo là tạo lập một văn bản tự sự có yếu tố (8)........... và có tính nghệ thuật nhất định. Khác với các văn bản như nhật kí, hồi kí, bản tường trình,..., truyện cho phép người viết (9)........... những sự việc, con người không có thật (ví dụ: thần tiên, ma quỷ,...) hoặc chỉ có một phần sự thật (ví dụ: Sự tích Hồ Gươm). Nhưng dù hư cấu thế nào thì truyện vẫn luôn đặt ra những vấn đề của (10)........... con người. Vì thế, việc (11)........... ra các tình huống, sự việc, chi tiết, nhân vật (con người, con vật, thần, thánh,...),... chỉ là phương thức để người viết gửi gắm những (12)....... về cuộc sống. Đó có thể là một bài học về đạo lí, lối sống hay một quan niệm, một góc nhìn về thiên nhiên, xã hội, con người.
Các từ ngữ cần điền lần lượt là: (1) tự sự, (2) người kể, (3) sự việc, (4) nhân vật, (5) tác giả, (6) miêu tả, (7) mô phỏng, (8) hư cấu, (9) tưởng tượng, (10) đời sống, (11) sáng tạo, (12) thông điệp.
Những ý nào sau đây nêu đúng các điểm cần lưu ý khi viết truyện kể sáng tạo?
a) Xác định mục đích viết truyện kể sáng tạo
b) Xác định đối tượng người đọc mà truyện hướng tới
c) Ghi chép trung thực về những sự việc, con người có thật
d) Lựa chọn người kể chuyện
e) Xác định bối cảnh (không gian, thời gian) để nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc
g) Xác định nhân vật, nhân vật chính cho câu chuyện
h) Lựa chọn và đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm vào truyện
Đáp án:
a) Xác định mục đích viết truyện kể sáng tạo
b) Xác định đối tượng người đọc mà truyện hướng tới
d) Lựa chọn người kể chuyện
g) Xác định nhân vật, nhân vật chính cho câu chuyện
h) Lựa chọn và đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm vào truyện
Chỉ ra biểu hiện và nêu nhận xét về sự kết hợp giữa kể với tả hoặc kể với biểu cảm hoặc kể với tả và biểu cảm trong các đoạn văn sau:
a) Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện. (Nguyễn Dữ)
b) Chúng tôi chỉ còn kịp nghe thấy tiếng bước chân huỳnh huỵch xuống cầu thang, rồi tiếng cổng sắt sập mạnh. Từ cửa sổ phòng khách, tôi còn thấy hắn chạy trối chết về phía cuối đường.
Đồ vô lại! – Hôm rủa. – Thằng khốn này sẽ gieo rắc tai hoạ cho đến ngày lên giá treo cổ thôi. Vụ này kể ra cũng không hoàn toàn vô vị. (Đoi-lơ)
c) Tôi tìm hung thủ trong hai người này chăng? Thoạt tiên thì đó là điều vô lí hết sức. Huy là người tôi biết đã lâu lắm, hiền lành, ngay thẳng,... Còn Thạc cũng là người tôi quen, hoạt bát, thông minh và ăn nói dễ thương. Vả lại, chính lúc xảy ra án mạng, cả hai người cùng đi xem chớp bóng với tôi, Huy ngôi bên cạnh tôi, và Thạc cũng ngồi liền một bên. Tôi ngồi giữa... Tuy vậy, một sự gì rất bí nhiệm, một điều quan sát không mấy khi ta lưu tâm đến... lúc thường tôi bỏ qua, nhưng bấy giờ đến mách bảo tôi, khiến tôi ngờ rằng hung thủ là Thạc. (Thế Lữ)
a) Đoạn văn có sự kết hợp giữa yếu tố kể và tả. Kể:“Chàng bèn theo lời, lập một đàn tràng ba ngày đêm ở bến Hoàng Giang. Rồi quả thấy Vũ Nương”; tả:“Vũ Nương ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng ở giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ đầy sông, lúc ẩn, lúc hiện”. Nhờ sự kết hợp này, nhất là sự xuất hiện của yếu tố miêu tả, mà hình ảnh Vũ Nương hiện ra một cách cụ thể, sống động, khiến cho chi tiết Vũ Nương trở về vừa thực vừa ảo, vừa gần gũi, trần thế vừa thân tiên, xa cách.
b) Đoạn văn có sự kết hợp giữa yếu tố kể, tả và biểu cảm. Kể: “Chúng tôi chỉ còn kịp nghe thấy tiếng bước chân”, “Từ cửa sổ phòng khách, tôi còn thấy hắn”; tả: “tiếng bước chân huỳnh huỵch xuống cầu thang, rồi tiếng cổng sắt sập mạnh”; biểu cảm: “Đồ vô lại! – Hôm rủa. – Thằng khốn này sẽ gieo rắc tai hoạ cho đến ngày lên giá treo cổ thôi.”. Sự kết hợp của kể với tả và biểu cảm đã làm cho đoạn văn giống như một thước phim ngắn, ở đó, người đọc có thể cảm nhận được hoạt động của nhân vật (tiếng bước chân), sự vật (cổng sắt va đập), sự vội vàng, lo lắng, sợ hãi của thủ phạm (chạy trối chết) cũng như thái độ, cảm xúc của nhân vật thám tử (bức xúc, căm phẫn).
c) Đoạn văn có sự kết hợp giữa yếu tố kể, tả và biểu cảm. Kể: “Tôi tìm hung thủ trong hai người này chăng? Thoạt tiên thì đó là điều vô lí hết sức.”, “Tuy vậy, một sự gì rất bí nhiệm, một điều quan sát không mấy khi ta lưu tâm đến... lúc thường tôi bỏ qua, nhưng bấy giờ đến mách bảo tôi, khiến tôi ngờ rằng hung thủ là Thạc.”; tả: “Huy là người tôi biết đã lâu lắm, hiền lành, ngay thẳng,... Còn Thạc cũng là người tôi quen, hoạt bát, thông minh và ăn nói dễ thương.”, “Huy ngồi bên cạnh tôi, và Thạc cũng ngồi liền một bên. Tôi ngồi giữa...”; biểu cảm: phân vân (“Tôi tìm hung thủ trong hai người này chăng?”), yêu mến (“Huy là người tôi biết đã lâu lắm, hiền lành, ngay thẳng,... Còn Thạc cũng là người tôi quen, hoạt bát, thông minh và ăn nói dễ thương.”), nghi ngờ (“Tuy vậy, một sự gì rất bí nhiệm, một điều quan sát không mấy khi ta lưu tâm đến... lúc thường tôi bỏ qua, nhưng bấy giờ đến mách bảo tôi, khiến tôi ngờ rằng hung thủ là Thạc.”). Sự kết hợp này đã góp phần giúp nhà văn khắc hoạ thành công năng lực và tính cách của thám tử Lê Phong (một người có khả năng phán đoán, suy xét sự việc thông minh, có óc quan sát và trí tưởng tượng tốt), đồng thời thể hiện được những trạng thái cảm xúc, những diễn biến nội tâm của nhân vật trong quá trình phá án.
Dựa vào nội dung đoạn trích Gói thuốc lá của Thế Lữ (phần Tự đánh giá), hãy viết tiếp phần kết cho câu chuyện này.
Tham khảo phần kết truyện sau đây của nhà văn Thế Lữ:
“Phong nói đoạn, Mai Trung lẳng lặng lại gần cởi cái khăn bịt ngang miệng người bị trói ở chân giường ra, và, lúc cả khuôn mặt Thạc hiện dưới ánh đèn, thì mọi người đều sửng sốt. Da mặt Thạc tái mét, miệng mím chặt lại, hai mắt trừng trừng mở và mất hết tinh thần. Một dòng nước dãi lẫn chút máu chảy từ bên khoé mép xuống dưới cằm. Sờ chân, tay lạnh toát và cứng đơ: Thạc đã chết.
Trung gật đầu:
- Chết rồi! Mà chết mới độ một, hai phút...
Phương hỏi:
- Tự tử?
- Phải. [...] Nhưng hắn tự tử lúc nào?
Phong im lặng.
Nhưng một lúc sau anh bảo nhỏ Mai Hương:
- [...] Hắn làm thế phải hơn. Đó vừa là cách thú tội, vừa là cách tự xử”.
Hãy chỉnh sửa lại định nghĩa sau cho phù hợp:
Câu chuyện tưởng tượng là một câu chuyện hoàn toàn có thật, do người kể kể lại, nghĩa là tình huống, bối cảnh, nhân vật, sự việc,... trong câu chuyện phải gắn với cuộc sống, đã, đang diễn ra trong cuộc sống. Câu chuyện tưởng tượng ấy không có yếu tố hư cấu, nhưng phải có ý nghĩa, mang đến một thông điệp về cuộc sống và con người,...
Định nghĩa đúng: “Câu chuyện tưởng tượng là câu chuyện không có thật, do người kể tự hình dung, tưởng tượng ra. Tuy nhiên, câu chuyện tưởng tượng phải có cơ sở từ thực tế cuộc sống; nghĩa là tình huống, bối cảnh, nhân vật, sự việc... trong câu chuyện phải gắn với cuộc sống, có thể đã, đang và sẽ xảy ra trong cuộc sống Câu chuyện tưởng tượng ấy cũng phải có ý nghĩa, mang đến một thông điệp về cuộc sống và con người,...”.
Phương án nào nêu không đúng yêu cầu kể một câu chuyện tưởng tượng?
A. Lựa chọn ngôi kể phù hợp với mục đích, đối tượng, nội dung của truyện kể
B. Thay đổi ngôn ngữ kể cho tương thích với ngôi kể và đối tượng lắng nghe
C. Thể hiện thái độ chú ý lắng nghe; sử dụng cử chỉ, ánh mắt,... để khích lệ người kể
D. Kết hợp lời kể với các yếu tố phi ngôn ngữ để tăng tính sinh động của hoạt động kể
Đáp án C. Thể hiện thái độ chú ý lắng nghe; sử dụng cử chỉ, ánh mắt,... để khích lệ người kể.
Hãy kể cho người thân, bạn bè,... phần kết của truyện Gói thuốc lá (Thế Lữ) do em tưởng tượng.
Em kể cho người thân, bạn bè,... phần kết của truyện Gói thuốc lá (Thế Lữ) theo 1 số gợi ý sau:
- Thạc và đồng bọn bị vạch trần và bị bắt.
- Thám tử Lê Phong đã nói anh chưa hề đưa cho Thạc mượn gói thuốc lá. Câu nói của Lê Phong liên quan đến gói thuốc lá chỉ là một phép thử.
- Vụ án được làm sáng tỏ.
