Giải SBT Ngữ Văn 9 Cánh diều Bài 10. Nghị luận văn học có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 9 Cánh diều Bài 10. Nghị luận văn học có đáp án

A
Admin
VănLớp 992 lượt thi
32 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Nhan đề văn bản Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương” có gì cần chú ý?

Xem đáp án

Nhan đề văn bản có điểm cần chú ý là hai chữ “nghĩ thêm”. Hai chữ ấy hàm ý Chuyện người con gái Nam Xương đã được nhiều người nói đến, ở đây tác giả chỉ nêu những điều nghĩ thêm thôi. Mà “nghĩ thêm” nghĩa là không có gì quan trọng (ý nhỏ, ý phụ). Đây thường là cách viết khiêm nhường, cho rằng những ý mình nêu lên không có gì to tát, quan trọng.

2. Tự luận
1 điểm

Chọn những ý nêu đúng mục đích của việc đọc hiểu văn bản Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương”:

A. Giúp học sinh hiểu thêm văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

B. Giúp học sinh biết thêm một truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại

C. Giúp học sinh biết cách đọc một văn bản nghị luận phân tích truyện

D. Giúp học sinh thấy được vẻ đẹp của Chuyện người con gái Nam Xương

E. Giúp học sinh có những hiểu biết về cuộc đời tác giả Nguyễn Dữ

G. Giúp học sinh hiểu bối cảnh ra đời của Chuyện người con gái Nam Xương

Xem đáp án

Đáp án A. Giúp học sinh hiểu thêm văn bản Chuyện người con gái Nam Xương.

3. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 3, SGK) Tác giả đã làm sáng tỏ luận đề bằng những luận điểm nào? Dẫn ra một số lí lẽ và bằng chứng mà tác giả sử dụng để làm sáng tỏ cho luận đề và luận điểm của văn bản.

Xem đáp án

- Luận điểm 1: “sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương đã bắt đầu từ cái bóng của chính Vũ Nương”. Để làm rõ điều này, tác giả đã phân tích bằng những lí lẽ kết hợp với bằng chứng: “Chồng đi chiến trận, “ngày thường, ở một mình, nàng hay đùa con, trỏ bóng mình mà bảo là cha Đản”. Cái bóng là gì vậy? Nếu không phải là một biêu tượng cho sự đồng nhất mình với chồng?”, hoặc: “Vậy mà có ai ngờ rằng đời Vũ Nương tan nát bắt đầu chính từ cái bóng kia. Tan nát đến mức thánh thần, Trời Phật cũng chỉ có thể an ủi, bù đắp chút ít chứ không cứu lại được.”,

- Luận điểm 2: “Không ít người đã cho rằng sự tan nát hạnh phúc của Vũ Nương là do chế độ nam nữ bất bình đẳng. Nói thế nghe qua thấy có lí. Nhưng nghĩ kĩ thì thấy về cơ bản không hẳn thế.”. Luận điểm ấy được làm rõ qua lí lẽ và bằng chứng như: “Bởi như chính tác phẩm đã để lộ, nguyên nhân quan trọng và trực tiếp làm tan nát đời Vũ Nương cùng với chuyện cái bóng của Vũ Nương, lời nói hồn nhiên, vô tư của đứa con, là cái “tính đa nghỉ”, “hay ghen” của anh chồng Trương Sinh.”,...

- Luận điểm 3: “Đây đó lại còn có ý kiến cho rằng Vũ Nương tan nát hạnh phúc - là vì chiến tranh. Xin nói ngay: Ý kiến này là hoàn toàn sai”. Sau đó, tác giả nêu lên lí lẽ và bằng chứng.  

- Cuối cùng, trong phần (3), tác giả khái quát và khẳng định lại luận đề đã nêu: Rõ ràng truyện Chuyện người con gái Nam Xương đã cho người đọc thấy thế nào là cái mong manh vô cùng mong manh của hạnh phúc người phụ nữ muôn nơi, muôn thuở.”.

4. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 4, SGK) Phân tích để làm sáng tỏ cách trình bày kết hợp của tác giả trong văn bản: nêu vấn đề khách quan và phát biểu ý kiến chủ quan.

Xem đáp án

“Trong Chuyện người con gái Nam Xương, lấy cái bóng của Vũ Nương để nói là cha Đản, tức là chồng mình” là cách trình bày khách quan nội dung từ tác phẩm. Nhưng từ đó phân tích thì tác giả chuyển sang ý kiến chủ quan: “Vậy mà có ai ngờ rằng đời Vũ Nương tan nát bắt đầu chính từ cái bóng kia. Tan nát đến mức thánh thần, Trời Phật cũng chỉ có thể an ủi, bù đắp chút ít chứ không cứu lại được. Rồi nữa, tham gia vào việc phá nát hạnh phúc của Vũ Nương là ai? Trời ơi! Lại không ai khác mà chính là đứa con của Vũ Nương.”,

5. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 5, SGK) Văn bản đã làm sáng tỏ thêm giá trị của Chuyện người con gái Nam Xương ở những điểm nào (nội dung, nghệ thuật)?

Xem đáp án

- Về nội dung: Bài viết đã làm rõ hơn những thông điệp sâu sắc của Chuyện người con gái Nam Xương qua luận đề và các luận điểm đã xác định ở bài tập 3. Ví dụ: Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện “cái mong manh vô cùng mong manh, mong manh tới độ với tư duy thông thường, trên thế gian này, chẳng ai có thế nghĩ tới”.

- Về nghệ thuật: Bài viết cho thấy Nguyễn Dữ đã sáng tạo nên “một cốt truyện bao gồm một hệ thống chi tiết, trong đó đặc biệt có chi tiết chủ công ăm ắp trữ lượng nghệ thuật thông qua một bút pháp vừa thực vừa ảo, vừa hiện thực vừa lãng mạn”, một áng “thiên cổ kì bút”.

6. Tự luận
1 điểm

Em hiểu phần “nghĩ thêm” của tác giả bài viết là gì?

Xem đáp án

“Muốn thấy được cái độc đáo và cũng là cao siêu của Chuyện người con gái Nam Xương, phải nói thêm điều này. Đó là cái mong manh vô cùng mong manh, mong manh tới độ với tư duy thông thường, trên thế gian này, chẳng ai có thể nghĩ tới. Nhưng đó là sự thật. Sự thật quá ư khắc nghiệt đối với hạnh phúc của đàn bà, chẳng riêng gì ở Việt Nam thời phong kiến, mà còn là với nữ giới muôn nơi, muôn thuở.”

7. Tự luận
1 điểm

Xác định những câu văn nêu vấn đề khách quan, ý kiến chủ quan trong đoạn văn sau (trích Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương” – Nguyễn Đình Chú) và lí giải vì sao:

“Trong Chuyện người con gái Nam Xương, hình tượng trung tâm là Vũ Nương đã được xây dựng với tính cách một phụ nữ đẹp người, đặc biệt là đẹp nết nhưng lại phải chịu một nỗi oan khiên tày trời. Nàng là hiện thân cho thân phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Nói thế hoàn toàn không sai nhưng chưa đủ để phân biệt được giá trị của Chuyện người con gái Nam Xương với các tác phẩm khác cùng nói về phẩm chất tốt đẹp và nỗi khổ của người phụ nữ ở thời trung đại. Muốn thấy được cái độc đáo và cũng là cao siêu của Chuyện người con gái Nam Xương, phải nói thêm điều này. Đó là cái mong manh vô cùng mong manh, mong manh tới độ với tư duy thông thường, trên thế gian này, chẳng ai có thể nghĩ tới. Nhưng đó là sự thật. Sự thật quá ư khắc nghiệt đối với hạnh phúc của đàn bà, chẳng riêng gì ở Việt Nam thời phong kiến, mà còn là với nữ giới muôn nơi, muôn thuở.”

Xem đáp án

- Câu văn nêu ý kiến chủ quan là câu thể hiện ý kiến riêng của chính người viết. Ví dụ về câu văn nêu ý kiến chủ quan trong đoạn: “Nàng là hiện thân cho thân phận đau khổ của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa. Nói thế hoàn toàn không sai nhưng chưa đủ để phân biệt được giá trị của Chuyện người con gái Nam Xương với các tác phẩm khác cùng nói về phẩm chất tốt đẹp và nỗi khổ của người phụ nữ ở thời trung đại.”.

- Câu văn nêu vấn đề khách quan là câu văn người viết dựa vào nội dung của truyện để nêu tóm tắt ý kiến. Ví dụ về câu văn nêu vấn đề khách quan trong đoạn “Trong Chuyện người con gái Nam Xương, hình tượng trung tâm là Vũ Nương đã được xây dựng với tính cách một phụ nữ đẹp người, đặc biệt là đẹp nết nhưng lại phải chịu một nỗi oan khiên tày trời.”.

8. Tự luận
1 điểm

Mục đích văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân (Nguyễn Văn Long) có gì khác mục đích truyện ngắn Làng (Kim Lân)?

Xem đáp án

Mục đích văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân (Nguyễn Văn Long) là nhằm làm rõ cái hay, cái đẹp về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Làng. Còn mục đích truyện ngắn Làng là thể hiện tình cảm, tư tưởng của nhà văn Kim Lân đối với người nông dân và làng quê của mình.

9. Tự luận
1 điểm

Phương án nào nêu đúng sự khác nhau giữa yêu cầu đọc hiểu văn bản Về truyện “Làng” của Kim Lân và yêu cầu đọc hiểu truyện ngắn Làng?

A. Một bên là kể lại nội dung, một bên là phân tích nội dung

B. Một bên là đọc hiểu nội dung, một bên là đọc hiểu hình thức

C. Một bên là đọc văn bản nghị luận, một bên là đọc văn bản văn học

D. Một bên là văn bản thông tin, một bên là văn bản truyện

Xem đáp án

Đáp án C. Một bên là đọc văn bản nghị luận, một bên là đọc văn bản văn học.

10. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 3, SGK) Nhận xét về cách nêu và cách triển khai làm rõ luận điểm của người viết ở văn bản trên.

Xem đáp án

Cách nêu vấn đề của người viết rất ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu. Từ vấn đề nêu ở phần mở đầu văn bản, tác giả lần lượt phân tích các biểu hiện trong truyện để làm rõ đó là một cốt truyện tâm lí, đơn giản, tập trung vào miêu tả diễn biến tâm trạng của nhân vật chính – ông Hai.

11. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 4, SGK) Để làm rõ vấn đề, người viết đã phân tích những điểm đặc sắc nào của truyện ngắn Làng? Em hiểu thêm được điều gì về truyện Làng của Kim Lân sau khi học văn bản trên?

Xem đáp án

- Để làm rõ vấn đề, người viết đã phân tích những điểm đặc sắc của truyện ngắn Làng như sau:

+ “Ngay từ những dòng đầu, truyện đã mở ra với tâm trạng của ông Hai ở nơi tản cư”. Để làm rõ điều này, tác giả đã phân tích bằng những lí lẽ kết hợp với bằng chứng: Tối nào cũng vậy, ông Hai đều có tâm trạng buồn bực và phải sang tâm sự với bác Thứ.

+ “Ngòi bút miêu tả tâm lí của Kim Lân càng tỏ ra sâu sắc khi đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống thử thách để làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật”.

Luận điểm ấy được làm rõ qua lí lẽ và bằng chứng về tình huống nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc và những diễn biến tâm lí của nhân vật ông Hai.

+ “Sự mở rộng và thống nhất của tình yêu quê hương trong tình yêu nước và tình cảm giai cấp là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kì kháng chiến đã chú trọng làm nổi bật.”. Sau đó, tác giả nêu lên lí lẽ và bằng chúng bằng các tác phẩm thơ văn khác và phân tích biểu hiện cụ thể trong truyện Làng.

+ Cuối cùng, trong phần (3), tác giả khái quát và khẳng định lại luận đề đã nêu: “Trong văn học cách mạng Việt Nam đã có nhiều tác phẩm thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của nhân dân đối với cách mạng và đất nước, nhưng có lẽ truyện ngắn Làng của Kim Lân ở trong số những tác phẩm thành công sớm nhất”.

- Sau khi học văn bản trên, em hiểu thêm về truyện Làng của Kim Lân là:

+ Việc ông Hai hay sang nhà bác Thứ nói chuyện là cách để ông vơi đi nỗi nhớ làng của mình.

+ Ông Hai dứt khoát, quyết theo cách mạng đến cùng: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.

+ Sự mở rộng và thống nhất của tình yêu quê hương trong tình yêu nước và tình cảm của quần chúng cách mạng đã được văn học thời kì kháng chiến làm nổi bật.

12. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 5, SGK) Nêu và phân tích một số câu văn thể hiện cách trình bày khách quan và cách trình bày chủ quan của người viết trong văn bản Về truyện“Làng” của Kim Lân.

Xem đáp án

- Câu văn thể hiện cách trình bày khách quan là những câu nêu thông tin vốn có của đối tượng (giới thiệu nhân vật trong tác phẩm, nêu nội dung chính văn bản, thuật lại vắn tắt cốt truyện, khái quát đặc điểm hình thức nghệ thuật,...)

+ Làng là một truyện ngắn có cốt truyện rất đơn giản, tập trung vào diễn tả tâm trạng của nhân vật chính - ông Hai, hay có thể nói đây là một kiểu cốt truyện tâm lí.

+ Cái tin ấy đến với ông vào một buổi trưa giữa lúc tâm trạng ông đang rất phấn chấn vì nghe được nhiều tin ta đánh thắng giặc trên tờ báo ở phòng thông tin.

- Câu văn thể hiện cách trình bày chủ quan là những câu thể hiện tình cảm, quan điểm, thái độ của người viết trước vấn đề cần bàn luận.

+ Mà thực ra thì ông Hai cũng chẳng để ý lắm đến việc người cùng trò chuyện có nghe ông nói hay không, ông chỉ cốt nói để trút vợi tâm trạng và nhất là cho đỡ nhớ cái làng của mình.

+ Thì ra tình yêu làng quê ở ông Hai trước sau vẫn son sắt và sâu nặng, dù có lúc ông đã tức giận và đau đớn tự nhủ: “làng theo Tây mất rồi thì phải thù”.

13. Tự luận
1 điểm

Theo em, phần (2) của bài viết có làm sáng tỏ được ý kiến của người viết nêu ở phần (1) không?

Xem đáp án

Phần (2) của bài viết chứng minh và làm sáng rõ ý kiến của người viết nêu ở phần (1).

14. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra những câu nêu lí lẽ và những câu nêu bằng chứng của tác giả Nguyễn Văn Long trong đoạn trích sau (trích Về truyện “Làng” của Kim Lân):

“Ngay từ những dòng đầu, truyện đã mở ra với tâm trạng của ông Hai ở nơi tản cư: Tối nào cũng vậy, cứ đến lúc nhà lên đèn và bà Hai ngồi lầm rầm tính toán những tiền cua, tiền bún, tiền kẹo,... thì một tâm trạng buồn bực lại dậy lên trong lòng ông Hai khiến ông phải vùng dậy sang bên bác Thứ nói chuyện. Cái việc ông Hai cứ tối tối lại tìm sang bác hàng tản cu cũng là người tản cư để nói chuyện chính là một cách để giải toả những nỗi buồn bực, nghĩ ngợi vẩn vơ và nhất là để thổ lộ nỗi nhớ da diết cái làng của ông. Bởi vậy, trong cuộc trò chuyện, chỉ có ông Hai nói và bác Thứ ngồi nghe. Mà thực ra thì ông Hai cũng chẳng để ý lắm đến việc người cùng trò chuyện có nghe ông nói hay không, ông chỉ cốt nói để trút vợi tâm trạng và nhất là cho đỡ nhớ cái làng của mình. “Ông nói chuyện về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động.”.

Ngòi bút miêu tả tâm lí của Kim Lân càng tỏ ra sâu sắc khi đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống thử thách để làm bộc lộ chiều sâu tâm trạng của nhân vật, đó là tình huống ông Hai đột ngột nghe tin dữ: Làng Chợ Dầu của ông theo giặc lập tề.”

Xem đáp án

– Câu văn nêu lí lẽ: “Cái việc ông Hai cứ tối tối lại tìm sang bác hàng xóm cũng là người tản cư để nói chuyện chính là một cách để giải toả những nỗi buồn bực, nghĩ ngợi vẩn vơ và nhất là để thổ lộ nỗi nhớ da diết cái làng của ông.”.

– Câu văn nêu bằng chứng: “Ông nói chuyện về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động.”.

15. Tự luận
1 điểm

Văn bản Phân tích bài “Khóc Dương Khuê” (Hoàng Hữu Yên) có sự kết hợp phương thức nghị luận với những phương thức biểu đạt nào?

A. Nghị luận kết hợp với tự sự và biểu cảm

B. Nghị luận kết hợp với thuyết minh và miêu tả

C. Nghị luận kết hợp với tự sự và miêu tả

D. Nghị luận kết hợp với thuyết minh và biểu cảm

Xem đáp án

Đáp án A. Nghị luận kết hợp với tự sự và biểu cảm.

16. Tự luận
1 điểm

Trong đoạn văn mở đầu bài viết, tác giả Hoàng Hữu Yên nêu lên những ví dụ thể nào về tình bạn và nhằm mục đích gì?

Xem đáp án

Trong đoạn văn mở đầu bài viết, tác giả Hoàng Hữu Yên nêu lên những ví dụ cụ thể về tình bạn. Đó là “Truyện dân gian kể về đôi bạn Lưu Bình – Dương Lễ rất cảm động. Danh nho Lục tỉnh Nguyễn Đình Chiểu để lại những hình tượng đẹp đẽ, cao cả về tình bạn Vân Tiên – Hớn Minh, Vân Tiên – Tử Trực, đồng thời lưu danh Trịnh Hâm là một tên phản bạn (Truyện Lục Vân Tiên).”.

Việc dẫn ra các ví dụ ấy có tác dụng khẳng định ý kiến đã nêu: “Trong nhiều mối quan hệ của cuộc sống con người thì tình bạn xưa nay vẫn được coi là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu.”.

17. Tự luận
1 điểm

Câu hỏi 3, SGK) Tác giả đã phân tích bài thơ theo cách nào? Cách phân tích ấy có tác dụng gì trong việc làm rõ nội dung chính của bài thơ?

Xem đáp án

Văn bản thể hiện khá rõ cách phân tích của tác giả: lần lượt theo từng đoạn và cũng là trình tự của mạch cảm xúc trong bài thơ.

“ – Tin đến đột ngột.

– Sự hồi tưởng về những kỉ niệm của thời xuân xanh, chưa thành đạt.

– Về ấn tượng mới trong lần gặp cuối cùng, lúc cả hai đã mãn chiều xế bóng.

– Nỗi đau khôn tả lúc bạn đã dứt áo “ra đi”.”

Cách phân tích này giúp người viết làm sáng tỏ tình cảm của tác giả bài thơ thông qua các kỉ niệm, hồi ức và nỗi đau khi bạn mất. Cũng nhờ đó, người đọc dễ theo dõi nội dung của bài thơ.

18. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 4, SGK) Chỉ ra luận đề và các luận điểm chính trong văn bản. Theo em, các luận điểm trong văn bản có làm sáng tỏ được luận đề không? Vì sao?

Xem đáp án

- Luận đề: Bài thơ Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến là một trong những bài thơ viết về tình bạn “lấp lánh bất chấp sự thay đổi của thời thế và cảnh ngộ riêng”.

- Các luận điểm được xác định và làm rõ theo mạch diễn biến tâm trạng của tác giả bài thơ: a) Tin đến đột ngột;

b) Sự hồi tưởng về những kỉ niệm của thời xuân tanh, chưa thành đạt;

c) Về ấn tượng mới trong lần gặp cuối cùng, lúc cả hai đã mãn ego chiều xế bóng;

d) Nỗi đau khôn tả lúc bạn đã dứt áo “ra đi”.

- Các luận điểm ấy đã làm sáng tỏ được luận đề của bài viết vì đều tập trung làm rõ: Bài thơ viết về tình bạn thuỷ chung, tri kỉ, nặng nghĩa nặng tình của hai người bạn – một tình bạn “lấp lánh bất chấp sự thay đổi của thời thế và cảnh ngộ riêng”.

19. Tự luận
1 điểm

(Câu hỏi 5, SGK) Dẫn ra một số bằng chứng cho thấy tác giả đã sử dụng cách trình bày kết hợp: nêu vấn đề khách quan và phát biểu ý kiến chủ quan.

Xem đáp án

- Nêu vấn đề khách quan:

Trước ông, Phạm Thái chẳng đã viết văn tế Trương Đăng Thụ và sau ông, Phan Bội Châu cũng viết văn tế Phan Châu Trinh.

Nỗi đau mất bận hiện ra dưới nhiều cung bậc: lúc bộc phát, lục ngậm ngùi nuối tiếc, lúc lắng đọng thấm sâu, chi phối tuổi già của tác giả.

- Phát biểu ý kiến chủ quan:

Tiếc thay đó lại là sự thật nghiệt ngã!

Kì tái ngộ quý hóa biết dường nào!

Đúng là nỗi mừng biết lấy chi cân?

20. Tự luận
1 điểm

Dẫn ra một câu hoặc đoạn văn thể hiện rõ màu sắc biểu cảm trong văn nghị luận của người viết.

Xem đáp án

Câu hoặc đoạn văn thể hiện rõ màu sắc biểu cảm trong văn nghị luận của người viết như:

– “Giờ này, trước mắt và trong lòng tác giả là cả một sự trống vắng ghê người! Sáu dòng thơ “Rượu ngon không có bạn hiền ... Câu thơ nghĩ đắn đo không viết ... Giường kia treo cũng hững hờ ...” đọng lại một nỗi niềm đau đáu nhớ bạn khôn khuây!”

– Hoặc: “Mấy dòng kết của đoạn này làm hiện lên hình tượng nỗi đau khôn tả, tiếng khóc không nước mắt, nỗi đau dường như đã dồn cả vào lòng. Nỗi đau ấy là nỗi đau triền miên bất tận!”.

21. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

“Đây là bài thơ khóc bạn rất tha thiết cảm động của Nguyễn Khuyến, cũng là bài thơ khóc bạn rất nổi tiếng trong nền thơ ca dân tộc. Dương Khuê là bạn đồng khoa với Nguyễn Khuyến tại khoa thi Hương năm 1864. Dương Khuê đỗ tiến sĩ, làm quan to, để lại nhiều bài thơ hát nói tuyệt bút. Từ bạn đồng khoa đã phát triển thành bạn tri âm tri kỉ nên Nguyễn Khuyến mới có thơ khóc bạn cảm động và tha thiết như vậy. Có thể xem đây cũng là một bài văn tế được viết bằng thể thơ song thất lục bát, giọng thơ réo rắt thấm đầy lệ, gồm 38 dòng thơ.

Mở đầu bài thơ là một tiếng than, tiếng nấc đau đớn:

Bác Dương thôi đã thôi rồi,

Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

Một sự thảng thốt xót thương cất lên, tưởng như bất ngờ bị đánh rơi mất một cái gì vô cùng quý báu. Nhóm từ “thôi đã thôi rồi” thay cho khái niệm “đã mất”, “đã chết”, “đã qua đời”,... – một lối nói bình dị, làm giảm bớt đi nỗi đau đớn ghê gớm đối với tuổi già. Theo cách tính tuổi của các cụ ngày trước thì Dương Khuê mật lúc 63 tuổi, khi đó Nguyễn Khuyến đã 68 tuổi rồi. Đúng là tiếng khóc bạn của những bậc cao niên. Hai chữ “nước mây” chỉ hai sự vật cách xa. Nước chảy, mây trôi, Xã nhau vời vợi, nghìn trùng cách trở, có mấy khi gặp nhau. Song, lòng nước chảy, dù đi đâu về đâu vẫn ôm ấp bóng mây trôi. Hình ảnh “nước mây” được liên kết với từ láy “man mác”, “ngậm ngùi” diễn tả một trời thương xót, một không gian cách trở bao la, âm dương đôi đường, buồn đau, nặng trĩu.

Chữ “bác” trong thơ Nguyễn Khuyến mang tính biểu cảm sâu sắc. Nhà thơ luôn luôn gọi bạn bằng bác, thể hiện một tấm lòng kính trọng và thân mật. Chữ “kính và chữ “lễ” in đậm trong phong cách ứng xử của Tam nguyên Yên Đỗ: “Bác Dương thôi đã thôi rồi.. Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác ... Bác chẳng ở, dẫu van chẳng ở ...”.

Phần thứ hai gồm 24 dòng thơ, tác giả nhắc lại, nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc với người đã quá cố. Với nhà nho thì bạn đồng khoa là bạn đẹp nhất, tự hào nhất Nguyễn Khuyến và Dương Khuê cùng đỗ đạt, cùng làm quan, tình bạn ấy là “duyên trời” tác hợp nên:

Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,

Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.

Kinh yêu từ trước đến sau,

Trong khi gặp gỡ khác đâu duyên trời.

Các từ ngữ “sớm hôm”, “cùng nhau”, “từ trước đến sau” thể hiện một tình bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải là những tạo nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và đáng nhớ như vậy.”

(Theo thivien.net)

a) Cách phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê ở trên có gì giống cách phân tích bài thơ này của tác giả Hoàng Hữu Yên trong văn bản Phân tích bài “Khóc Dương Khuê” ở Bài 10?

b) Trong đoạn trích trên, người viết tập trung phân tích yếu tố hình thức nào của bài thơ?

c) Dẫn ra một số câu văn trong đoạn trích thể hiện tính biểu cảm của văn nghị luận.

Xem đáp án

a) Cách phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê trong đoạn trích giống cách phân tích của tác giả Hoàng Hữu Yên ở chỗ: đều bắt đầu nêu bối cảnh ra đời của bài thơ; sau đó lần lượt phân tích bài thơ theo các phần (bố cục).

b) Trong đoạn trích trên, người viết tập trung phân tích yếu tố hình thức của bài thơ chủ yếu dựa vào các từ ngữ, hình ảnh để chỉ ra nội dung.

c) Ví dụ về một số câu văn trong đoạn trích thể hiện tính biểu cảm của văn nghị luận: “Các từ ngữ “sớm hôm”, “cùng nhau”, “từ trước đến sau” thể hiện một tỉnh bạn vô cùng thân thiết, chung thuỷ. Mỗi một kỉ niệm là một mảnh tâm hồn của nhà thơ được nhắc lại với bao nhiêu giọt lệ. Nguyễn Khuyến như vẫn thấy Dương Khuê đang cùng mình hiển hiện. Phải là bạn tâm đầu ý hợp, phải là những tao nhân mặc khách mới có những kỉ niệm cầm ca, thi tửu đẹp và đáng nhớ như vậy”.

22. Tự luận
1 điểm

(Bài tập 1, SGK) Tìm trong sách giáo khoa (bộ sách Cánh Diều) một trường hợp chú thích nguồn của ý kiến được trích dẫn ở ngay sau ý kiến đó hoặc ở chân trang.

Xem đáp án

- Văn bản “Nói thêm về Chuyện người con gái Nam Xương": Nguồn cuối văn bản: Theo nguvan.hnue.edu.vn.

23. Tự luận
1 điểm

(Bài tập 2, SGK) Tìm danh mục tài liệu tham khảo ở một quyển sách em đã đọc. Cho biết các tài liệu trong danh mục đó được sắp xếp theo thứ tự như thế nào.

Xem đáp án

- Danh mục tài liệu tham khảo được đặt cuối bài viết, được bắt đầu bằng tiêu đề “Tài liệu tham khảo”, tiếp theo liệt kê tài liệu tham khảo (sách, bài báo, nguồn ấn phẩm điện tử…) được sắp xếp thứ tự Alphabet theo họ tác giả, tên bài viết/ấn phẩm không có tác giả.

24. Tự luận
1 điểm

Sắp xếp các tài liệu dưới đây thành một danh mục tài liệu tham khảo:

Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội; Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục; Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục.

Xem đáp án

1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục;

2. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội;

3. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội;

4. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục.

25. Tự luận
1 điểm

Viết một đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) giới thiệu về câu đặc biệt, trong đó có trích dẫn cách định nghĩa về kiểu câu này trong SGK Ngữ văn 9, tập hai (bộ sách Cánh Diều) và chú thích nguồn ý kiến được trích dẫn.

Xem đáp án

Ngôn ngữ là phương tiện trao đổi suy nghĩ, tình cảm giữa con người với con người, một thứ tiếng hay không chỉ thỏa mãn được nhu cầu giao tiếp của xã hội mà còn là sự giàu đẹp trong cấu tạo từ ngữ cũng như hình thức diễn đạt. Và tiếng Việt chính là một trong những ngôn ngữ được đánh giá cao, không chỉ phong phú trong thanh điệu, ngữ âm, tiếng Việt còn đa dạng bởi những cấu trúc câu góp phần thể hiện suy tư, cảm xúc  của con người một cách tinh tế và vô cùng khéo léo. Một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự giàu đẹp, phong phú của tiếng Việt ấy có thể nhắc đến "câu đặc biệt". Câu đặc biệt là câu không được cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ. Câu đặc biệt thường được dùng để xác định bối cảnh (thời gian, nơi chốn, tình huống…), sự có mặt của người, vật, hiện tượng, gọi đáp, biểu lộ cảm xúc hoặc sự đánh giá (trích trong SGK Ngữ văn 9, tập hai (bộ sách Cánh Diều)).

26. Tự luận
1 điểm

Trình bày những hiểu biết của em về quảng cáo.

Xem đáp án

- Quảng cáo là loại văn bản cung cấp rộng rãi các thông tin, tri thức liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, nhằm mục đích tiêu thụ sản phẩm, giới thiệu hoạt động của các tổ chức, doạnh nghiệp.

- Quảng cáo được thực hiện bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau như báo chí, truyền hình, Internet, tờ rơi, tin nhắn, pa nô, áp phích, băng rôn trên đường phố và phương tiện giao thông – vận tải, hoạt động giới thiệu sản phẩm tại các nơi công cộng.

- Để tăng sức hấp dẫn, quảng cáo thường các hình ảnh minh hoạ, âm thanh, ca nhạc,…

27. Tự luận
1 điểm

Để tăng sức hấp dẫn, văn bản quảng cáo thường sử dụng những yếu tố nào?

Xem đáp án

Để tăng sức hấp dẫn, văn bản quảng cáo thường sử dụng những yếu tố như hình ảnh minh hoạ, âm thanh, ca nhạc,...

28. Tự luận
1 điểm

Khi xây dựng một văn bản quảng cáo, cần chú ý những gì? Đặc biệt cần tuân thủ luật nào?

Xem đáp án

- Khi xây dựng một văn bản quảng cáo, người quảng cáo cần chú ý đến các yêu cầu sau:

+ Cần tìm hiểu và biết rõ về sản phẩm, dịch vụ để nêu được các nội dung thông tin.

+ Hướng đến đúng khách hàng có nhu cầu.

+ Quảng cáo có mục tiêu, nội dung giống nhau nhưng cách trình bày có thể khác nhau. Với quảng cáo bằng lời, ngôn ngữ phải cô đọng, gây được ấn tượng. Quảng cáo có thể kết hợp giữa ngôn ngữ và hình ảnh phải hài hoà, hấp dẫn.

+ Cần tuân thủ Luật Quảng cáo và các quy định có liên quan, ví dụ: không được đề cao sản phẩm của mình bằng cách hạ thấp sản phẩm của người khác.

+ Lựa chọn đúng thời điểm và công cụ quảng cáo

- Đặc biệt cần tuân thủ luật: Quảng cáo và các quy định có liên quan

29. Tự luận
1 điểm

Đặt tiêu đề quảng cáo cho một món ăn đặc sản, một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh của địa phương em.

Xem đáp án

- Đặc sản Nam Định – Phở bò truyền thống.

- Phở Hà Nội – Đặc sản “Vạn người mê”.

- …

30. Tự luận
1 điểm

Vì sao cần vận dụng tổng hợp các thao tác và phương thức biểu đạt khi viết một văn bản?

Xem đáp án

Cần vận dụng tổng hợp các thao tác và phương thức biểu đạt khi viết một văn bản nhằm để bài viết trở nên sinh động, linh hoạt và uyển chyển trong cách diễn đạt.

31. Tự luận
1 điểm

Yêu cầu trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự ở phần Nói và nghe của Bài 10 là gì? Nội dung ấy liên quan đến phần Viết như thế nào?

Xem đáp án

- Sự việc có tính thời sự là những sự việc đã và đang diễn ra trong thực tiễn, thu hút sự quan tâm của nhiều người. 

- Nội dung này liên quan đến phần Viết vì phần Viết cũng tập trung vào đề tài quảng cáo: Xây dựng văn bản quảng cáo cho một món ăn đặc sản, một di tích lịch sử hoặc danh lam thắng cảnh của địa phương em.

32. Tự luận
1 điểm

Vì sao những điều cần tránh trong quảng cáo lại được coi là một sự việc có tính thời sự?

Xem đáp án

Hiện nay, hoạt động quảng cáo diễn ra rất phổ biến, rất nhiều và trong mọi lĩnh vực đời sống. Cũng có rất nhiều quảng cáo vi phạm Luật Quảng cáo. Việc hiểu rõ những điều cần tránh trong quảng cáo là hết sức cần thiết, thể hiện văn hoá giao tiếp và quy tắc tôn trọng trong truyền thông,... Vì thế, những điều cần tránh khi tiến hành quảng cáo được coi là một sự việc có tính thời sự.