Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 8: Dữ liệu trong văn bản thông tin
Đề thi

Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 8: Dữ liệu trong văn bản thông tin

A
Admin
VănLớp 1285 lượt thi
34 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Đọc và Thực hành tiếng Việt

Bài tập 1. Đọc lại văn bản Pa-ra-na trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 65 – 67) và trả lời các câu hỏi:

Nêu các ý chính, ý phụ và chi tiết tiêu biểu trong văn bản dựa vào bảng gợi ý sau:

Ý chính

Ý phụ

Chi tiết

Số phận của người Giê (Gé)

 

 

Xem đáp án

Ý chính

Ý phụ

Chi tiết

Số phận của người Giê trong lịch sử

Bị dồn vào khu vực nam Bra-xin (Brasil) bởi người Tu-pi (Tupi)

 

Bị truy đuổi tàn bạo

 

Được chính phủ cho định cư ở nhiều trung tâm vào khoảng năm 1914

 

Cuộc sống của người Giê dưới thời thuộc địa

Ứng xử của chính quyền

 

Xây dựng trường học, hiệu thuốc, xưởng cưa, xưởng làm khóa

Phân phát dụng cụ lao động, quần áo, chăn

Hai năm sau, bị bỏ mặc để tự kiếm sống

Sự kháng cự và từ chối lối sống văn minh

 

Sống ngoài trời

Sống du cư

Phá giường làm củi đun, ngủ dưới đất

Từ chối thịt và sữa bò

Giã gạo bằng tay, không dùng máy móc

Sự quay trở về với lối sống và kĩ thuật cổ xưa

Sử dụng những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp

Tạo ra lửa bằng hai mẫu gỗ mềm của cái khoan lửa

Đi săn bằng cung tên

2. Tự luận
1 điểm

Những dữ liệu nào trong văn bản cho thấy “cuộc đảo lộn kì lạ thế cân bằng phù phiếm giữa văn hoá hiện đại và văn hoá nguyên thuỷ”.

Xem đáp án

- Các dữ liệu mà tác giả sử dụng để biểu đạt sự thắng thế, lên ngôi của văn hóa nguyên thuỷ trước sự xâm lấn và áp đặt của văn hoá hiện đại:

- Sự xuất hiện của những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp, lẫn lộn với những vật dụng, công cụ hiện đại trong ngôi nhà của người Anh điêng.

- Việc từ chối các vật dụng của đời sống văn minh như que diêm, súng trường, súng lục,... và quay trở lại với những kĩ thuật, vật dụng truyền thống, cổ xưa như: tạo ra lửa bằng cách quay hay xát mạnh vào nhau hai mẩu gỗ mềm của cái khoan lửa, đi săn với cây cung và mũi tên.

3. Tự luận
1 điểm

“Ở đâu ra vậy những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp tôi đã tìm thấy, trong nhà của người Anh điêng, lẫn lộn giữa những đĩa sắt tráng men, những cùi dìa của cửa hàng tạp hoá, và thậm chí – đôi khi – những bộ xương khung của một chiếc máy khâu?”. Dữ liệu này cho bạn biết điều gì về cuộc sống của người Giê và thái độ, quan điểm của tác giả?

Xem đáp án

Dữ liệu này thể hiện tình thế nhập nhằng giữa một bên là sự áp đặt văn hóa của người da trắng và một bên là sự kháng cự của người Giê trong bối cảnh thuộc địa. Hình ảnh những đĩa sắt tráng men, cùi dìa của cửa hàng tạp hoá, chiếc máy khâu,... biểu trưng cho sự xâm lấn của cái hiện đại vào cuộc sống của người Giê cũng như nỗ lực của chính quyền nhằm đưa họ vào công cuộc khai hoá văn minh. Trong khi đó, hình ảnh những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp biểu trưng cho những kĩ thuật, phương tiện cổ xưa của người bản địa. Thái độ trân trọng đối với vẻ đẹp truyền thống được bộc lộ một cách gián tiếp qua cách diễn đạt hàm chứa sự đánh giá: “Ở đâu ra vậy những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp....

4. Tự luận
1 điểm

Các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và nghị luận xuất hiện trong văn bản đóng những vai trò gì?

Xem đáp án

Ngoài mục đích cung cấp những thông tin mới mẻ, bất ngờ, thú vị, tác giả còn thuyết phục và hấp dẫn người đọc bằng cách sử dụng đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và nghị luận.

- Yếu tố miêu tả được sử dụng nhằm vẽ nên một bức tranh sống động, chi tiết về cuộc sống của người Anh điêng (những đàn bò do chính phủ gửi tới lang thang đâu đó”, những chiếc chày gỗ mục ruỗng, “những chiếc chày đá được mài nhẵn tuyệt đẹp” nằm lẫn lộn giữa những đĩa sắt tráng men, những cùi dìa của cửa hàng bách hoá, các mái nhà đổ rụi ở những ngôi làng bỏ hoang,...).

- Yếu tố biểu cảm diễn tả sự ngạc nhiên, thán phục, suy tư của tác giả trước vẻ đẹp, sức sống và sự tinh tế trong nền văn hoá bản địa cổ sơ của người Anh điêng (“lần đầu tiên tôi đã tiếp xúc với những người hoang dã”, “thất vọng lớn cho tôi”, “họ đã cho tôi một bài học về sự thận trọng và tính khách quan”, “những đồ vật khiến ta trầm tư ấy”,...).

- Yếu tố tự sự được sử dụng nhằm tái hiện hành trình di chuyển, quan sát của nhân vật “tôi”. Chìm bên dưới kết cấu của văn bản là một câu chuyện với các sự kiện được sắp xếp thành một cốt truyện: Lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những người hoang dã → Ngược thời gian, tôi khám phá ra thân phận lịch sử của họ → Hoá ra họ không phải là những người hoang dã thực sự → Tôi phát hiện ra đằng sau lớp phủ hời hợt, phù phiếm của cái được gọi là văn minh là vẻ đẹp và sức sống lâu bền của văn hoá truyền thống. Cốt truyện này làm nổi bật công cuộc khám phá ra những sự thật, quy luật, bản chất của các cấu trúc văn hoá, quyền lực ẩn bên dưới hiện tượng tưởng chừng phù phiếm của đời sống thường nhật; song song với đó là hành trình phá vỡ những định kiến văn hoá vốn in đậm trong tư duy của các nhà khoa học châu Âu về tính chất độc tôn của nền văn minh da trắng. Yếu tố tự sự chìm trong cấu trúc bề sâu của văn bản đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm Pa-ra-na nói riêng cũng như Nhiệt đới buồn nói chung.

- Yếu tố nghị luận được sử dụng nhằm thể hiện cái nhìn, chủ kiến của người viết, tạo nên chiều sâu triết lí cho văn bản. Không dừng lại ở việc miêu tả cuộc sống của người Anh điêng, Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt còn đưa ra những phân tích, đánh giá, luận bàn, giúp người đọc nhìn ra cấu trúc bên trong của nền văn hoá Anh điêng. Những phát hiện này hết sức sâu sắc và giàu sức thuyết phục.

Tóm lại, việc sử dụng đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự và nghị luận đã tạo nên tính chất pha trộn về thể loại của văn bản, mở rộng khả năng biểu đạt, đưa đến cho văn bản sự bay bổng, sức hấp dẫn và chiều sâu. Đó có lẽ là lí do khiến người ta khó có thể xếp cố định Nhiệt đới buồn vào thể loại nào.

5. Tự luận
1 điểm

Bài tập 2. Đọc lại văn bản Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 69 – 74) và trả lời các câu hỏi:

Nêu các ý chính, ý phụ và chi tiết tiêu biểu trong văn bản.

Xem đáp án

Ý chính

Ý phụ

Chi tiết

Giới thiệu về giáo dục khai phóng và Đông Kinh Nghĩa Thục

Định nghĩa giáo dục khai phóng

Bản chất của giáo dục khai phóng

Lịch sử giáo dục khai phóng

Giới thiệu về Đông Kinh Nghĩa Thục

Ra đời năm 1907 trong bối cảnh thuộc địa

Đánh dấu bước phát triển mới trong truyền thống giáo dục khai phóng ở Việt Nam

Có sức ảnh hưởng sâu rộng

Bối cảnh lịch sử

Phong trào Duy tân ở Trung Hoa

Thất bại của chiến dịch Mậu Tuất Duy tân

Sự lưu vong của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu

Sự truyền bá của tư tưởng chính trị, triết học phương Tây vào Đông Á

Chiến thắng của Nhật Bản và phong trào Minh Trị Duy tân ở Nhật

Công cuộc Đông du của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

Vai trò sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can

Điểm nhấn then chốt của trường Đông Kinh Nghĩa Thục

Tiến hành từ dưới lên, bắt nguồn từ dân chúng

Bản thảo sách về Đông Kinh Nghĩa Thục bị kiểm duyệt

Theo định hướng độc lập dân tộc

Các hoạt động bị gắn nhãn là cách mạng bạo động

Có tư duy dân chủ

 

Tinh thần giáo dục khai phóng

 

Khái quát của Giám học Nguyễn Quyền về tôn chỉ, mục đích của Đông Kinh Nghĩa Thục

Chú trọng quốc văn, quốc ngữ

Thu nhận cả nam sinh và nữ sinh

Dạy học miễn phí

Dạy khoa học, công nghệ thường thức

Diễn thuyết công khai về giáo dục, khoa học

Tổ chức với mục đích thực nghiệm

Cương lĩnh của Đông Kinh Nghĩa Thục được thể hiện trong tác phẩm Văn minh tân học sách

Khuyến khích tinh thần sáng tạo khoa học

Khuyến khích tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học

6. Tự luận
1 điểm

Tìm các từ ngữ, cách diễn đạt hàm chứa thái độ, sự đánh giá của tác giả đối với giáo dục khai phóng nói chung và Đông Kinh Nghĩa Thục nói riêng. Những từ ngữ, cách diễn đạt đó giúp bạn nhận ra điều gì về lập trường, quan điểm của tác giả?

Xem đáp án

Tuy Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục là một văn bản thông tin, song không khó để nhận ra lập trường, quan điểm của tác giả được bộc lộ qua các cách diễn đạt như:“Thời gian tồn tại ngắn ngủi của Đông Kinh Nghĩa Thục [...] tỉ lệ nghịch cực đại với ảnh hưởng sâu rộng của ngôi trường này”; “Đông Kinh Nghĩa Thục là một trong những cải cách quan trọng nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam”; “nội dung dạy và học ở Đông Kinh Nghĩa Thục [...] tuy vẫn còn rất sơ khai nhưng cái dũng khí dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều hàng nghìn năm áp đặt, kìm hãm tâm trí người dân cần được ghi nhận như một cột mốc lịch sử giáo dục quan trọng”;... Những cách diễn đạt này cho thấy sự khẳng định, đề cao vai trò, những đóng góp của Đông Kinh Nghĩa Thục đối với lịch sử, văn hoá của dân tộc nói chung và giáo dục nói riêng.

7. Tự luận
1 điểm

Tìm và phân tích giá trị của các dữ liệu được sử dụng trong văn bản.

Xem đáp án

- Văn bản sử dụng các dữ liệu thứ cấp:

+ Các dữ liệu về lịch sử, cung cấp thông tin về bối cảnh ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục. Tuy không ghi rõ nguồn của dữ liệu, nhưng đây là những tri thức rất phổ biến trong các tài liệu lịch sử, nên vẫn đáng tin cậy và có sức thuyết phục.

+ Các dữ liệu về sách Đông Kinh Nghĩa Thục của Đào Trinh Nhất, Đời cách mệnh của Phan Bội Châu, Đông Kinh Nghĩa Thục của Hoa Bằng, ảnh chụp quyết định cấm hai tác phẩm Đông Kinh Nghĩa Thục và Đời cách mệnh, tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách. Đây là những dữ liệu rất quý hiếm, được chú thích rõ về nguồn gốc, mang lại những góc nhìn mới, những phát hiện bất ngờ về vai trò của Đông Kinh Nghĩa Thục trong đời sống văn hoá, chính trị Việt Nam đầu thế kỉ XX.

+ Dữ liệu thứ cấp về nhận định của Giám học Nguyễn Quyền với tư cách là một chứng nhân lịch sử đã tái hiện không khí của thời đại, mang lại một góc nhìn khác của người đương thời về phong trào giáo dục này.

- Sự kết hợp của các dữ liệu đã tạo nên cái nhìn đa chiều và cung cấp những thông tin phong phú về Đông Kinh Nghĩa Thục và giáo dục khai phóng ở Việt Nam

đầu thế kỉ XX.

8. Tự luận
1 điểm

Bài tập 3. Đọc lại văn bản Đời muối trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 75 – 77) và trả lời các câu hỏi:

Nêu chủ đề bài viết và các ý chính được tác giả triển khai.

Xem đáp án

Bài viết xoay quanh chủ đề: Vai trò của muối trong lịch sử nhân loại. Chủ đề này được triển khai thành các ý chính: vai trò của muối đối với sự ra đời của ngành nông nghiệp; vai trò của muối đối với thương mại quốc tế, kĩ thuật, giao thông, chính trị trên thế giới; hành trình của muối và những bài học lịch sử của nhân loại.

9. Tự luận
1 điểm

Các thông tin trong văn bản được trình bày theo trình tự nào? Tác dụng của cách trình bày đó là gì?

Xem đáp án

 Các thông tin trong văn bản được tổ chức theo trình tự thời gian và trật tự nhân quả. Cách tổ chức này làm nổi bật vai trò cũng như số phận thăng trầm của muối song song với sự vận động của lịch sử nhân loại, cũng như những tác động của muối trong chuỗi tiến trình lịch sử loài người.

10. Tự luận
1 điểm

Qua việc khảo sát lịch sử của muối, tác giả phát hiện ra điều gì về lịch sử của loài người?

Xem đáp án

Qua việc khảo sát lịch sử của muối, tác giả phát hiện ra một quy luật trong lịch sử của nhân loại: “Khao khát tình yêu và khao khát làm giàu luôn là hai đề tài hấp dẫn nhất đối với con người. Tuy nhiên, trong khi đề tài tình yêu vẫn bền vững theo năm tháng, thì những câu chuyện về truy cầu tiền tài vật chất, đến một lúc nào đó, đều trở thành nỗi ám ảnh theo đuổi một ảo ảnh không có thực”. Muối, thứ vật chất tầm thường, phổ biến, có mặt ở khắp nơi đã từng được coi như một tài sản quý giá, một loại tiền tệ, biểu tượng của sự giàu có, nguyên nhân của các cuộc tranh giành, giống như dầu mỏ.

11. Tự luận
1 điểm

Xác định giọng điệu của tác giả trong văn bản. Dựa vào đâu bạn nhận ra giọng điệu đó?

Xem đáp án

Có thể nhận ra giọng điệu châm biếm và chất vấn trong văn bản, thể hiện qua các chi tiết:“Những tuyến đường trọng yếu [...], nhu cầu bảo vệ đế chế, đồng thời dẫn đến những cuộc khởi nghĩa nổi dậy – tất cả đều chỉ vì một thứ vật chất tồn tại đầy trong các đại dương, nổi bong bóng trong các con suối, lắng cặn dưới lòng hồ, hoặc là một thành phần lớn trong tầng khoáng vật gần với bề mặt vỏ Trái Đất”;“Ngày nay, sự thèm khát, tranh giành, tích trữ, đánh thuế và tìm kiếm muối của con người suốt hàng ngàn năm qua đã trở thành một điều xa vời và có phần ngớ ngẩn”;... Các chi tiết này làm nổi bật sự đối lập giữa một bên là tính chất quyết liệt của những cuộc tìm kiếm, tranh giành muối của con người và một bên là sự tầm thường, phổ biến của muối. Sự đối lập này nhằm vạch trần sự phù phiếm, mù quáng của nhân loại, đưa ra lời cảnh báo mang tính chất thức tỉnh con người khỏi những cám dỗ phù du của vật chất.

12. Tự luận
1 điểm

Bài tập 4. Đọc lại văn bản Sách thay đổi lịch sử loài người trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 88 – 90) và trả lời các câu hỏi:

Mục đích viết của tác giả là gì?

Xem đáp án

Mục đích viết: Khẳng định ảnh hưởng sâu rộng của sách đến lịch sử nhân loại.

13. Tự luận
1 điểm

Tóm tắt các thông tin chính trong văn bản.

Xem đáp án

Các thông tin chính:

- Sách có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực: thúc đẩy các cuộc cách mạng, làm thay đổi ý thức hệ, tạo ra những tầng lớp xã hội mới, tạo ra sự hỗn loạn, xác lập hay huỷ hoại trật tự xã hội,...

- Nhu cầu quản lí sách tạo ra một loạt các thiết chế và lĩnh vực khoa học mới.

- Hoạt động đọc của độc giả quyết định trình độ phát triển, bản sắc tri thức của mỗi thời đại.

- Sách tạo ra các làn sóng văn hoá, văn minh.

14. Tự luận
1 điểm

Tác giả đã chọn lọc những dữ liệu nào để làm nổi bật vai trò của sách trong lịch sử nhân loại? Các dữ liệu đó có thuyết phục và đáng tin cậy không? Vì sao?

Xem đáp án

Các dữ liệu được sử dụng trong văn bản nhằm chứng minh sức ảnh hưởng của sách:

- Sự phát triển của văn hoá in ấn từ cuối thế kỉ XVIII tạo nên sự khuếch đại tri thức, dẫn tới những sự vận động mạnh mẽ trong xã hội, kéo theo các cuộc cách mạng chính trị.

- Các cuốn sách Của cải của các dân tộc, Nguồn gốc các loài, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản,... tham gia dẫn dắt sự vận hành của xã hội loài người.

- Sự phong phú của thư tịch ở Trung Hoa giai đoạn Sơ kì Cận đại đã góp phần thúc đẩy sự tiến hoá của xã hội.

- Những cuốn sách mê tín, phù thuỷ, cổ vũ chiến tranh tôn giáo,... gây ra sự hỗn loạn.

- Sự ra đời của ngành thư mục học và các thư viện trên thế giới.

Các dữ liệu này đều là những tri thức lịch sử phổ biến, có mốc thời gian, không gian cụ thể, có thể kiểm chứng bằng cách đối chiếu với những tư liệu lịch sử đáng tin cậy khác, vì thế, có thể nói là có sức thuyết phục.

15. Tự luận
1 điểm

Cách nhìn nhận, diễn giải về tiến trình lịch sử của tác giả có gì độc đáo?

Xem đáp án

Tác giả đã quan sát tiến trình vận động của lịch sử qua sự tiến hoá, biến đổi, tương tác của sách. Vì thế, sách được coi như một tác nhân trung tâm trên “sân khấu lịch sử”, trở thành động lực quan trọng cho những cuộc cách mạng khoa học, chính trị, văn hoá, có mặt trong những bước chuyển quan trọng trong lịch sử nhân loại. Cách diễn giải này khiến cho người đọc có thể nhìn thấy một lịch sử đa dạng hơn, với những tương tác và chuyển động phức tạp, với sự tham gia của nhiều tác nhân vốn bị coi là nhỏ, phụ, không quan trọng.

16. Tự luận
1 điểm

Bài tập 5. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Cái chết đen ám chỉ tới trận dịch hạch lan tràn trên lục địa Á – Âu giữa thế kỉ XIV. Nổi tiếng trên khắp châu Âu với tên gọi Cái chết đen, dịch bệnh này được cho là gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis và lây lan thông qua loài bọ chét sống trên chuột đen [...].

“Cái chết đen” tham gia góp phần làm thay đổi lịch sử châu Âu, lịch sử các đế chế và lịch sử toàn cầu. Người Mông Cổ và các vương quốc của họ bắt đầu mất đi các sự kết nối cần thiết, phân tán, và bị địa phương hoá mạnh hơn. Đúng hai thập kỉ sau trận dịch, một người nông dân – nạn nhân của các nạn đói và dịch bệnh tên Chu Nguyên Chương đã lãnh đạo người Hán giành lại quyền kiểm soát vùng bình nguyên giữa hai con sông Hoàng Hà – Trường Giang và lập ra một đế chế mới có tên Đại Minh.

Khi sức ép của quân Mông Cổ lên châu Âu giảm đi, đó là thời cơ cho một đế chế khác nổi lên giữa lục địa Á – Âu: Ốt-tô-man (Ottoman). Dịch hạch rõ ràng đã làm thay đổi ngôi thứ của các đế chế. Việc quân Ốt-tô-man kiểm soát các tuyến đường thương mại và việc các thành thị dọc Địa Trung Hải của I-ta-li-a (Italia) bị tàn phá bởi dịch bệnh đã gây ra một chuyển dịch lớn về địa chính trị ở châu Âu nhằm chuẩn bị cho thời kì tư bản hiện đại. Đó là việc các trung tâm kinh tế sầm uất của Vơ-ni-dơ (Venice), Giê-noa (Genoa),... sẽ dần dần được thay thế bởi người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, và sau đó là Anh, Pháp,...

Những cường quốc này sẽ thúc đẩy thương mại đường biển thay vì con đường tơ lụa trên bộ truyền thống. Điều đó mở ra các cuộc phát kiến địa lí, tìm ra châu lục mới, thương mại hàng hải toàn cầu, chế độ nô lệ, chủ nghĩa thực dân,...

Một chú giải nhỏ cuối cùng của câu chuyện quá khứ đau thương này xin được dành cho nàng công chúa của nước Anh: Gioan (Joan), cô con gái được yêu chiều của vua Ét-uốt III (Edward III, 1312 – 1377). Vị vua đang can dự vào một trong các cuộc chiến tranh, dàn xếp chính trị và hôn nhân quan trọng nhất của Tây Âu có tên gọi: Chiến tranh Trăm năm (1337 – 1453). Để bảo đảm cho thắng lợi của mình trước người Pháp và mở rộng các vùng đất đang kiểm soát trên lục địa, Ét-uốt III quyết định gả con gái cho hoàng tử kế ngôi Pi-tơ (Peter) của vương triều Ca-xtin (Castile, Tây Ban Nha). Cuộc hôn nhân chắc chắn sẽ tạo ra một bước ngoặt mới của cuộc chiến mà hệ quả của nó là việc vẽ lại bản đồ châu Âu.

Sau ba năm đính ước, mùa hè năm 1348, Gioan được hộ tống từ Anh tới Tây Ban Nha bằng một hạm tàu vũ trang nghiêm ngặt gồm bốn chiếc. Một trong số đó được dành riêng cho xiêm y và đồ trang sức của nàng công chúa. Khi hạm thuyền tới Boóc-đô (Bordeaux), bệnh dịch đã tràn tới thành phố này, tuy nhiên người Anh dường như chưa nhận thức được tính chất nghiêm trọng của nó. Rất nhanh chóng, những người tuỳ tùng bỏ mạng, và tới lượt nàng công chúa mười lăm tuổi, qua đời ngày 01/7/1348.

Gioan đã lỡ hẹn một cuộc hôn nhân, còn nước Anh lỡ hẹn với một đồng minh. Lịch sử không có nếu. Còn những gì diễn ra sau sự lỡ hẹn này là kết cục cuối cùng nước Anh thất bại trong cuộc chiến Trăm năm, nước Pháp tập quyền bắt đầu hưng thịnh, và lịch sử châu Âu sang trang mới.

Sẽ là cường điệu quá mức khi nói rằng chuột đen hay những con bọ chét đã vẽ lại bản đồ châu Âu, đánh tráo trật tự đế chế hay xác lập quyền lực toàn cầu, nhưng rõ ràng chúng đã tham gia vào các thời khắc quan trọng như thế của lịch sử con người. Và sẽ còn tiếp tục can dự trong tương lai.

(Vũ Đức Liêm, Bệnh dịch và số phận của con người xã hội,

tạp chí Tia sáng, ngày 22/02/2020)

Xác định các ý chính, ý phụ trong văn bản.

Xem đáp án

- Giới thiệu về cái chết đen:

+ Lan tràn ở châu Âu giữa thế kì XIV

+ Lây lan do loài bọ chét sống trên chuột đen

- Tác động của cái chết đen đến lịch sử nhân loại:

+ Người Mông Cổ phân tán và bị địa phương hóa mạnh.

+ Sự ra đời của nhà Đại Minh.

+ Sự nổi lên của chế độ Ốt-tô-man.

+ Sự phát triển của các cường quốc kinh tế Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp.

+ Sự phát triển của thương mại, phát kiến địa lí, chủ nghĩa thực dân,…

+ Sự thất bại của nước Anh, sự hưng thịnh của nước Pháp.

17. Tự luận
1 điểm

Các dữ liệu nào đã được sử dụng để làm rõ vai trò của “cái chết đen” trong lịch sử?

Xem đáp án

Các dữ liệu lịch sử đã được tác giả sử dụng để làm rõ vai trò của cái chết đen trong lịch sử: sự tác động của bệnh dịch tới sự ra đời của nhà Đại Minh, sự nổi lên của đế chế Ốt-tô-man, sự phát triển của các cường quốc kinh tế, sự phát triển của thương mại quốc tế, sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, sự thất bại của nước Anh và sự hưng thịnh của nước Pháp,...

18. Tự luận
1 điểm

Các thông tin trong văn bản được tổ chức theo trình tự nào? Tác dụng của cách tổ chức đó là gì?

Xem đáp án

Các thông tin trong văn bản được tổ chức theo trật tự thời gian và trật tự nhân quả, trong đó, đại dịch cái chết đen được đặt trong một chuỗi tuyến tính và nhân quả của các sự kiện mang tính chất trọng đại của nhân loại. Cách tổ chức này làm nổi bật những hệ quả và tác động to lớn của cái chết đen, mặt khác thể hiện một khám phá và kiến giải bất ngờ, thú vị về những sự kiện lịch sử: lịch sử không phải chỉ được thúc đẩy bởi những cuộc chiến tranh và cách mạng, những học thuyết và lí tưởng lớn lao, những cá nhân xuất chúng, mà có rất nhiều những yếu tố nhỏ bé, tưởng như vô hình cũng tham gia vào hành trình kiến tạo lịch sử.

19. Tự luận
1 điểm

So sánh cách diễn giải về lịch sử của tác giả với cách diễn giải lịch sử của Mác Kơ-len-xki (Mark Kurlansky) trong văn bản Đời muối.

Xem đáp án

Cả hai văn bản đều có điểm chung là mang lại một góc nhìn mới về lịch sử: nhìn lịch sử qua lăng kính của những thứ nhỏ bé, tầm thường, vốn chìm khuất và thường bị bỏ qua bởi các sử gia như muối, vi khuẩn, bệnh dịch. Từ lăng kính này, các tác giả có thể mô tả, phần kì, diễn giải lịch sử nhân loại theo một cách khác, phát hiện ra những quy luật khác của lịch sử, cho thấy tính chất bề bộn, phức tạp, đa chiều kích, khả năng tương tác và liên kết bất ngờ của những sự kiện tưởng chừng như ngẫu nhiên, không có mối dây liên hệ. Cái nhìn mới mẻ này về lịch sử không chỉ tạo nên sự độc đáo, hấp dẫn và thú vị của văn bản, mà còn gợi mở một cách nhìn khác, nghĩ khác về lịch sử cũng như về chính đời sống hiện tại.

20. Tự luận
1 điểm

Văn bản này được công bố trong bối cảnh cả thế giới đang đối mặt với đại dịch Covid-19. Đặt trong bối cảnh đó, theo bạn, văn bản có ý nghĩa gì?

Xem đáp án

Qua việc phát hiện ra sự tương tác của đại dịch cái chết đen đối với lịch sử của nhân loại, tác giả gợi ra những suy tư nơi người đọc về thực tại cũng như về vai trò và quyền năng của con người trong việc kiến tạo thực tại. Các sử gia truyền thống thường cho rằng con người là nhân vật trung tâm của “sân khấu lịch sử” và diễn giải mọi sự kiện lịch sử dựa trên những phát hiện, động cơ, nhận thức của con người. Nhưng bằng cách nêu vai trò của đại dịch trong lịch sử, tác giả chỉ ra sự tác động của những yếu tố phi nhân, sự tham gia của cái ngẫu nhiên trong việc kiến tạo thực tại của chúng ta, cái đã làm chệch hướng các động cơ, ý đồ, các thế lực mạnh mẽ của nhân loại. Kiến giải này về lịch sử đã chất vấn tư tưởng nhân loại trung tâmn luận (lấy con người làm trung tâm) vốn đã trở thành một định kiến phổ biến trong tâm thức nhân loại và gợi mở, cảnh báo về tác động của những yếu tố phi nhân như thiên tai, dịch bệnh, vi trùng,... đối với đời sống con người. Trong đời sống đương đại, khi hành tinh đang có nguy cơ bị tàn phá bởi sự tham lam và ngạo mạn vô hạn của con người, thì sự chất vấn và cảnh báo này là cần thiết, để ta có thể suy tư nhiều hơn đến hệ sinh thái xung quanh mình.

21. Tự luận
1 điểm

Bài tập 6. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

“Sứ mệnh khai hoá” được thai nghén từ rất nhiều nguồn tư tưởng tôn giáo, chính trị và học thuật, được viết hay tuyên bố bởi một đội ngũ hùng hậu các nhà khoa học và chính trị gia. Và họ, hoặc bằng xác tín chính trị, hoặc bằng “thực chứng” khoa học, thành tâm và nhiệt thành tin tưởng ở “sứ mệnh” cao cả này.

Tuy nhiên, có những nhân vật, như Giuyn-lơ Hác-man (Jules Harmand) không tin vào sứ mệnh khai hoa, bằng những lí lẽ thẳng thừng:

“Tốt hơn hết là hãy cố mà điều chỉnh các hành động của chúng ta sao cho phù hợp với hoàn cảnh thống trị, sự thống trị bằng chinh phục này bản thân nó đã không dân chủ, và đừng có lạm dụng những trò đạo đức giả nhỏ mọn và cả những trò bịp bợm. về văn minh vì nó chẳng đánh lừa được ai sất. Hãy cố mà tìm cách biện minh cho sự thống trị vì lợi ích chung của cả kẻ thống trị và bị trị”.

Những thực tế trên địa hạt Đông Dương khiến cho nhà cầm quyền thuộc địa phải hiện thực hoá và cụ thể hoá sứ mạng này trên phương diện giáo dục bằng hai mô hình đồng hoá và hợp tác trong công cuộc chinh phục con tim dân bản xứ. Đồng hoa nhằm Pháp hoá con dân bị trị để đưa họ đến gần với văn minh [...]. Nhưng một hiểm hoạ và ám ảnh rình rập người Pháp, đó là đến thời điểm nào đó, dân bản xứ, sau một quá trình “tiến hoá” sẽ đòi hỏi bình đẳng với kẻ đi chinh phục. Hợp tác thực chất là một “khế ước, theo Giuyn-lơ Hác-man, giữa kẻ thống trị và bị trị. Thay vì san phẳng truyền thống, văn hoá hay ngôn ngữ bản địa, kẻ chinh phục phải tôn trọng nền văn minh lâu đời “độc đáo và khá phát triển” của các dân tộc Đông Dương, và chỉ nên giáo dục họ đủ để họ thoát ra khỏi tình trạng “trì trệ”. Kẻ bị trị phải chấp nhận sự thống trị thực dân, bù vào họ được hưởng những lợi ích (trật tự xã hội, tiến bộ kĩ nghệ, an ninh, giáo dục, y tế,...). Vì thế, vẫn nên hiểu sự hợp tác phải hoàn toàn nằm trong khuôn khổ đô hộ.

[...] Giuyn-lơ Hác-man đã cảnh báo giáo dục chính là “con dao hai lưỡi cầm vào rất nguy hiểm, thậm chí mũi dao đã bị tẩm độc”. Thực tế chứng minh, nhiều thập niên sau, giáo dục thuộc địa đã giúp hình thành nên giới trí thức tinh hoa bản xứ. Tiếp thu trực tiếp tư tưởng văn minh và khai sáng đích thực của Âu châu, giới tinh hoa này đối thoại và chất vấn với chính quyền thuộc địa tại chính quốc hay ở các xứ thuộc địa. Cùng với quần chúng, họ lật đổ và xoá bỏ chủ nghĩa thực dân, nhưng bằng những phương cách rất khác nhau.

(Nguyễn Thuỵ Phương, Nguồn gốc luận thuyết của “sứ mệnh khai hoá”,

tạp chí Tia sáng, ngày 07/8/2019)

Thông tin chính được cung cấp trong văn bản là gì? Thông tin chính đó được triển khai thành các ý phụ nào?

Xem đáp án

Thông tin chính được cung cấp trong văn bản là mối quan hệ giữa sứ mệnh khai hoá và giáo dục thuộc địa. Thông tin chính này được triển khai thành các ý phụ:

- Giới thiệu về sứ mệnh khai hoá.

- Phản biện của Giuyn-lơ Hác-man về sứ mệnh khai hoá.

- Sự cụ thể hoá sứ mệnh khai hoá trong thực tiễn giáo dục thuộc địa qua hai mô hình đồng hoá và hợp tác.

22. Tự luận
1 điểm

Đánh giá về tính trung thực, nghiêm túc của tác giả khi sử dụng các tri thức của người khác.

Xem đáp án

Văn bản sử dụng hai trích dẫn trực tiếp của Giuyn-lơ Hác-man. Người viết có ý thức tuân thủ quy định về trích dẫn (sử dụng dấu ngoặc kép để đánh dấu trích dẫn, ghi rõ tên tác giả, nguồn tài liệu ở phần cước chú).

23. Tự luận
1 điểm

Bạn hiểu thế nào về nhận định của Giuyn-lơ Hác-man: Giáo dục chính là “con dao hai lưỡi cầm vào rất nguy hiểm, thậm chí mũi dao đã bị tẩm độc”?

Xem đáp án

Hình ảnh ẩn dụ con dao hai lưỡi nhằm ám chỉ tác động hai mặt của giáo dục: một mặt, giáo dục là công cụ trấn áp trong tay nhà cầm quyền, nhưng mặt khác, giáo dục cũng có thể là một vũ khí để chống lại sự trấn áp của nhà cầm quyền. Hình ảnh ẩn dụ mũi dao đã bị tẩm độc thể hiện sự nguy hiểm của giáo dục, một khi nó được sử dụng như một công cụ để phản kháng. Nhận định của Giuyn-lơ “ác-man cảnh báo giáo dục thuộc địa có thể là một mối nguy hiểm tiềm tàng đe doa chính quyền thực dân.

24. Tự luận
1 điểm

Tìm hiểu thông tin về Giuyn-lơ Hác-man và cho biết việc trích dẫn trực tiếp nhận định của ông có tác dụng gì?

Xem đáp án

Giuyn-lơ Hác-man là nhà chính trị, nhà ngoại giao người Pháp, người đã đại diện cho chính phủ Pháp kí hiệp ước đầu tiên với triều đình nhà Nguyễn. Trong phát ngôn của mình, Giuyn-lơ Hác-man đã chỉ ra tính chất dân chủ giả tạo, bản chất bịp bợm, đạo đức giả của tuyên ngôn về sứ mệnh khai hoá và cảnh báo những nguy cơ tiềm tàng của nền giáo dục thuộc địa. Việc trích dẫn lí lẽ phản biện của một quan chức người Pháp về sứ mệnh khai hoá văn minh nhằm thể hiện thông điệp: Sứ mệnh khai hoá văn minh là một chiêu trò mị dân, bị hoài nghi bởi chính những người thực thi nó.

25. Tự luận
1 điểm

Các thông tin được cung cấp trong văn bản trên và văn bản Giáo dục khai phóng Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục cho bạn biết điều gì về giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XX?

Xem đáp án

Các thông tin được cung cấp trong hai văn bản cho thấy bối cảnh lịch sử phức tạp của Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng như vai trò của giáo dục trong sự vận động của lịch sử. Giáo dục Việt Nam đầu thế kỉ XX hình thành và phát triển trong hoàn cảnh thuộc địa, dưới sự kiểm soát, trấn áp gắt gao của chính quyền thực dân, nhằm thực thi chính sách khai hoá văn minh của người Pháp. Nhưng bằng cách tiếp thu chính những tư tưởng của phương Tây, giới trí thức Việt Nam đã nỗ lực vượt thoát ra khỏi sự kiềm toả đó, để tạo nên những cuộc cách mạng trong giáo dục, những luồng gió mới trong đời sống xã hội. Có thể nói, các phong trào giáo dục hình thành trong thời kì thuộc địa đã tạo ra những tiền đề quan trọng cho giáo dục Việt Nam hiện đại.

26. Tự luận
1 điểm

Quan điểm của tác giả về sứ mệnh khai hoá là gì? Bằng cách nào tác giả thể hiện quan điểm đó?

Xem đáp án

Tuy không bày tỏ một cách trực tiếp quan điểm của mình, song có thể nhận ra sự phản biện của tác giả đối với những luận điệu về sứ mệnh khai hoá. Quan điểm này được bộc lộ một cách gián tiếp bằng hai cách: thứ nhất bằng việc viện dẫn lí lẽ phản biện của chính thành viên trong chính quyền thực dân; thứ hai, bằng cách đưa ra những dữ liệu thực tế (sự kháng cự của tầng lớp trí thức tinh hoa bản xứ với chính quyền thuộc địa).

27. Tự luận
1 điểm

Bài tập 7. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

Rất ít tộc người có tín ngưỡng tôn giáo sâu sắc như người Bô-rô-nô (Borono), cũng rất ít tộc người có một hệ thống siêu hình hoàn chỉnh đến thế. Nhưng các tín ngưỡng thần linh và các tập tục thường nhật hoà trộn chặt chẽ, hình như người thổ dân không hề có cảm giác chuyển từ một hệ thống này sang một hệ thống khác. Tôi đã gặp lại sự sùng đạo ngây thơ này trong những đền thờ Phật trên vùng biên giới Mi-an-ma (Myanmar), nơi các nhà sư sinh sống và ngủ nghệ trong gian phòng dành cho việc thờ cúng, xếp những bình đựng thuốc mỡ và túi thuốc cá nhân ngay dưới chân bàn thờ và không hề ngại chăm sóc những đám trẻ vị thành niên được giám hộ của mình trong khoảng thời gian giữa hai bài học chữ cái.

Thái độ suồng sã này đối với cái siêu nhiên càng khiến tôi ngạc nhiên do cuộc tiếp xúc duy nhất của tôi với tôn giáo thuộc mãi thời một tuổi thơ không tín ngưỡng, lúc tôi ở nhà ông nội tôi, vốn là pháp sư đạo Do Thái ở Véc-xây (Versailles), hồi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Ngôi nhà, dính liền với nhà thờ, được nối thông bởi một đoạn hành lang bên trong dài mà mỗi lần liều lĩnh đi qua hành lang không khỏi gây một cảm giác kinh hãi, chỉ riêng nó đã tạo thành một đường ranh không thể vượt qua giữa thế giới trần tục và cái thế giới thiếu vắng chính cái hơi ấm của con người, vốn là một điều kiện tiên quyết để cảm nhận cái linh thiêng. Ngoài những giờ cúng lễ, ngôi nhà thờ trống trơn và thời gian có việc của nó không đủ dài cũng không đủ nồng nhiệt để có thể lấp đầy trạng thái cô quạnh có vẻ là tự nhiên của nó mà những buổi cúng tế đã khuấy động một cách không phải phép. Việc cúng lễ của gia đình cũng chịu cảnh khô khan như vậy. Ngoài lời cầu nguyện không thành tiếng của ông tôi trước mỗi bữa ăn, chẳng gì báo cho bọn trẻ biết chúng bị sống trong sự áp đặt phải thừa nhận một sức mạnh ở trên cao kia, nếu không phải là một băng rôn bằng giấy dán trên tường phòng ăn, với dòng chữ: “Hãy nhai thức ăn cho kĩ, sự tiêu hoá tuỳ thuộc vào việc đó”.

Không phải ở người Bô-rô-nô, tôn giáo có nhiều uy thế hơn: hoàn toàn ngược lại, nó là chuyện tự nhiên. Trong ngôi nhà đàn ông, những cử chỉ cúng tế được thực hiện cũng thoải mái như mọi cử chỉ khác, cứ như đấy là những hành động thực dụng được tiến hành để mang lại kết quả cho chính chúng, không đòi hỏi cái thái độ tôn kính đè phủ lên ngay cả trên một người vô thần khi bước vào một đền thờ. Buổi chiều hôm ấy, người ta ca hát trong ngôi nhà đàn ông coi như là để chuẩn bị cho nghi lễ công cộng buổi tối. Trong một góc nhà, đám con trai nằm ngáy hay trò chuyện, hay hai ba người đàn ông vừa hát vừa khua những cái lắc, nhưng nếu một người trong số họ muốn châm lửa mồi thuốc hay đến lượt anh ta múc cháo ngô, anh ta trao nhạc cụ cho một người ngồi cạnh tiếp tục lắc, hay thậm chí anh ta một tay tiếp tục lặc, tay kia thì gái sồn sột. Nếu một vũ công vênh vang để khoe tiết mục mới ứng tác của mình là mọi người dừng lại và bình phẩm, cuộc lễ dường như bị quên cho tới lúc, ở trong một góc nhà khác, bè đồng ca lại tiếp tục từ đoạn vừa bị ngắt quãng.

Tuy nhiên, ý nghĩa của ngôi nhà đàn ông còn vượt quá ý nghĩa gắn liền với trung tâm đời sống xã hội và tôn giáo mà tôi đã cố gắng mô tả. Cấu trúc của ngôi làng không chỉ tạo điều kiện cho trò diễn tinh tế của các thể chế: nó tổng hợp và đảm bảo cá mối quan hệ giữa con người với vũ trụ, giữa xã hội với thế giới siêu nhiên, giữa những người sống và những người chết.

(Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt – Claude Lévi–Strauss, Nhiệt đới buồn, Ngô Bình Lâm dịch,

NXB Tri thức, Hà Nội, 2009, tr. 235 – 237)

Các thông tin trong văn bản được sắp xếp theo trình tự nào? Cho biết tác dụng của cách sắp xếp đó.

Xem đáp án

Các thông tin trong văn bản được sắp xếp theo quan hệ so sánh, tương phản: một bên là sự hoà trộn chặt chẽ giữa tín ngưỡng thần linh và tập tục thường nhật của người Bồ-rô-nô và một bên là đường ranh không thể vượt qua giữa thế giới trần tục và thế giới của cái thiêng trong tín ngưỡng của người châu Âu. Cấu trúc cho người đọc thấy sự đa dạng trong quan niệm về tín ngưỡng của nhân loại, tương phản này nhằm nhấn mạnh vẻ độc đáo, giá trị nội tại của văn hoá Bô-rô-nô, đồng thời thể hiện sự chất vấn đối với quan niệm “dĩ Âu vi trung” (lấy châu Âu làm trung tâm) vốn phổ biến trong tư duy văn hoá của nhân loại vào đầu và giữa thế kỉ XX.

28. Tự luận
1 điểm

Thái độ, quan điểm, lập trường của tác giả trong văn bản là gì? Bạn căn cứ vào đâu để xác định điều này?

Xem đáp án

Thái độ, quan điểm, lập trường của tác giả được thể hiện qua sự tự bộc lộ của người trần thuật xưng “tôi” (ví dụ: “thái độ suồng sã này đối với cái siêu nhiên càng khiến tôi ngạc nhiên”); qua các cách diễn đạt hàm chứa sự nhận xét, đánh giá (ví dụ: “rất ít tộc người có một hệ thống siêu hình hoàn chỉnh đến thế”, “trạng thái cô quạnh có vẻ là tự nhiên”, “cái thế giới thiếu vắng chính cái hơi ấm của con người”, “cảnh khô khan”, “những cử chỉ cúng tế được thực hiện cũng thoải mái”,...). Qua những yếu tố này, có thể nhận thấy thái độ, lập trường của tác giả: sự khẳng định vẻ đẹp, sức sống, giá trị nội tại của nền văn hoá Bô-rô-nô, cái nhìn chất vấn đối với sự cứng nhắc, trấn áp, lạnh lẽo của văn hoá phương Tây.

29. Tự luận
1 điểm

Tác giả đã sử dụng những dữ liệu nào để mô tả đời sống tôn giáo của người Bô-rô-nô? Đó là dữ liệu thứ cấp hay sơ cấp? Giá trị của những dữ liệu đó là gì?

Xem đáp án

Tác giả đã mô tả đời sống tôn giáo của người Bô-rô-nô qua các dữ liệu sơ cấp mà mình tận mắt quan sát, thu thập được (“Buổi chiều hôm ấy [...] bè đồng ca lại tiếp tục từ đoạn vừa bị ngắt quãng”). Đây là những dữ liệu hiếm hoi về một số nền văn hoá còn rất ít người biết đến trong thời điểm mà cuốn sách ra đời, có tác dụng thức tỉnh đối với người châu Âu nói riêng, người đọc nói chung về sự đa dạng văn hoá.

30. Tự luận
1 điểm

Phân tích giá trị của yếu tố miêu tả trong văn bản.

Xem đáp án

Yếu tố miêu tả được sử dụng nhằm cung cấp những thông tin hết sức chi tiết về đời sống văn hoá của người Bô-rô-nô, giúp người đọc hình dung một cách cụ thể, sống động về một nền văn hoá khác mà mình không có dịp được tiếp xúc trực tiếp.

31. Tự luận
1 điểm

Viết

Viết thư gửi một người bạn hoặc người thân chia sẻ suy nghĩ của bản thân về việc lựa chọn nghề nghiệp.

Xem đáp án

Hải Phòng, ngày... tháng... năm...

Chào anh Hưng!

Em Minh đây, em trai của anh đây mà. Anh cớ nhớ em không? Đã một thời gian dài em không viết thư cho anh. Anh dạo này thế nào, sức khỏe và việc học tập vẫn ổn chứ?

Anh Hưng ơi, lớn lên anh muốn làm nghề gì? Em thì muốn trở thành một luật sư tài giỏi giống như anh trai em vì đây là nghề được xã hội kính trọng vì nó góp phần bảo vệ công lí và lẽ phải cho mọi người. Nếu em trở thành một luật sư giỏi, em sẽ bào chữa cho những người vô tội để không có ai phải chịu án oan nữa. Anh thấy ước mơ của em thế nào? Nhớ viết thư và cho em biết suy nghĩ cũng như ước mơ của anh nhé!

Cuối thư, em chúc anh và gia đình luôn dồi dào sức khỏe. Anh em mình cùng nhau cố gắng học tập để thực hiện ước mơ của mình nhé!

Em của anh

32. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho bức thư gửi lãnh đạo của một câu lạc bộ, cơ quan hoặc tổ chức sản xuất, kinh doanh để ứng tuyển làm thành viên.

Xem đáp án

+ Mục đích viết thư: Cần dự kiến mục đích cụ thể, chẳng hạn ứng tuyển vào vị trí nào, công việc muốn đảm nhiệm là gì,...

+ Thông tin chọn lọc về bản thân, chú ý đến sở trường, năng lực, kinh nghiệm và mong muốn của bản thân (có liên quan thiết yếu đến mục đích viết thư).

+ Hiểu biết về câu lạc bộ, cơ quan, tổ chức mà mình muốn trở thành thành viên.

+ Lí do xin ứng tuyển và lí lẽ, bằng chứng để thuyết phục người nhận thư tiếp nhận mình làm thành viên trong câu lạc bộ, cơ quan, tổ chức của họ.

Lưu ý: Ngôn ngữ ở bức thư này cần phải có tính trang trọng. Việc dùng các yếu tố tự sự, biểu cảm cần được tiết chế để không làm ảnh hưởng đến tính trang trọng mà bức thư cần phải có.

33. Tự luận
1 điểm

Nói và nghe

Chuẩn bị ý tưởng và thông tin để tham gia cuộc tranh biện về nhận định: Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo sẽ chiếm mất công việc của con người.

Xem đáp án

- Trí tuệ nhân tạo là gì? Trí tuệ nhân tạo hiện được ứng dụng trong những lĩnh vực nào? Dự đoán trong tương lai, nó có thể được ứng dụng trong những lĩnh vực, công việc nào khác?

- Việc trí tuệ nhân tạo thực hiện được những công việc vốn do con người đảm nhận có thể tác động như thế nào đến các lĩnh vực của đời sống (giáo dục, y tế, sản xuất, kinh doanh, truyền thông, giao thông, quốc phòng,...)?

- Những tác động nào có tính chất tiêu cực? (Chẳng hạn, nhiều người mất việc vì công việc của họ đã được trí tuệ nhân tạo làm thay, phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc,...) Những tác động nào có tính chất tích cực? (Chẳng hạn, tạo ra nhiều công việc mới, nâng cao năng suất lao động,...)

- Cần nhìn nhận, đánh giá như thế nào về mối tương quan giữa tác động tiêu cực và tác động tích cực? Liệu có thể nói rằng “Trong tương lai, trí tuệ nhân tạo sẽ chiếm mất công việc của con người” hay không?

- Vì sao quan điểm trái ngược với quan điểm của bạn là không thoả đáng?

Lưu ý: Các luận điểm triển khai đều phải có lí lẽ thuyết phục, bằng chứng cụ thể và xác đáng.

34. Tự luận
1 điểm

Chuẩn bị ý tưởng và thông tin để tham gia cuộc tranh biện về vấn đề: Có nên thực hiện chính sách sử dụng tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam hay không?

Xem đáp án

- Thế nào là ngôn ngữ thứ hai? Ngôn ngữ thứ hai khác như thế nào với ngôn ngữ thứ nhất, tiếng mẹ đẻ, ngoại ngữ?

- Nếu thực hiện chính sách đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam thì sẽ dẫn đến những hệ quả gì? Chính sách đó sẽ tác động như thế nào đối với các lĩnh vực đời sống? Đâu là tác động tích cực và đâu là tác động tiêu cực?

- Cần nhìn nhận, đánh giá như thế nào về mối tương quan giữa tác động tiêu cực và tác động tích cực khi thực hiện chính sách sử dụng tiếng Anh với tư cách là ngôn ngữ thứ hai ở Việt Nam?

- Việt Nam cần thực hiện chính sách dạy học ngoại ngữ như thế nào cho phù hợp?

- Vì sao quan điểm trái ngược với quan điểm của bạn là không thoả đáng?