Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 6: Hồ Chí Minh “Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi" có đáp án
55 câu hỏi
Bài tập 1. Đọc lại văn bản Tác gia Hồ Chí Minh trong sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 12, tập hai (tr. 6 – 12) và trả lời các câu hỏi:
Dựa vào các thông tin được trình bày trong phần Tiểu sử, hãy xác định những cột mốc lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Theo bạn, vì sao có thể xem đó là những cột mốc lớn?
- Cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh có nhiều cột mốc quan trọng, mỗi cột mốc đều đánh dấu những bước tiến lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Dưới đây là một số cột mốc tiêu biểu:
+ Năm 1911: Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Tất Thành) rời Việt Nam để tìm đường cứu nước. Ngày 5/6/1911, Người lên tàu Đô đốc Latouche-Tréville từ bến cảng Nhà Rồng, bắt đầu hành trình bôn ba khắp thế giới.
+ Năm 1920: Tại Đại hội Đảng Xã hội Pháp ở Tours, Người bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển hướng từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản.
+ Năm 1941: Hồ Chí Minh trở về Việt Nam sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người thành lập Mặt trận Việt Minh, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nhật và Pháp.
+ Năm 1945: Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
+ Năm 1954: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở Việt Nam. Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ miền Bắc.
+ Năm 1969: Hồ Chí Minh qua đời ngày 2/9/1969, để lại di sản to lớn cho dân tộc Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
- Những cột mốc này được xem là quan trọng vì chúng đánh dấu những bước ngoặt lớn trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, góp phần quyết định đến sự thành công của cách mạng Việt Nam. Mỗi cột mốc đều thể hiện tầm nhìn chiến lược, lòng yêu nước và sự kiên định của Người trong việc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.
UNESCO dựa trên cơ sở nào để suy tôn Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn?
Thông tin về việc UNESCO suy tôn Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn được đưa ra cuối phần viết về tiểu sử của Hồ Chí Minh, như một cách khái quát lại những đóng góp to lớn của Người cho đất nước, dân tộc. Dựa trên cơ sở:
- Mục đích lớn nhất của cuộc đời Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của ngoại bang. Người đã đạt được mục đích cao cả này qua việc lãnh đạo nhân dân ta làm nên Cách mạng tháng Tám, thực hiện thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
- Không chỉ hướng đến nhiệm vụ giải phóng dân tộc, Người còn tạo dựng được nền móng vững chắc cho việc xây dựng một nền văn hoá mới trên đất nước Việt Nam, đưa đất nước ta bước vào những cuộc vận động lớn của thời đại để xây dựng một xã hội văn minh, tôn trọng con người.
SGK đã tóm tắt quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh trong câu văn nào? Cách triển khai thông tin trong mục Quan điểm sáng tác có điểm gì đáng chú ý?
- Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh: Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh được thể hiện tập trung, nhất quán trong nhiều bài phát biểu, nói chuyện và trong các tác phẩm văn, thơ cụ thể.
- Cách triển khai thông tin:
+ Hình thức triển khai được chọn lựa là diễn dịch: đi từ việc khái quát về quan điểm sáng tác đến việc nêu các dẫn chứng làm cơ sở cho ý khái quát đã nêu, sau cùng là bình luận, đánh giá.
+ Các dẫn chứng đưa ra đảm bảo tính phong phú, có thể thuyết phục được người đọc rằng: Hồ Chí Minh có quan điểm sáng tác rõ ràng, nhất quán và Người muốn quan điểm sáng tác đó cũng phải được mọi nghệ sĩ cách mạng thấm nhuần.
Dựa vào nội dung mục Thành tựu sáng tác, hãy phân tích những cách tác động và hiệu quả tác động khác nhau của ba bộ phận sáng tác chủ yếu trong di sản văn học Hồ Chí Minh.
“Cách tác động” gắn với đặc điểm của loại văn bản: có loại cần phải xuất hiện đúng lúc, kịp thời theo nhu cầu của thời cuộc, có loại xuất hiện tuỳ thuộc vào ngẫu hứng của người sáng tạo. “Hiệu quả tác động” gắn với khả năng của văn bản trong việc gây những phản ứng khác nhau ở người tiếp nhận.
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh luôn bám sát những vấn đề thời sự nóng hổi của đời sống cách mạng, mang tính chất ứng chiến kịp thời, luôn tỏ rõ quan điểm, thái độ của người viết trước những vấn đề được đề cập, do vậy, thường phát huy hiệu quả tuyên truyền, vận động quần chúng cách mạng một cách nhanh chóng, mạnh mẽ.
- Truyện, kí của Hồ Chí Minh cũng luôn khai thác những đề tài mang tính thời sự, thường xuất hiện đúng vào lúc các sự kiện đang đạt tới điểm nóng, đáp ứng nhu cầu của người đọc muốn làm sáng tỏ một vấn đề nào đó về nhận thức, quan điểm. Bộ phận sáng tác này cũng gây được hiệu quả tuyên truyền, vận động nhanh, mạnh, tích cực.
- Thơ Hồ Chí Minh, ngoài mảng thơ mừng xuân, kêu gọi có cách tác động và hiệu quả tác động tương tự hai bộ phận sáng tác nói trên, mảng thơ trữ tình bộc lộ cảm xúc cá nhân của Người lại tác động đến người đọc theo cách khác: trầm tĩnh, lắng sâu, khơi gợi ở người đọc nhiều ngẫm nghĩ sâu xa về con người, cuộc đời và thiên nhiên, tạo vật.
Nêu các yếu tố chính tạo nên phong cách nghệ thuật đa dạng trong sáng tác của Hồ Chí Minh.
Những yếu tố chính tạo nên phong cách đó trong sáng tác của Hồ Chí Minh:
- Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh là tuỳ vào từng đối tượng tiếp nhận Cụ thể mà chọn nội dung viết và lối viết phù hợp. Chính quan điểm này là một yếu tố quan trọng đưa đến sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật của tác giả.
- Trong quá trình viết, sáng tác, Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều thể loại khác nhau, Mỗi thể loại có một “ngôn ngữ” riêng, đòi hỏi người viết phải ý thức đầy đủ. Theo đó, phong cách nghệ thuật trong sáng tác của Hồ Chí Minh không hề đơn nhất mà luôn có sự biến hoá linh hoạt.
- Tài năng văn học thiên bẩm của Hồ Chí Minh cần được xem là yếu tố không thể không nói đến khi muốn cắt nghĩa nguyên nhân tạo nên phong cách nghệ thuật đa dạng trong các sáng tác của Người.
Theo bạn, việc tìm hiểu sâu hơn về sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh có ý nghĩa như thế nào trong quá trình tu dưỡng, phấn đấu của thế hệ trẻ hiện nay?
Việc tìm hiểu sâu hơn về sự nghiệp cách mạng và văn học của Hồ Chí Minh mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cho quá trình tu dưỡng và phấn đấu của thế hệ trẻ hiện nay:
- Học hỏi tinh thần yêu nước và ý chí kiên cường: Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về lòng yêu nước, sự kiên định và ý chí không ngừng nghỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ có thể học hỏi từ tinh thần này để vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống và công việc.
- Nâng cao nhận thức về lịch sử và trách nhiệm xã hội: Hiểu rõ về sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh giúp thế hệ trẻ nhận thức sâu sắc hơn về lịch sử dân tộc, từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước.
- Phát triển tư duy sáng tạo và khả năng lãnh đạo: Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng mà còn là một nhà văn, nhà thơ với nhiều tác phẩm có giá trị. Việc nghiên cứu các tác phẩm của Người giúp thế hệ trẻ phát triển tư duy sáng tạo, khả năng diễn đạt và kỹ năng lãnh đạo.
- Rèn luyện đạo đức và lối sống: Hồ Chí Minh luôn đề cao đạo đức, lối sống giản dị, khiêm tốn và gần gũi với nhân dân. Thế hệ trẻ có thể học hỏi từ những phẩm chất này để rèn luyện bản thân, sống có trách nhiệm và cống hiến cho xã hội.
- Khơi dậy lòng tự hào dân tộc: Việc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh giúp thế hệ trẻ cảm nhận sâu sắc hơn về những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, từ đó khơi dậy lòng tự hào và ý thức bảo vệ, phát huy những giá trị đó.
Bài tập 2. Đọc lại văn bản Tuyên ngôn Độc lập trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 13 – 16) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1 trang 3 SBT Ngữ Văn lớp 12 Tập 2. Qua ngôn từ và giọng điệu trong Tuyên ngôn Độc lập, hãy nhận xét về niềm cảm hứng của Hồ Chí Minh khi khởi thảo văn kiện lịch sử đặc biệt này.
Qua ngôn từ và giọng điệu tác phẩm, có thể hình dung được niềm cảm hứng của Người khi nói về những điều mà cả dân tộc từng khát khao, mong đợi:
- Cảm hứng tự hào về một dân tộc, đất nước đã anh dũng đứng lên chiến đấu chống lại các thế lực ngoại bang tàn bạo để giành độc lập, tự do.
- Cảm hứng khẳng định tư thế chính nghĩa của một dân tộc, đất nước biết dựa vào lẽ phải được cả loài người công nhận để đòi sự bình đẳng với các dân tộc, đất nước khác.
- Cảm hứng tin tưởng vào sự đồng lòng và sức mạnh của cả dân tộc, đất nước – điều có thể giúp chúng ta đương đầu giành thắng lợi với những thử thách to lớn phía trước.
Xác định các đối tượng tiếp nhận chủ yếu của bản Tuyên ngôn Độc lập vào thời điểm tác phẩm ra đời. Sự ý thức của tác giả về những đối tượng này đã chi phối cách triển khai tác phẩm như thế nào?
- Đối tượng tiếp nhận chủ yếu mà Tuyên ngôn Độc lập hướng tới:
+ Đồng bào cả nước, nói cách khác là toàn thể nhân dân Việt Nam luôn khát khao tự do, độc lập và đang hân hoan đón chờ lời tuyên bố độc lập của đại diện Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
+ Nhân dân thế giới nói chung, trước hết là lực lượng Đồng minh vừa giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu chống lại phe phát xít để bảo vệ loài người.
+ Một số thế lực thực dân, đế quốc đang mưu toan tước đoạt quyền độc lập mà nhân dân ta vừa giành được, trước hết là thực dân Pháp – kẻ đã từng đô hộ Việt Nam suốt hơn tám mươi năm qua.
- Sự ý thức sâu sắc của tác giả về các đối tượng tiếp nhận đó đã chi phối các triển khai tác phẩm trên các mặt sau
+ Tác phẩm được mở đầu bằng hai đoạn trích dẫn từ hai bản tuyên ngôi nổi tiếng của thế giới nhằm chứng tỏ rằng cách mạng Việt Nam đang hướng đến sự vận động chung của xã hội văn minh. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc chinh phục lòng tin của dư luận quốc tế (ngoài ý nghĩa tạo căn cứ pháp lí cho bản tuyên ngôn).
+ Tác phẩm dành một nội dung quan trọng để vạch tội thực dân Pháp, không “khai hoá văn minh” mà bóc lột dân ta tàn nhẫn, không “bảo hộ” được nước ta mà “bán nước ta hai lần cho Nhật”. Nội dung vạch tội này đánh thẳng vào các lập luận mà thực dân Pháp muốn dùng làm chỗ dựa để chuẩn bị quay trở lại xâm lược đất nước ta.
+ Trong khi vạch tội thực dân Pháp, bản tuyên ngôn cũng đã đề cập vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam của lực lượng Việt Minh – một tổ chức đã từng sát cánh với phe Đồng minh trên mặt trận chống phát xít. Điều này có ý nghĩa “ràng buộc” các nước Đồng minh, đòi hỏi họ phải ủng hộ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam, công nhận sự tồn tại hợp pháp của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
+ Bản tuyên ngôn cũng nêu rõ quá trình đấu tranh giành độc lập rất anh dũng của nhân dân ta. Điều này có ý nghĩa khích lệ rất lớn đối với tính thần yêu nước, chống giặc để bảo vệ tự do, độc lập của toàn dân tộc.
Sơ đồ hoá mạch lập luận được triển khai trong văn bản.
Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp nói về quyền bình đẳng của mọi cá nhân con người → Suy rộng về quyền bình đẳng, quyền được hưởng tự do, độc lập của mọi dân tộc → Tố cáo thực dân Pháp đi ngược lại chân lí đó khi đặt ách thống trị lên đất nước Việt Nam → Khẳng định tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh anh dũng mà toàn dân Việt Nam tiến hành để giành độc lập và ủng hộ Đồng minh chống phát xít → Kêu gọi các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nước Việt Nam → Khẳng định quyết tâm của toàn dân tộc giữ vững nền độc lập vừa giành được.
Vì sao “dân ta đã lấy lại nước Việt Nam tự tay Nhật” mà trong Tuyên ngôn Độc lập, tác giả lại dành một nội dung quan trọng để tố cáo tội ác và sự đê hèn của thực dân Pháp?
Thực dân Pháp được một số thế lực đế quốc tiếp tay, chuẩn bị quay lại đòi quyền thống trị đã mất ở Việt Nam với lập luận rằng Việt Nam vốn là “nước bảo hộ” của Pháp theo một số hiệp ước mà trước đây Pháp đã kí với triều đình nhà Nguyễn. Nhằm chặn đứng âm mưu này, Hồ Chí Minh đã dành một phần quan trọng của Tuyên ngôn Độc lập để tố cáo tội ác và sự đê hèn của thực dân Pháp, nhằm chứng minh cho thế giới thấy thực dân Pháp hoàn toàn không đủ tư cách và căn cứ để nêu yêu sách về quyền lợi của chúng ở Việt Nam. Một điều quan trọng khác là nước ta vốn mất quyền độc lập từ khi thực dân Pháp sang xâm lược và chịu sự đô hộ của chúng hơn tám mươi năm. Vậy nên, việc kể tội Pháp trong bản tuyên ngôn là điều tự nhiên và hợp logic.
Toàn bộ phần tố cáo thực dân Pháp trong tác phẩm xoay quanh những vấn đề cơ bản nào? Nhận xét về các lí lẽ và dẫn chứng đã được tác giả nêu lên.
- Có hai vấn đề chính được nêu trong phần cáo trạng của Tuyên ngôn Độc lập: Một, thực dân Pháp đã thi hành chính sách cai trị tàn nhẫn đối với nhân dân và đất nước ta, đi ngược những điều chúng thường rêu rao là “khai hoá” văn minh cho một dân tộc hèn kém. Hai, thực dân Pháp đã “quỳ gối đầu hàng” quân Nhật, “bán nước ta hai lần” cho Nhật, hoàn toàn để rơi mặt nạ “bảo hộ”.
- Khi tố cáo thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã vận dụng những lí lẽ sắc bén và đưa ra một số bằng chứng điển hình, không thể chối cãi được. Để tố cáo tội thứ nhất, tác giả đã xem xét vấn đề rất toàn diện, đề cập những mặt cơ bản nhất của một chính sách cai trị, bao gồm chính trị, kinh tế và văn hoá, giáo dục. Theo đó, có thể thấy thực dân Pháp không “khai hoá” được gì cho dân ta mà ngược lại, chúng đã làm cho đất nước ta trở nên yếu hèn. Để tố cáo tội thứ hai, tác giả đưa ra những ví dụ còn nóng hổi liên quan đến hai mốc thời gian cụ thể là mùa thu năm 1940 và ngày 9 tháng 3 năm 1945. Nhìn chung, sự tố cáo đã được triển khai vừa dựa trên lòng căm phẫn chính đáng, vừa dựa trên những chứng lí rành rành không thể bác bỏ.
Trong Tuyên ngôn Độc lập, tác giả đã nhiều lần nhắc đến lực lượng Đồng minh, các nước Đồng minh. Điều đó có ý nghĩa gì? Hãy phân tích tầm nhìn của Hồ Chí Minh ở vấn đề này.
- Tuyên ngôn Độc lập trực tiếp nhắc đến từ “Đồng minh” ba lần, lại thêm hai lần nhắc đến hai hội nghị quốc tế mà các nước Đồng minh đóng vai trò chủ trì, dẫn dắt. Tác phẩm cũng gián tiếp nhắc đến Đồng minh khi nói về hành động của Việt Minh sẵn sàng hợp tác với Pháp để chống Nhật – một hành động phù hợp với chủ trương của Đồng minh trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Việc nhắc đến Đồng minh ở đây hết sức có ý nghĩa. Nó cho thấy Việt Nam, với đại diện là lực lượng Việt Minh, đã từ lâu đồng lòng cùng nhân loại tiến bộ trên mặt trận chống phát xít và có những đóng góp đáng kể, cần phải được ghi nhận.
- Nhìn chung, việc tạo cho Đồng minh cái nhìn thiện cảm về đất nước, dân tộc Việt Nam là một hành động sáng suốt. Nó chứng tỏ tầm nhìn xa của vị lãnh tụ vốn hình dung được rất rõ những chông gai mà đất nước, dân tộc ta phải trải qua ở chặng đường phía trước. Trong tình thế ấy, việc tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế là điều cực kì hệ trọng, cấp thiết. Rõ ràng, cách mạng muốn thắng lợi phải hoà nhịp được với sự vận động của thế giới văn minh, phải xây dựng được một mặt trận đoàn kết trên quy mô lớn.
Phân tích mối liên hệ logic giữa hai đoạn văn ở phần cuối của tác phẩm: “Một dân tộc... phải được độc lập!” và “Nước Việt Nam có quyền... và độc lập ấy”.
- Đoạn trước nêu cái lí phổ quát của vấn đề công nhận quyền độc lập của các dân tộc, kết hợp với việc “minh hoạ” bằng thực tiễn Việt Nam. Nói chung, trọng tâm của đoạn này nằm ở “chữ lí”.
- Đoạn sau nêu sự kiện đã xảy ra (Việt Nam đã thành một nước tự do, độc lập) và bước đi tất yếu của lịch sử (dân tộc Việt Nam quyết giữ vững quyền tự do, độc lập đã giành được). Trọng tâm của đoạn này nằm ở “chữ thực lực”. Như vậy, sự kết hợp giữa ”lí” và ”thực lực” đã tạo nên sức nặng không thể chuyển lay của lời tuyên bố độc lập.
Bài tập 3. Đọc lại văn bản Tuyên ngôn Độc lập trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 13 – 14), đoạn từ “Thế mà hơn tám mươi năm nay” đến “vô cùng tàn nhẫn” và trả lời các câu hỏi:
Nội dung đoạn này tập trung nói về vấn đề gì? Vì sao đoạn này được đặt kế tiếp đoạn trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791?
- Nội dung của đoạn này tập trung nói về hành động đi ngược lẽ phải vốn được loài người công nhận của thực dân Pháp, từ khi chúng xâm lược đất nước ta và đặt ách thống trị lên đầu nhân dân ta.
- Đoạn này được đặt kế tiếp đoạn trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của thế giới để sức nặng tố cáo tội ác của thực dân Pháp tăng lên, bởi mọi sự tố cáo luôn cần có căn cứ pháp lí hoặc mang tính pháp lí. Đồng thời, cách bố cục này đã làm nổi bật sự phản bội của thực dân Pháp đối với lí tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái của chính Cách mạng tư sản Pháp.
Đoạn này được viết nhằm bác bỏ một luận điệu sai trái mà thực dân Pháp thường rêu rao. Dựa vào nội dung toàn văn bản và kiến thức lịch sử đã được học, hãy cho biết luận điệu sai trái đó là gì và sự cần thiết phải bác bỏ nó.
- Đoạn này vạch trần sự giả dối của luận điệu về “sứ mệnh khai hoá” mà thực dân Pháp thường rêu rao. Sự thực, đây là luận điệu chung của bọn thực dân, đế quốc phương Tây khi chúng đẩy mạnh cuộc xâm chiếm thuộc địa ở các châu lục khác trên thế giới ngoài châu Âu. Luận điệu này đã bị phê phán ngay trong lòng các nước thực dân, đế quốc đó và cũng đã bị nhiều nhà chí sĩ, cách mạng Việt Nam kịch liệt đả kích từ những năm đầu của thế kỉ XX,
- Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh một lần nữa tiếp tục phản bác luận điệu nêu trên. Đây là việc làm cần thiết nhằm chôn vùi danh dự kẻ thù, đánh bay mặt nạ chính nghĩa của chúng, cảnh báo chúng về việc sẽ bị loài người tiến bộ lên án khi âm mưu tái chiếm Việt Nam.
Phân tích tầm khái quát vấn đề của tác giả được thể hiện qua đoạn văn bản.
Đoạn văn bản có tính chất của một bản cáo trạng đanh thép, tố cáo tội ác của thực dân Pháp:
- Tội ác diệt chủng: Thực dân Pháp đã gây ra nạn đói khủng khiếp, khiến hơn hai triệu người Việt Nam chết đói.
- Bán nước hai lần cho Nhật: Trong thời gian chiếm đóng, thực dân Pháp đã hai lần bán nước ta cho Nhật, phản bội quân đồng minh.
- Tàn sát các chiến sĩ cách mạng: Khi trốn chạy, thực dân Pháp đã tàn sát các chiến sĩ cách mạng của ta đang bị giam giữ trong tù.
- Bóc lột kinh tế và đàn áp chính trị: Thực dân Pháp đã bóc lột nhân dân ta đến tận xương tủy, cướp đoạt ruộng đất, hầm mỏ, và đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý. Chúng cũng thực hiện chính sách chia để trị, đầu độc dân ta bằng rượu và thuốc phiện.
Những tội ác này không chỉ gây ra đau khổ và mất mát to lớn cho nhân dân Việt Nam mà còn làm rõ bản chất tàn bạo và phi nhân đạo của chế độ thực dân. Việc tố cáo những tội ác này trong Tuyên ngôn Độc lập không chỉ nhằm khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam mà còn để vạch trần sự giả dối và tàn ác của thực dân Pháp trước công luận quốc tế.
Sơ đồ hoá cấu trúc của mẫu câu chính được sử dụng trong đoạn văn bản và nêu nhận xét về việc tác giả lựa chọn mẫu câu này để biểu đạt ý tưởng, thái độ trước vấn đề được đề cập.
Chủ ngữ của các câu là “chúng” – một đại từ thay thế chỉ thực dân Pháp. Ngoại trừ hai trường hợp tác giả dùng trạng ngữ (Về chính trị,... Về kinh tế,...), còn lại, từ “chúng” luôn đứng đầu câu như một tấm bia để hứng chịu sự tố cáo dồn dập. Các cụm động từ làm vị ngữ luôn “chở” theo nội dung nói về sự tàn bạo của chủ thể hành động: không cho..., ràng buộc..., chém giết..., bóc lột..., cướp không...,... Qua đó, có thể thấy thái độ của tác giả là thái độ phủ định triệt để những việc mà thực dân Pháp đã làm trên đất nước ta, kể từ khi chúng đặt ách thống trị lên xứ sở này.
Khi nghe hoặc đọc đoạn văn bản này, người tiếp nhận có thể nghĩ đến những đoạn nào trong một số tác phẩm nổi tiếng của văn học cổ điển Việt Nam? Lí do của sự liên hệ đó là gì?
- Khi nghe hoặc đọc đoạn văn bản này, người tiếp nhận có thể nghĩ đến những đoạn trong một số tác phẩm nổi tiếng của văn học cổ điển Việt Nam: Dụ chư tì tướng hịch văn (thường được dịch là Hịch tướng sĩ) của Trần Quốc Tuấn và Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) của Nguyễn Trãi.
- Lí do: Những liên hệ này không chỉ nằm ở nội dung mà còn ở tinh thần và mục đích của các tác phẩm. Chúng đều là những lời tuyên bố mạnh mẽ về quyền tự do, độc lập và chủ quyền của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.
Đánh giá về cách tác giả làm tăng tính khẳng định, phủ định trong đoạn văn bản.
Sự tương phản giữa khẳng định và phủ định trong văn bản thể hiện sự đối lập giữa quyền lợi của nhân dân Việt Nam và hành vi bất chính của thực dân Pháp. Tác giả sử dụng so sánh để làm rõ sự chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng, với việc liệt kê hành động cụ thể của Pháp và phản bội của họ, làm nổi bật quyết tâm và tự trọng của nhân dân.
Bài tập 4. Đọc lại bài thơ Mộ (Chiều tối) trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 18 – 19) và trả lời các câu hỏi:
Trong các trường hợp sau, yếu tố quy trong từ nào có cùng nghĩa với từ quy trong câu thơ thứ nhất?
Chọn đáp án: B. Quy hồi
Câu nào sau đây thể hiện cách hiểu của dịch giả Nam Trân trong bản dịch thơ (SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 19):
Chọn đáp án: B. Câu thơ thứ hai miêu tả một chòm mây lẻ loi bay ngang qua bầu trời.
Tra từ điển và giải thích nghĩa của yếu tố cô được tác giả sử dụng trong câu thơ thứ hai. Bình luận ngắn gọn về hình ảnh cô vân trong nguyên văn.
– Cô có các nghĩa chính sau đây: a. người không còn cha mẹ (như: cô độc); b. chỉ có một, một mình, lẻ loi (như: cô đơn, cô quạnh,..).
– Cô trong câu thơ được dùng theo nghĩa b, nhấn mạnh (trạng thái) lẻ loi, (tâm trạng) cô quạnh.
– Hình ảnh cô vân nhấn mạnh sự lẻ loi, biểu thị sự nhỏ nhoi, hữu hạn; gợi liên hệ đối sánh với hình ảnh người tù.
Chỉ ra biểu hiện của hình thức tiểu đối trong câu thơ kết.
Tiểu đối là hình thức đối giữa hai vế trong một câu; hình thức tiểu đối có thể đi kèm với biểu hiện đối về từ loại, cú pháp.
– Câu thơ có hai vế đối nhau: bao túc ma hoàn (ngô xay xong) – lô dĩ hồng (lò lửa đã được đốt lên).
– Về từ loại: Hai động từ nối tiếp nhau (ma – xay // hồng – đốt); hai phó từ biểu thị trạng thái vận động trong thời gian (hoàn – xong // dĩ – đã, đã lại).
– Về ngữ pháp: Đây là hai vế câu cùng có mô hình ngữ pháp giống nhau, đó là dạng thức cấu trúc chủ ngữ – vị ngữ (ngô... xay xong // lò lửa... được đốt cháy rực).
– Về ý: Về trước miêu tả sự kết thúc của một hoạt động (ngô xay xong), về sau miêu tả sự nối tiếp của một hoạt động khác (lò đã cháy rực/ lò đã được đốt lên). Mối quan hệ đối – nối tiếp về ý diễn tả sự vận động liên tục, gợi ý niệm về “bước đi” của thời gian; hoạt động này kết thúc, mở ra một hoạt động khác, thời gian tiếp tục trôi vào đêm tối.
Hãy chỉ ra điểm đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả sự vận động của thời gian trong bài thơ.
Nhan đề bài thơ (Mộ – Chiều tối) đã gợi ý về trạng thái xúc cảm của tác giả tại một thời điểm đặc biệt. Trong thơ cổ, ý niệm về khoảnh khắc trời chiều, chiều tối – thời điểm chuyển giao giữa ngày và đêm thường gợi nỗi nhớ nhà, gợi tâm sự muốn trở về. Cảm nhận về thời gian của tác giả hết sức cụ thể, được biểu đạt thông qua hình ảnh, sự vận động của cảnh vật: chim về tổ, theo nhịp điệu sinh tồn của tạo vật; không gian trời chiều rộng lớn, cô liêu hiện lên qua hình ảnh chòm mây cô đơn, lẻ loi trôi qua bầu trời; chuyển động đều đặn, xoay vòng của động tác xay ngô ít nhiều gợi cảm giác nặng nề, lặng lẽ; lò lửa cháy rực là dấu hiệu đột ngột giúp nhận ra bóng đêm đã bao trùm cả miền sơn cước...
Có thể thấy, điểm đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả sự vận động của thời gian trong bài thơ thể hiện rõ nhất ở chỗ: Nhà thơ không dùng các từ ngữ chỉ thời gian, thời điểm; cũng không sử dụng từ ngữ chỉ sự vận động của thời gian, nhưng người đọc vẫn cảm nhận rõ ràng về bước chuyển của thời gian. Điều này cũng góp phần cho thấy tâm hồn nhạy cảm của con người trong việc nắm bắt những biến đổi vi tế của đời sống tạo vật.
Bài tập 5. Đọc lại bài thơ Nguyên tiêu (Rằm tháng Giêng) trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 19) và trả lời các câu hỏi:
Trong các trường hợp sau, yếu tố nguyên trong từ nào có cùng nghĩa với từ nguyên tiêu trong nguyên văn bài thơ?
Chọn đáp án: B. Nguyên khí
Giải thích nghĩa của các yếu tố viên (câu 1) và mãn (câu 4). Với mỗi yếu tố viên và mãn mang nghĩa như trong bài thơ, hãy tìm 3 – 5 từ ghép Hán Việt có sự xuất hiện của chúng.
- Viên (câu 1); tròn, hình tròn; tròn trịa, đầy đủ; như trong các từ: viên khuyết (tròn và khuyết, nói về mặt trăng), viên thành, viên mãn, viên tịch,...
- Mãn (câu 4): đầy, tràn đầy, đủ; tự cho là đầy; như trong các từ: mãn ý, mãn nguyện, tự mãn, thoả mãn,..
Biện pháp tu từ chủ yếu được tác giả sử dụng trong câu thơ thứ hai là gì? Hãy chỉ ra tác dụng của biện pháp ấy.
- Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ thứ hai: điệp ngữ (ba từ xuân được lặp lại đầy dụng ý; ba cụm từ cùng loại được sử dụng trùng điệp: xuân giang, xuân thuỷ, xuân thiên).
- Tác dụng: Nhấn mạnh sức sống của mùa xuân, của đất trời, của lòng người. Biện pháp điệp ngữ tạo ấn tượng về sự trùng điệp, nối tiếp, vận động; khung cảnh mở rộng từ không gian cận cảnh, dưới thấp (vẻ xuân của dòng sông, sắc xuân của nước) vươn đến không gian trên cao, viễn cảnh (khí xuân của bầu trời). Cả vũ trụ ngập tràn sức xuân tươi mới, mạnh mẽ.
Đọc lại nội dung gợi ý ở cước chú 3 (SGK, tr. 19) và cho biết, có thể xác định cụm từ yên ba thâm xứ trong nguyên văn là điển cố không. Hãy phân tích tác dụng của cụm từ này trong câu thơ.
Cụm từ yên ba thâm xứ (nơi khói sóng vắng lặng), trong thơ cổ, thường gợi không gian mênh mang, tĩnh lặng. SGK đã dẫn một số câu thơ của Trung Quốc và Việt Nam có sử dụng cụm từ/ hình ảnh này; bên cạnh đó, bạn cũng có thể đã biết đến (hoặc có thể tự sưu tầm thêm) nhiều câu thơ có hình ảnh yên ba (khói sóng) như: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Khói sóng trên sông khiến lòng người thêm buồn – Thôi Hiệu), “Yên ba sầu sát nhân” (Khói sóng buồn chết người – Bạch Cư Dị),...
– Với những dữ liệu trên, xét trong phạm vi bút pháp thơ ca cổ điển, có thể coi hiện tượng các nhà thơ sử dụng một cụm từ, một hình ảnh,... vốn đã xuất hiện nhiều lần trong các tác phẩm đời trước là biện pháp sử dụng chất liệu văn học đã có; biện pháp này giúp tạo nên tính ước lệ của ngôn ngữ, hình tượng trong thơ ca cổ điển. Ở phạm vi hẹp hơn, xuất phát từ lí thuyết chung về điển cố (đã học từ trước), hoàn toàn có thể quan niệm đây là điển cố.
– Tác dụng của cụm từ/ điển cố yên ba thâm xứ trong câu thơ của Hồ Chí Minh: gợi không gian, khung cảnh núi rừng tĩnh lặng, có phần bí mật, gắn với việc bàn bạc việc quân của người chiến sĩ (là những người lãnh đạo cuộc kháng chiến). Khung cảnh “yên ba thâm xứ” trong thơ ca cổ thường gợi ý niệm về sự cô đơn, cảnh huống lánh đời của kẻ sĩ; ở đây, khung cảnh này lại gắn với hình ảnh con người bận bịu việc nước, việc thế sự; do thế, khung cảnh tạo ra một sự đối lập với tâm thế của nhân vật trữ tình.
So sánh nội dung ý nghĩa và chỉ ra điểm khác biệt giữa nguyên văn và bản dịch của câu thơ kết.
– Nội dung nguyên văn câu thơ kết: “Nửa đêm trở về, ánh trăng (tràn xuống) ăm ắp đầy thuyền”. Cụm từ nguyệt mãn thuyền (ánh trăng làm tràn đầy con thuyền bàn việc quân) trong nguyên văn là một cụm động từ (mãn là tính từ, được dùng làm động từ), chỉ sự “vận động” của ánh trăng (vốn thuộc về thế giới tự nhiên) tìm về với con người; biến con thuyền quân sự thành con thuyền thơ. Con người (người chiến sĩ bàn việc quân) là trung tâm của bức tranh,
– Nội dung câu thơ dịch: “Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”. Ý thơ dịch nhấn mạnh không gian, khung cảnh sống nước mênh mông bát ngát; vẻ đẹp của ý thơ thay đổi (từ chỗ nhấn mạnh sự vận động của trăng hướng đến con người) thành vẻ đẹp ngập tràn âm thanh và màu sắc (trăng ngăn) trong không gian bát ngát.
Bài tập 6. Đọc lại văn bản Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 21 – 25) và trả lời các câu hỏi:
Tóm tắt câu chuyện được kể trong tác phẩm theo hai ngôi khác nhau: ngôi thứ ba (tương tự cách tác giả đã thực hiện) và ngôi thứ nhất (vai kể là Va-ren hoặc Phan Bội Châu).
– Các tình tiết, sự kiện chính cần lưu ý khi tóm tắt:
+ Phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu gây sức ép cho Chính phủ bảo hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương. Tân Toàn quyền Va-ren “nửa chính thức hứa sẽ chăm sóc” vụ này.
+ Tân Toàn quyền Va-ren đến Sài Gòn, “tuần du linh đình qua các khu phố bản xứ”. Phan Bội Châu vẫn nằm tù.
+ Trên đường ra Hà Nội, Va-ren dừng ở Huế. Triều đình An Nam nghênh đón Toàn quyền thăm hoàng cung, dự yến, nhận Nam Long bội tinh. Phan Bội Châu vẫn nằm tù.
+ Va-ren vào nhà tù, dài lời mặc cả với Phan Bội Châu về việc đánh đổi tự do bằng sự phản bội lí tưởng, hợp tác với chính quyền thực dân. Phan Bội Châu im lặng.
+ Anh lính dõng nhìn thấy Phan Bội Châu cười ruồi. Một nhân chứng khác “quả quyết rằng Phan Bội Châu đã nhổ vào mặt Va-ren”.
– Gợi ý về cách tóm tắt theo từng ngôi kể khác nhau:
+ Ngôi kể thứ ba: Do sức ép của công luận, tân Toàn quyền Va-ren “hứa sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu”. Nhưng khi đến Sài Gòn, Va-ren bận bịu trong những cuộc tiếp rước, chúc tụng, tuần du...
+ Ngôi kể thứ nhất với người kể là Va-ren: “Mình vừa nhậm chức Toàn quyền là bị cái vụ Phan Bội Châu này làm phiền nên đánh hứa hẹn chút đc vẻ về dân chúng. Đến Sài Gòn, mình kín lịch vì những cuộc tiếp rước và tuần du”…
+ Ngôi kể thứ nhất với người kể là Phan Bội Châu: “Từ lúc ta bị chính quyền thực dân bắt giam, nghe nói bên ngoài đấu tranh mạnh mẽ đến nỗi tân Toàn quyền phải hứa hẹn “chăm sóc vụ Phan Bội Châu”. Nhưng chắc “ngài” còn bận tuần du Sài Gòn để tìm hiểu xứ bảo hộ, rồi phải gặp gỡ yến tiệc với triều đình Huế nên mãi không thấy động tĩnh gì”...
Làm rõ bản chất “những trò lố” được tác giả diễn tả trong tác phẩm.
Bản chất “những trò lố” đã được tác giả diễn tả trong tác phẩm đều là hoạt động của Chính phủ bảo hộ và triều đình An Nam:
– Tân Toàn quyền hứa hão để mị dân.
– Tân Toàn quyền “tuần du” xứ bảo hộ.
– Triều đình Huế nghênh tiếp và phong tặng Nam Long bội tinh cho tân Toàn quyền.
– Va-ren vào nhà giam thương lượng với Phan Bội Châu.
Chọn phân tích một trong các yếu tố hoặc phương diện của tác phẩm thể hiện rõ bút pháp trào lộng của tác giả.
Sắc thái trào lộng được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau của tác phẩm. Ví dụ:
– Nhan đề: hạ bệ một sự kiện chính trị thành “những trò lố” kệch cỡm, nực cười.
– Tình huống: tưởng tượng về cuộc gặp gỡ giữa hai nhân vật đứng đầu hai lực lượng thù địch.
– Việc xây dựng nhân vật: dựng một chân dung kí hoạ về quan Toàn quyền Đông Dương.
– Ngôn ngữ: châm biếm, giễu nhại.
Hãy chọn phân tích kĩ một trong các phương diện nêu trên. Gợi ý phân tích phương diện ngôn ngữ:
– Nhại: “sẽ chăm sóc vụ Phan Bội Châu”.
– Ngôn ngữ miêu tả mang sắc thái châm biếm: “hai con mắt của ông Va-ren được thấy hiển hiện cái huyền diệu của một thành phố Đông Dương”; “đôi bàn chân trần giẫm lạch bạch trên mặt đường nóng bỏng; những quả dưa hấu bổ phanh đỏ lòm lòm, những xâu lạp xường lủng lẳng dưới mái hiên”.
– Nói mỉa: “ông Va-ren đã nửa chính thức hứa”.
– Trùng điệp: “vẫn bị giam trong tù”, “vẫn nằm tù”.
– Nghịch ngữ: “Ông hứa thế; giả thử cứ cho rằng một vị Toàn quyền Đông Dương mà lại biết giữ lời hứa đi chăng nữa, thì chúng ta vẫn được phép tự hỏi...”
– Chơi chữ: “Những vị ấy, ngày nay lừng danh cả, đều đã lần lượt đốt cháy những cái mà mình tôn thờ và đang tôn thờ những cái mà mình đã đốt cháy”.
Xác định dấu hiệu của các thủ pháp tương phản, trùng điệp được sử dụng trong tác phẩm và nhận xét về hiệu quả nghệ thuật của các thủ pháp này.
– Thủ pháp tương phản được sử dụng thường xuyên, ở nhiều bình diện, nhiều cấp độ:
+ Tương phản giữa hai nhân vật Va-ren và Phan Bội Châu (về địa vị, tiểu sử, hành vi, lời nói, thái độ,...).
+ Tương phản giữa hình ảnh chính quyền bảo hộ và dân chúng, giữa Toàn quyền Va-ren và triều đình An Nam.
Lưu ý: Thủ pháp tương phản đạt được hiệu quả nghệ thuật đáng kể, khiến hai thế lực đối nghịch trở nên rõ nét mà tác giả không cần bình luận, giải thích thêm (người đọc được cung cấp thông tin để tự suy ngẫm và kết luận).
– Thủ pháp trùng điệp cũng được sử dụng nhiều lần, linh hoạt và đạt hiệu quả nghệ thuật cao:
+ Trùng điệp thông tin và cấu trúc câu để nhấn mạnh: “trong bốn tuần lễ đó, Phan Bội Châu vẫn bị giam trong từ”, “Trong khi đó thì Phan Bội Châu vẫn nằm tù”.
+ Trùng điệp thành phần câu để tạo nhịp điệu và gia tăng, nhấn mạnh nội dung: “Đến Sài Gòn thì ông Va-ren, có gì mà không lường trước được, sẽ bị quấn quýt lấy, lôi kéo đi, giằng co, ru vỗ, ấp ủ trong mớ bòng bong những buổi chiêu đãi, những cuộc tiếp với rước, những lời chúc với tụng”
Sau khi đọc văn bản, bạn có suy nghĩ gì về các nhân vật Va-ren, Phan Bội Châu?
Trong tác phẩm “Varen và Phan Bội Châu” của Nguyễn Ái Quốc, hai nhân vật Va-ren và Phan Bội Châu được khắc họa với những nét tính cách và phẩm chất đối lập, tạo nên sự tương phản rõ rệt.
- Va-ren:
+ Hình ảnh: Va-ren là một viên toàn quyền thực dân Pháp, đại diện cho chế độ thực dân tàn bạo và thối nát.
+ Tính cách: Ông ta được miêu tả là kẻ giả dối, lươn lẹo, luôn tìm cách lừa gạt và đàn áp những người yêu nước. Va-ren hứa hẹn sẽ “chăm sóc” Phan Bội Châu nhưng thực chất chỉ là lời nói suông, không có ý định thực hiện.
+ Ý nghĩa: Va-ren tượng trưng cho sự giả nhân giả nghĩa của chế độ thực dân, luôn tìm cách che đậy bản chất tàn ác và phi nhân đạo của mình.
- Phan Bội Châu:
+ Hình ảnh: Phan Bội Châu là một nhà yêu nước, một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc.
+ Tính cách: Ông được miêu tả là người kiên định, bất khuất, không khuất phục trước sự đàn áp của thực dân. Dù bị giam cầm, Phan Bội Châu vẫn giữ vững tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh.
+ Ý nghĩa: Phan Bội Châu tượng trưng cho tinh thần yêu nước, lòng kiên trung và ý chí bất khuất của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân.
Bài tập 7. Đọc lại văn bản Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 22), đoạn từ “Bỗng dưng tất cả dừng lại” đến “Bẩm lạy quan lớn ạ!” và trả lời các câu hỏi:
Theo bạn, đoạn văn này có những điểm đặc sắc gì?
Đoạn văn này có nhiều điểm đặc sắc. Ví dụ:
– Về nội dung: diễn tả ngắn gọn và sinh động bức tranh tương phản giữa chính quyền thực dân và dân chúng thuộc địa, biếm hoạ chân dung Va-ren từ góc nhìn của dân chúng.
– Về điểm nhìn: phối hợp nhiều điểm nhìn.
– Về giọng điệu: châm biếm (“dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bờ”, đám đông “vừa yên lại vừa lặng”,...).
– Về cấu trúc: kết hợp các kiểu câu kể, câu hỏi, câu cảm,.
– Về thủ pháp nghệ thuật: kết hợp thủ pháp tương phản và trùng điệp.
Nêu và nhận xét về cách tổ chức điểm nhìn trong đoạn văn.
- Cách tổ chức điểm nhìn trong đoạn văn:
+ Tác giả đã phối hợp nhiều điểm nhìn, liên tục di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang các nhân vật (viên đội xếp, đám đông dân chúng, chú bé con, chị con gái, anh sinh viên, bác cu li xe, một nhà Nho).
+ Đặc biệt, người kể chuyện đã nhường lời cho năm nhân vật đại diện cho năm tầng lớp dân chúng nhận xét về Toàn quyền từ các điểm nhìn riêng nhưng tất cả đều thấy vẻ kệch cỡm, giả dối, bất lương của “quan lớn”.
- Với việc tổ chức điểm nhìn đa dạng, linh hoạt, đoạn văn đã thể hiện một cách sống động hình ảnh xã hội Việt Nam đương thời (đội xếp Tây vung roi và quát nạt, dân chúng vừa chịu đựng vừa phản kháng).
Thái độ châm biếm được thể hiện bằng những thủ pháp nghệ thuật nào?
Thái độ châm biếm được thể hiện bằng các thủ pháp nghệ thuật sau:
- Tương phản: đũa thần – roi gân bò, đội xếp Tây – đám đông, xe ô tô quan Toàn quyền – đám đông lúc nhúc hai bên đường, lời của từng nhân vật – lời của đám đông.
- Ngôn ngữ châm biếm: “Bỗng dưng tất cả dừng lại, dưới cây đũa thần, hay đúng hơn dưới ngọn roi gân bò”; “Ồ! Cái áo dài đẹp chửa!”
Có gì đặc biệt trong cách tác giả diễn tả thái độ của dân chúng?
Tác giả diễn tả thái độ của dân chúng từ điểm nhìn bên ngoài, làm rõ thái độ qua lời nói và cử chỉ, hoạt động của đám đông và của năm nhân vật đại diện. Như một người quay phim, tác giả ghi lại cảnh đám đông rồi đặc tả năm nhân vật đại diện, mỗi người lên tiếng từ góc nhìn của mình nhưng đều chung thái độ vừa chịu đựng, vừa căm ghét những kẻ cai trị.
Trong đoạn văn này, hình ảnh Va-ren được miêu tả như thế nào?
Trong đoạn văn này, hình ảnh Va-ren được diễn tả qua những lời nhận xét của dân chúng. Mỗi lời nhận xét cho thấy một góc nhìn, một hình ảnh riêng biệt, nhưng kết hợp lại sẽ thành chân dung một kẻ quyền lực cao sang (đi ô tô, được đón rước long trọng) nhưng dị hợm (đội mũ có sừng trên chóp sọ, mặc áo dài), giả dối (diễn thuyết), nham hiểm (rậm râu, sâu mắt).
Bài tập 8. Đọc lại văn bản Vọng nguyệt (Ngắm trăng) trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 37) và trả lời các câu hỏi:
Tra từ điển và giải thích nghĩa của yếu tố vọng (trong nhan đề bài thơ). Hãy tìm một số từ ghép Hán Việt có chứa yếu tố vọng (nêu khoảng ba từ cho mỗi nghĩa chính của yếu tố này).
Vọng trong Hán ngữ có một số nét nghĩa chính sau đây:
a. ngày rằm, trăng đêm rằm; nhìn xa, trông xa; như trong các từ ngữ: sóc vọng (ngày mùng một và ngày rằm trong một tháng âm lịch; sóc: ngày mùng một âm lịch, trăng ngày mùng một), vọng nhật, viễn vọng,...
b. trông chờ, mong mỏi, trông đợi; như trong các từ ngữ: vọng phu, đồng vọng, hi vọng, kì vọng,...
c. ngưỡng mộ, được người khác ngưỡng mộ; như trong các từ: vọng cổ, vọng ngoại, ngưỡng vọng, vọng tộc,...
Nhan đề bài thơ (Vọng nguyệt), ngoài cách dịch phổ biến là Ngắm trăng, còn có một cách dịch khác là Ngóng trăng (xem thêm: Nhiều tác giả, Văn bản tác phẩm Hán Nôm trong nhà trường, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018, tr. 242). Hãy so sánh hai cách dịch trên và nêu ý kiến của bạn.
Ngoài hai cách dịch (cách hiểu) như câu hỏi đã đề cập, còn có thể hiểu vọng nguyệt nghĩa là trăng rằm, trăng đêm rằm.
- Cách dịch (phổ biến) là ngắm trăng đã hiểu vọng theo nghĩa nhìn, ngắm, trông xa (thiên về chỉ hoạt động của thị giác); gần tương ứng với cách diễn đạt khán nguyệt, lãm nguyệt, đối nguyệt, trong Hán văn. Lúc này, trăng (khách thể) và người (chủ thể) được “đặt” trong quan hệ trực tiếp, không có sự cách bức. Cách dịch ngóng trăng hay trông trăng đã hiểu từ vọng theo nghĩa trông chờ, ngóng đợi (thiên về chỉ hoạt động của tâm trạng); theo đó có thể gợi một tình huống quan hệ đặc biệt giữa người và trăng: quan hệ tri âm tri kỉ, trong hoàn cảnh cách bức giữa thế giới tự do và thế giới mất tự do (Hồ Chí Minh:“Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt”,...).
- Có thể chấp nhận cả hai cách dịch (cách hiểu) trên. Tuỳ thuộc vào cảm nhận vẻ đẹp của bài thơ, bạn có thể bày tỏ quan điểm riêng, thể hiện sự đồng tình của mình với một trong hai cách dịch (cách hiểu và lí giải) trên.
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đối trong hai câu sau của bài thơ.
a. Đối thanh điệu:
T (hướng) – B (tiền) – B (minh)
B (tòng) – T (khích) – B (thi)
Đối không chuẩn về thanh điệu: chữ thứ sáu câu 3 đúng luật phải là thanh trắc; trường hợp này có thể xác định là chủ động phá luật để chú trọng hơn đến ý (minh nguyệt – trăng sáng là một cụm từ khó thay đổi, có kết cấu khá vững chắc).
b. Đối từ loại: Danh từ – nhân (người) // danh từ – nguyệt (trăng); động từ – hướng (hướng ra) // động từ – tòng (theo tới); động từ – khán (ngắm) // động từ – khán (ngắm); tính từ – minh nguyệt (trăng sáng) // danh từ – thi gia (nhà thơ).
Các cặp từ loại trong hai câu thơ đối khá chuẩn (chấp nhận tính từ có thể đối với danh từ). Tuy vậy, có hai cặp từ lặp lại trong một ngữ cảnh hẹp, cho thấy dụng ý nhấn mạnh của tác giả: song tiền (ngoài cửa sổ) – song khích (khe cửa sổ) đều nhấn mạnh sự ngăn cách; khán (ngắm – người ngắm trăng) – khán (ngắm – trăng ngắm người) thể hiện sự giao hoà không cách biệt giữa người và trăng, khi cùng vượt qua sự cách bức.
c. Đối cú pháp: Cấu trúc cú pháp của hai câu thơ giống nhau, có thể sơ đồ hoá theo mô hình Chủ ngữ – Vị ngữ 1 – Trạng ngữ – Vị ngữ 2 – Bổ ngữ.
Cú pháp đối thống nhất, chặt chẽ; thể hiện hai sự vận động ngược chiều nhưng hướng về nhau (đồng hướng) của chủ thể và khách thể.
d. Đối ý: Đối về ý là hệ quả của các biểu hiện đối về từ loại và cú pháp. Logic ý của cặp câu thơ đồng thời là cách cấu tứ đặc biệt của cặp câu: Người chủ động vượt qua cách bức để tìm trăng (câu 3); Trăng chủ động vượt qua cách bức đã tìm người (câu 4).
Nhờ logic đối ở trên: vật ngăn cách (song: cửa sổ) trở thành nơi gặp gỡ; tù nhân (câu 3) biến thành thi nhân (câu 4). Chủ thể ở câu này chuyển hoá thành đối tượng (khách thể) ở câu kia.
Sự hoán đổi giữa chủ thể ngắm (khán) và khách thể (đối tượng của động thái ngắm) trong hai câu sau đã thể hiện sự chuyển hoá vị thế của nhân vật trữ tình như thế nào?
- Con người (chủ thể) ở câu 3 có vị thế là tù nhân, bị giam cầm trong không gian chật chội, đầy bóng tối; hoàn toàn cách bức với thế giới tự do của ánh sáng, của vẻ đẹp đêm trăng rằm. Bằng tinh thần, con người ấy đã thực hiện cuộc “vượt ngục” đặc biệt; song sắt nhà tù không ngăn cản được ý chí và tâm hồn yêu thiên nhiên, khao khát tự do. Trăng (đối tượng của sự ngắm) ở câu 3 tồn tại với tư cách khách thể, tự nhiên, tĩnh tại.
- Đến câu 4, trăng trở thành chủ thể; từ thế giới thiên nhiên tự do, chủ động tìm đến con người trong ngục tối gông xiềng: vẻ đẹp của vầng trăng là vẻ đẹp nhân tính; trăng chỉ đẹp, chỉ có ý nghĩa trong mối quan hệ với con người có tâm hồn; con người ấy lại đang trong tình huống bị giam cầm. Người tù, vốn là chủ thể ở câu 3, vì có trăng tìm đến, nên đã chuyển hoá tự nhiên thành nhà thơ (đối tượng tâm hồn mà trăng chủ động tìm tới).
- Sự chuyển hoá vị thế của nhân vật trữ tình, từ tù nhân hoá thành thi nhân, từ mất tự do đến hoàn toàn tự do về tinh thần,... là một sự vận động, một sự chuyển hoá nội tại. Sự chuyển hoá ấy được tác giả thể hiện một cách hết sức tự nhiên, thông qua việc sử dụng hiệu quả thủ pháp nghệ thuật đối. Tứ thơ hết sức chân thực, giản dị nhưng đầy dư vị, để lại ấn tượng, cảm xúc mạnh mẽ.
Bạn cảm nhận như thế nào về đời sống tâm hồn của nhà thơ được thể hiện trong tác phẩm Vọng nguyệt?
- Tình yêu thiên nhiên, yêu tự do tha thiết; người tù đồng thời là thi nhân có tâm hồn trong sáng, tinh tế, lãng mạn.
- Tinh thần chủ động, tự tại với tâm thế lạc quan; điều đó thể hiện đời sống nội tâm sâu sắc, thanh cao. Bản lĩnh và cách hoá giải hoàn cảnh, thông qua việc thực hiện một cuộc vượt ngục đặc biệt về tinh thần để lại nhiều ý vị nhân sinh sâu sắc,...
Bài tập 9. Đọc lại văn bản Cảnh khuya trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 37) và trả lời các câu hỏi:
Tìm đọc các tài liệu liên quan và giới thiệu ngắn gọn về hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, cảm hứng sáng tác, nội dung của bài thơ.
– Bài thơ Cảnh khuya được in lại nhiều lần trong các tuyển tập thơ ca Việt Nam hiện đại nói chung và tuyển tập thơ Hồ Chí Minh nói riêng; đồng thời cũng đã có nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu tìm hiểu, giới thiệu. Ví dụ: Thơ Hồ Chủ tịch, NXB Văn học, Hà Nội, 1967; Hồ Chí Minh – Thơ, NXB Văn học, Hà Nội, 1970; Nhiều tác giả, Vẻ đẹp thơ văn Chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005; Lê Quang Hưng, Đến với tác phẩm văn chương, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007;... Sau đây là một số gợi ý thực hiện yêu cầu của câu hỏi, dựa trên sự tổng hợp từ các nguồn tài liệu hữu quan:
– Về hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Bài thơ được sáng tác năm 1947, năm thứ hai của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954). Trước đó, ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, thực dân Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và quyết định chuyển Bộ chỉ huy kháng chiến lên núi rừng Việt Bắc. Năm 1947, nhằm tiêu diệt lực lượng chủ yếu của ta và cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, giặc Pháp tấn công lên Việt Bắc. Chiến dịch Việt Bắc do quân dân ta tiến hành, với hàng loạt chiến thắng trên khắp chiến trường đã làm thất bại ý đồ của địch. Bài thơ Cảnh khuya đã được Hồ Chí Minh viết trong những ngày tháng gian lao, thử thách của cả dân tộc, khi Người sống và trực tiếp chỉ đạo chiến dịch tại núi rừng Việt Bắc.
– Về thể thơ, cảm hứng sáng tác và nội dung tác phẩm: Bài thơ tiếng Việt, được viết theo thể tứ tuyệt Đường luật (tức theo phong cách cổ điển) nhưng có sử dụng bút pháp hiện đại. Cảm hứng sáng tác nảy sinh trong phút giây đặc biệt: Giữa cảnh khuya núi rừng Việt Bắc, thiên nhiên đất trời trong sáng, ánh trăng ngời vẻ thanh bình, nhân vật trữ tình mặc dù bận bịu với cuộc kháng chiến, bộn bề lo toan“nỗi nước nhà” nhưng tâm hồn vẫn an nhiên, luôn giao hoà với cảnh sắc tuyệt mĩ chốn lâm tuyền. Ở đây, giữa hình ảnh người chiến sĩ và hình ảnh bậc hiền triết thung dung, tự tại có sự thống nhất đẹp đẽ. Nội dung bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của thi nhân và tấm lòng của người cách mạng trước vận mệnh dân tộc; tứ thơ có sự thống nhất giữa tâm hồn cao khiết, tình yêu thiên nhiên tha thiết với lòng yêu nước chan chứa, nồng nàn.
Chỉ ra các biện pháp tu từ chủ yếu được tác giả sử dụng trong bài thơ.
- Biện pháp tu từ so sánh: Câu 1, tác giả sử dụng từ so sánh “như để thể hiện sự đồng nhất giữa hai âm thanh, âm thanh của tự nhiên thanh khiết và âm thanh của tiếng hát trong trẻo, thiết tha. Tiếng suối trong được ví với tiếng hát xa là một liên tưởng mới lạ, giàu sức gợi; cả hai âm thanh vọng lại từ xa tạo ấn tượng đan xen giữa cái thực và cái mơ hồ, khó phân biệt.
- Biện pháp tu từ điệp ngữ: Câu 1 lặp hai từ tiếng nhấn mạnh sự so sánh, đồng nhất giữa tiếng suối và tiếng hát; câu 2 lặp lại từ lồng, thể hiện sự hài hoà, quấn quýt của hình ảnh thiên nhiên. Hai hình ảnh thực (trăng, cổ thụ) được soi chiếu lẫn nhau tạo vẻ đẹp hữu hình nhưng huyền ảo; từ bóng đã thống nhất các hình ảnh viễn cảnh (trăng) và cận cảnh (cổ thụ) gợi liên tưởng đến một bức tranh sống động (ánh sáng, màu sắc, đường nét) với vẻ đẹp hoa lệ (bóng lồng hoa). Câu 3 và câu 4 sử dụng điệp ngữ chưa ngủ theo lối đối nối tiếp (lặp lại từ ngữ cuối câu 3 ở đầu câu 4), nhấn mạnh cảm xúc, tâm trạng đồng thời lí giải nguyên nhân chưa ngủ của nhà thơ đồng thời là người chiến sĩ: say mê thưởng ngoạn cảnh đẹp đan quyện với thao thức, trăn trở vận nước. Yêu thiên nhiên và yêu nước thống nhất trong một trái tim và một khối óc.
Nêu nhận xét về nghệ thuật sử dụng thủ pháp tiểu đối của tác giả trong bài thơ.
- Câu 1: đối giữa tiếng suối trong và tiếng hát xa, quan hệ giữa hai vế là đẳng lập, biểu thị bằng sự so sánh (dùng từ so sánh như) và biện pháp điệp từ (tiếng suối, tiếng hát), điệp cấu trúc (kết cấu chủ – vị). Tác dụng: tạo âm hưởng ngân nga, tha thiết.
- Câu 2: đối giữa trăng lồng cổ thụ và bóng lồng hoa, quan hệ giữa hai vế là đẳng lập, biểu thị bằng sự liệt kê (các hình ảnh nối tiếp nhau) và biện pháp điệp từ (trăng lồng, bóng lồng), điệp cấu trúc (kết cấu chủ – vị). Tác dụng: tạo ấn tượng hài hoà, quấn quýt.
- Câu 3: đối giữa cảnh khuya như vẽ và người chưa ngủ, quan hệ giữa hai vế vừa nối tiếp, vừa đối lập; biểu hiện của thủ pháp tiểu đối chủ yếu là về ý. Tác dụng: giải thích việc người chưa ngủ vì đắm say cùng vẻ đẹp như tranh vẽ của khung cảnh thiên nhiên (quan hệ nối tiếp); gợi suy nghĩ về một sự lạ so với lẽ thường (quan hệ đối lập); đáng lí, đêm khuya thanh tĩnh thì con người cũng phải bình yên chìm sâu vào giấc ngủ, nhưng ở đây người chưa ngủ hẳn còn là vì một lí do đặc biệt nào khác...
Nhìn chung, thủ pháp tiểu đối trong bài thơ được tác giả sử dụng tự nhiên, thuần thục. Điều đó đã góp phần biểu đạt một cách nhuần nhị nội dung và thi tứ của bài thơ.
So sánh, chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật miêu tả hình ảnh trăng giữa hai bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) và Cảnh khuya.
- Điểm tương đồng trong nghệ thuật miêu tả hình ảnh trăng giữa hai bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng) và Cảnh khuya:
+ Hình ảnh trăng hiện lên với vẻ đẹp ngời sáng, thanh bình (minh nguyệt: ánh trăng trong sáng; trăng lồng cổ thụ: ánh trăng vằng vặc chiếu sáng cây rừng).
+ Trăng xuất hiện trong đêm khuya tĩnh lặng, thanh vắng. Dường như chỉ còn nhân vật trữ tình (con người) đối diện với ánh trăng trong lặng lẽ.
+ Trăng gần gũi, hoà nhập, hướng về thế giới (tâm hồn) của con người: trăng “theo tới” hoặc “từ” khe cửa nhà ngục”ngắm nhà thơ; ánh trăng tràn ngập khung cảnh núi rừng, ẩn hiện trong bóng cây, bóng hoa,...
- Điểm khác biệt trong nghệ thuật miêu tả hình ảnh trăng giữa hai bài thơ:
+ Hoàn cảnh ngắm trăng: Ở bài Vọng nguyệt, người ngắm trăng trong ngục tù, “Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt” (Hồ Chí Minh). Ở bài Cảnh khuya, người ngắm trăng trong không gian núi rừng rộng lớn, khoáng đạt (tuy là ở thời điểm con người đang trong tâm sự”lo nỗi nước nhà”).
+ Hình ảnh trăng trong mối quan hệ với con người: Ở bài Vọng nguyệt, trăng và người bị ngăn cách bởi song cửa nhà lao, vì thế trăng và người cùng phải vượt qua cách bức để giao dung. Ở bài Cảnh khuya, trăng và người quyện hoà trong vẻ đẹp chan hoà của ánh sáng, màu sắc,...
+ Bút pháp miêu tả: Ở bài Vọng nguyệt, hình ảnh trăng mang tính biểu tượng, được nhân cách hoá (hay đồng nhất với con người). Ở bài Cảnh khuya, hình ảnh trăng được miêu tả với đường nét cụ thể, sinh động, lung linh, huyền ảo.
Tuy có những điểm khác biệt nhưng cả hai bài thơ cùng cho thấy tâm hồn nhạy cảm, tình yêu thiên nhiên tha thiết, phong thái tự tại trước mọi hoàn cảnh của nhân vật trữ tình. Trăng và tâm hồn con người cùng hiện lên với vẻ đẹp hoà hợp, hữu tình.
Vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ – nghệ sĩ được thể hiện như thế nào trong hai câu thơ sau của bài thơ?
- Nội dung, logic của hai câu thơ cuối có quan hệ nối tiếp, các lớp ý nghĩa đan xen tầng bậc:
+ Câu thơ thứ ba trước hết thể hiện sự đắm say của con người trước cảnh đẹp thiên nhiên; một lí do khiến người chưa ngủ hẳn là bởi bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng Việt Bắc khiến tâm hồn người nghệ sĩ rung động, say mê. Nhà thơ sao nỡ ngủ khi mà tiếng suối, ánh trăng vẫn miệt mài chảy tràn thành tiếng hát; bóng trăng lồng tán cây rừng vẫn âm thầm dệt thêu vẻ gấm hoa;...
+ Câu thơ thứ tư bất ngờ lí giải lí do thực sự của việc“người chưa ngủ, cho thấy rõ một phương diện khác của tâm trạng nhân vật trữ tình: Tâm hồn rung động, đắm say trước vẻ đẹp thiên nhiên, tạo vật đột ngột được đồng nhất với trăn trở, suy tư của người chiến sĩ cách mạng đang ngẫm ngợi về vận mệnh dân tộc. Tình riêng và niềm chung hoà làm một tâm sự: “Lòng riêng riêng những bàn hoàn,/ Lo sao khôi phục giang san tiên rồng” (Hồ Chí Minh, Đi thuyền trên sông Đáy).
- Cụm từ “chưa ngủ” được nhắc lại trong câu thơ đã giải thích lí do không thể thuyết phục hơn: “Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”. Từ câu thơ thứ ba sang câu thơ thứ tư, ý thơ đã chuyển đổi nhưng mạch xúc cảm nối tiếp của hai câu thơ không bị ngắt; theo đó, sự “cắt nghĩa” mới về lí do chưa ngủ của nhân vật trữ tình – tác giả như một sự bổ sung hết sức tự nhiên, hợp lí để tạo thành một sự chuyển hoá, hoà hợp của hai tư cách, cũng đồng thời là hai tâm thế: người nghệ sĩ và người chiến sĩ.
- Tâm hồn thanh cao của người nghệ sĩ say đắm trước vẻ đẹp non sông gấm vóc lồng trong cốt cách cứng cỏi của người chiến sĩ đang bộn bề suy tư về vận mệnh dân tộc. Hai vẻ đẹp hài hoà trong hiện thân của một nhân cách. Tình yêu thiên nhiên hoà vào tình yêu đất nước.
Chọn một đề tài bài tập dự án được gợi ý trong phần hướng dẫn viết của bài học trong SGK Ngữ văn 12, tập hai (tr. 33) và phác thảo hướng thực hiện.
- Đề tài: sức mạnh của tiếng cười qua các tác phẩm hài kịch
- Phác thảo: 1. Thông tin chung về bài tập dự án (yêu cầu của bài tập dự án, thời gian thực hiện, các công việc cụ thể, phân công trách nhiệm, các bước tiến hành,...); 2. Kết quả dự kiến đạt được; 3. Ý nghĩa của việc thực hiện bài tập dự án.
Sơ đồ hoá các nội dung chủ yếu trong báo cáo kết quả bài tập dự án mà bạn hoặc nhóm của bạn đã thực hiện theo yêu cầu ở phần Viết.
1. Mục tiêu của dự án:
- Phân tích về sức mạnh của tiếng cười qua một số tác phẩm hài kịch nổi tiếng
- Đưa ra nhận xét, đánh giá tình trạng trên
2. Nội dung của dự án:
- Tìm hiểu và đọc một tác phẩm hài kịch nổi tiếng
- Chỉ ra ý nghĩa của tiếng cười hài kịch
- Sưu tập các văn bản hài kịch
3. Kết quả của thực hiện dự án:
- Sản phẩm 1 :
Tiếng cười trong hài kịch có ý nghĩa quan trọng vì nó phản ánh những câu chuyện thực tế, mang nhiều sắc thái như châm biếm, đả kích, giễu cợt hay vui vẻ. Nó là phương tiện phê phán những mặt xấu của xã hội và khẳng định cái tốt đẹp, giúp thay đổi nhận thức của con người.
Trong "Quan thanh tra" của Gogol, tiếng cười phê phán các thói hư tật xấu qua các nhân vật như Khlét-xa-cốp, thị trưởng, và chánh án. Gogol muốn khán giả tự nhìn nhận và cảnh báo về lối sống trống rỗng. Tác phẩm này giúp khán giả nhận thức về bản thân và tiếng cười hài kịch sống mãi trong lòng độc giả.
Tiếng cười là phản ứng cảm xúc trước các xung đột hài kịch, nhằm vào đối tượng cụ thể với mục đích và ý nghĩa xã hội sâu sắc.
- Sản phẩm 2 : 01 bộ sưu tập các văn bản hài kịch ( 03 bản)
+ Tác phẩm Bệnh sĩ của tác giả Lưu Quang Vũ
+ Tác phẩm Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ của nhà văn Shakespeare
+ Tác phẩm Quan thanh tra của nhà văn Gogol.
- Sản phẩm 3: Bộ tranh minh họa một số nhân vật, chi tiết… trong tác phẩm hài kịch
- Sản phẩm 4: 01 clip sân khấu hóa đoạn trích hài kịch Quan thanh tra ( Gô-gôn)
Lập dàn ý cho đề bài sau:
Viết bài văn (khoảng 1200 chữ) phân tích hình tượng trăng trong một bài thơ của Hồ Chí Minh (ngoài các tác phẩm trong SGK).
Dàn ý phân tích bài thơ Trung thu của Hồ Chí Minh
I. Mở bài
- Giới thiệu tác giả:
+ Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà thơ lớn của dân tộc.
+ Thơ của Người thường chứa đựng những tình cảm sâu sắc, những suy tư về cuộc sống và con người.
- Giới thiệu bài thơ “Trung thu”:
+ Bài thơ “Trung thu” được sáng tác trong thời gian Hồ Chí Minh bị giam cầm trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch.
+ Hình tượng trăng trong bài thơ mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tâm hồn và tư tưởng của tác giả.
II. Thân bài
- Khung cảnh thiên nhiên và hình tượng trăng:
+ Trăng trung thu tròn như gương: Hình ảnh trăng tròn, sáng rực rỡ, chiếu rọi khắp nhân gian, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, thanh bình.
+ Chiếu diệu nhân gian bạch tự ngân: Ánh trăng trắng như bạc, chiếu sáng khắp nơi, tạo nên không gian huyền ảo, lung linh.
- Tâm trạng của tác giả:
+ Gia lý đoàn viên ngật thu tiết, Bất vong ngục lý ngật sầu nhân: Tác giả nhớ về cảnh đoàn viên, sum họp của gia đình trong dịp Tết Trung Thu, nhưng lại cảm thấy buồn bã, cô đơn vì đang bị giam cầm.
+ Ngục trung nhân dã thưởng trung thu, Thu nguyệt thu phong đới điểm sầu: Dù bị giam cầm, tác giả vẫn thưởng thức cảnh đẹp của trăng thu, nhưng không thể tránh khỏi nỗi buồn và sự cô đơn.
- Ý nghĩa và tư tưởng của bài thơ:
+ Khát vọng tự do: Hình ảnh trăng tròn, sáng rực rỡ tượng trưng cho khát vọng tự do, hòa bình của tác giả và dân tộc.
+ Tinh thần lạc quan: Dù bị giam cầm, tác giả vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, yêu đời, luôn hướng về tương lai tươi sáng.
+ Tình yêu thiên nhiên và quê hương: Bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên sâu sắc của Hồ Chí Minh, sự gắn bó với quê hương, đất nước.
III. Kết bài
- Khẳng định giá trị của bài thơ:
+ “Trung thu” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện tâm hồn và tư tưởng của Hồ Chí Minh.
+ Bài thơ không chỉ đẹp về hình ảnh, âm thanh mà còn sâu sắc về ý nghĩa, tư tưởng.
- Liên hệ và cảm nhận cá nhân:
+ Bài thơ gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng về thiên nhiên và cuộc sống.
+ Từ đó, mỗi người có thể rút ra những bài học quý giá về tình yêu thiên nhiên, lòng yêu nước và khát vọng tự do.
Thuyết trình về đề tài bài tập dự án mà bạn hoặc nhóm của bạn đã chọn thực hiện theo yêu cầu trong bài tập 1 ở phần Viết.
mạnh của tiếng cười qua các tác phẩm hài kịch
- Sản phẩm 1 :
Tiếng cười trong hài kịch có ý nghĩa quan trọng vì nó phản ánh những câu chuyện thực tế, mang nhiều sắc thái như châm biếm, đả kích, giễu cợt hay vui vẻ. Nó là phương tiện phê phán những mặt xấu của xã hội và khẳng định cái tốt đẹp, giúp thay đổi nhận thức của con người.
Trong "Quan thanh tra" của Gogol, tiếng cười phê phán các thói hư tật xấu qua các nhân vật như Khlét-xa-cốp, thị trưởng, và chánh án. Gogol muốn khán giả tự nhìn nhận và cảnh báo về lối sống trống rỗng. Tác phẩm này giúp khán giả nhận thức về bản thân và tiếng cười hài kịch sống mãi trong lòng độc giả.
Tiếng cười là phản ứng cảm xúc trước các xung đột hài kịch, nhằm vào đối tượng cụ thể với mục đích và ý nghĩa xã hội sâu sắc.
- Sản phẩm 2 : 01 bộ sưu tập các văn bản hài kịch ( 03 bản)
+ Tác phẩm Bệnh sĩ của tác giả Lưu Quang Vũ
+ Tác phẩm Người lái buôn thành Vơ-ni-dơ của nhà văn Shakespeare
+ Tác phẩm Quan thanh tra của nhà văn Gogol.
- Sản phẩm 3: Bộ tranh minh họa một số nhân vật, chi tiết… trong tác phẩm hài kịch
- Sản phẩm 4: 01 clip sân khấu hóa đoạn trích hài kịch Quan thanh tra ( Gô-gôn)
Thuyết trình về kết quả so sánh (trên một số phương diện cơ bản) hai áng văn bất hủ trong lịch sử Việt Nam: Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô) của Nguyễn Trãi và Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh.
I. Mở bài
- Giới thiệu chung:
+ “Bình Ngô đại cáo” và “Tuyên ngôn Độc lập” là hai tác phẩm văn học chính luận tiêu biểu, có giá trị lịch sử và văn học to lớn.
+ Cả hai tác phẩm đều khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và tố cáo tội ác của kẻ thù.
II. Thân bài
- Hoàn cảnh sáng tác:
+ “Bình Ngô đại cáo”: Được viết vào năm 1428, sau khi quân Lam Sơn đánh bại quân Minh, kết thúc 10 năm kháng chiến gian khổ1.
+ “Tuyên ngôn Độc lập”: Được viết vào ngày 2/9/1945, sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chấm dứt ách đô hộ của thực dân Pháp và phát xít Nhật2.
- Thể loại và bố cục:
+ Thể loại: Cả hai tác phẩm đều thuộc thể loại văn chính luận, có bố cục chặt chẽ, lập luận sắc sảo, lý lẽ hùng hồn.
+ Bố cục: Cả hai tác phẩm đều có bố cục ba phần rõ ràng: mở đầu, thân bài và kết luận.
- Nội dung và tư tưởng:
+ Khẳng định chủ quyền:
“Bình Ngô đại cáo”: Khẳng định chủ quyền của Đại Việt, nhấn mạnh sự khác biệt về văn hóa, phong tục giữa Đại Việt và Trung Quốc.
“Tuyên ngôn Độc lập”: Khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, trích dẫn các tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ và Pháp để làm cơ sở pháp lý.
+ Tố cáo tội ác của kẻ thù:
“Bình Ngô đại cáo”: Tố cáo tội ác của quân Minh, từ việc tàn sát dân lành đến việc bóc lột tài nguyên.
“Tuyên ngôn Độc lập”: Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật, từ việc bóc lột kinh tế đến việc tàn sát nhân dân.
+ Tinh thần nhân đạo và lòng yêu nước:
“Bình Ngô đại cáo”: Thể hiện tinh thần nhân nghĩa, lòng yêu nước và ý chí kiên cường của nhân dân Đại Việt.
“Tuyên ngôn Độc lập”: Thể hiện lòng yêu nước, khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam.
- Nghệ thuật:
+ Ngôn ngữ: Cả hai tác phẩm đều sử dụng ngôn ngữ chính luận sắc sảo, giàu hình ảnh và cảm xúc.
+ Biện pháp tu từ: Sử dụng nhiều biện pháp tu từ như lặp cấu trúc, so sánh, đối lập để tăng tính thuyết phục và nhấn mạnh nội dung.
III. Kết bài
- Khẳng định giá trị của hai tác phẩm:
+ “Bình Ngô đại cáo” và “Tuyên ngôn Độc lập” đều là những áng văn bất hủ, có giá trị lịch sử và văn học to lớn.
+ Cả hai tác phẩm đều khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam và tố cáo tội ác của kẻ thù.
- Liên hệ và cảm nhận cá nhân:
+ Hai tác phẩm gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và khát vọng tự do.
+ Từ đó, mỗi người có thể rút ra những bài học quý giá về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.
Mối quan hệ giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ trong thơ Hồ Chí Minh. Lập dàn ý cho bài nói khi tham gia thảo luận về vấn đề trên.
I. Mở bài
Giới thiệu chung:
- Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà cách mạng vĩ đại mà còn là một nhà thơ lớn của dân tộc.
- Thơ của Người thể hiện rõ mối quan hệ giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ, tạo nên sự hòa quyện giữa tinh thần chiến đấu và nghệ thuật.
II. Thân bài
- Hoàn cảnh sáng tác và tư tưởng của Hồ Chí Minh:
+ Hoàn cảnh sáng tác: Thơ của Hồ Chí Minh được sáng tác trong những hoàn cảnh đặc biệt, như khi bị giam cầm trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
+ Tư tưởng: Hồ Chí Minh luôn coi nghệ thuật là một vũ khí đấu tranh, người nghệ sĩ cũng là một chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
- Mối quan hệ giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ trong thơ Hồ Chí Minh:
+ Tinh thần chiến đấu và lòng yêu nước: Thơ của Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường, lòng yêu nước sâu sắc. Ví dụ, trong bài thơ “Ngục trung nhật ký”, Người đã viết về những khó khăn, gian khổ trong nhà tù nhưng vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, yêu đời.
+ Tình yêu thiên nhiên và cuộc sống: Dù trong hoàn cảnh khó khăn, Hồ Chí Minh vẫn luôn tìm thấy vẻ đẹp của thiên nhiên và cuộc sống. Ví dụ, trong bài thơ “Cảnh khuya”, Người đã miêu tả vẻ đẹp của đêm trăng nơi chiến khu Việt Bắc.
+ Sự hòa quyện giữa nghệ thuật và chiến đấu: Thơ của Hồ Chí Minh không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật mà còn là những lời kêu gọi, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân. Ví dụ, bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” thể hiện tinh thần lạc quan, yêu đời và ý chí kiên cường của Người trong hoàn cảnh khó khăn.
- Ý nghĩa và giá trị của mối quan hệ này:
+ Khẳng định vai trò của nghệ thuật trong cuộc đấu tranh cách mạng: Nghệ thuật không chỉ là phương tiện giải trí mà còn là vũ khí đấu tranh, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân.
+ Tạo nên sự hòa quyện giữa tinh thần chiến đấu và nghệ thuật: Mối quan hệ giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ trong thơ Hồ Chí Minh tạo nên sự hòa quyện giữa tinh thần chiến đấu và nghệ thuật, làm cho thơ của Người trở nên đặc biệt và có giá trị lâu bền.
III. Kết bài
- Khẳng định giá trị của thơ Hồ Chí Minh:
+ Thơ của Hồ Chí Minh là sự kết hợp hoàn hảo giữa tinh thần chiến đấu và nghệ thuật, thể hiện rõ mối quan hệ giữa người chiến sĩ và người nghệ sĩ.
+ Những tác phẩm này không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có giá trị lịch sử, góp phần cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân Việt Nam.
- Liên hệ và cảm nhận cá nhân:
+ Thơ của Hồ Chí Minh gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc sâu lắng về lòng yêu nước, tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường.
+ Từ đó, mỗi người có thể rút ra những bài học quý giá về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.
