Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 5: Tiếng cười của hài kịch có đáp án
31 câu hỏi
Đọc và Thực hành tiếng Việt
Đọc lại phần tóm tắt hài kịch Quan thanh tra và văn bản Nhân vật quan trọng trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 132 – 138) và trả lời các câu hỏi:
Các từ ngữ và câu tiếng Pháp có trong lời thoại của An-na An-đrê-ép-na (Anna Andreevna) và Khơ-lét-xta-cốp (Khlestacov) nói lên điều gì về các nhân vật này?
Các từ ngữ và câu tiếng Pháp trong lời thoại của An-na An-đrê-ép-na (Anna Andreevna) và Khơ-lét-xta-cốp (Khlestacov) trong vở kịch “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol thể hiện nhiều khía cạnh về tính cách và địa vị xã hội của họ.
- An-na An-đrê-ép-na (Anna Andreevna)
+ Thể hiện sự quý phái và kiêu kỳ: Việc sử dụng tiếng Pháp trong lời thoại của Anna Andreevna cho thấy bà muốn thể hiện mình là người có học thức và thuộc tầng lớp thượng lưu. Tiếng Pháp, vào thời điểm đó, được coi là ngôn ngữ của giới quý tộc và trí thức.
+ Sự phù phiếm và hời hợt: Anna Andreevna thường sử dụng tiếng Pháp để tạo ấn tượng với người khác, nhưng điều này cũng phản ánh sự phù phiếm và hời hợt trong tính cách của bà. Bà quan tâm nhiều đến vẻ bề ngoài và cách người khác nhìn nhận mình hơn là những giá trị thực sự.
- Khơ-lét-xta-cốp (Khlestacov)
+ Sự giả tạo và lừa đảo: Khơ-lét-xta-cốp sử dụng tiếng Pháp để tạo ra một hình ảnh giả tạo về bản thân, nhằm lừa gạt những người xung quanh. Việc sử dụng tiếng Pháp giúp anh ta tạo ra vẻ ngoài lịch lãm và trí thức, che giấu bản chất thật sự của mình.
+ Tham vọng và cơ hội: Khơ-lét-xta-cốp là một kẻ cơ hội, luôn tìm cách lợi dụng tình huống để đạt được lợi ích cá nhân. Việc sử dụng tiếng Pháp là một phần trong chiến lược của anh ta để tạo ấn tượng và chiếm được lòng tin của những người khác.
Nhìn chung, việc sử dụng tiếng Pháp trong lời thoại của Anna Andreevna và Khơ-lét-xta-cốp không chỉ làm tăng thêm tính hài hước cho vở kịch mà còn giúp khắc họa rõ nét hơn tính cách và động cơ của các nhân vật.
Liệt kê các chi tiết về giới văn chương mà Khơ-lét-xta-cốp nhắc đến trong văn bản và nêu tác dụng gây cười của chúng.
Trong vở kịch “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol, Khơ-lét-xta-cốp (Khlestacov) nhắc đến nhiều chi tiết về giới văn chương nhằm tạo ấn tượng với những người xung quanh. Dưới đây là một số chi tiết nổi bật:
- Khơ-lét-xta-cốp tự nhận mình là nhà văn nổi tiếng: Anh ta khoe khoang rằng mình đã viết nhiều tác phẩm văn học và được biết đến rộng rãi.
- Nhắc đến việc quen biết với các nhà văn nổi tiếng: Khơ-lét-xta-cốp tuyên bố rằng anh ta có mối quan hệ thân thiết với nhiều nhà văn danh tiếng, nhằm tạo ra hình ảnh một người có địa vị cao trong giới văn chương.
- Khoe khoang về việc viết báo: Anh ta nói rằng mình thường xuyên viết bài cho các tờ báo lớn, nhằm tăng thêm uy tín và sự ngưỡng mộ từ người khác.
à Tác dụng gây cười của các chi tiết này:
- Sự phóng đại và giả tạo: Những lời khoe khoang của Khơ-lét-xta-cốp đều là phóng đại và không có thật. Sự giả tạo này tạo nên tình huống hài hước khi người nghe tin tưởng và ngưỡng mộ anh ta một cách mù quáng.
- Sự ngây ngô và thiếu hiểu biết: Khơ-lét-xta-cốp không thực sự hiểu biết về văn chương, nhưng lại cố gắng tỏ ra là người am hiểu. Điều này tạo nên sự mâu thuẫn và hài hước khi anh ta nói những điều vô lý hoặc không chính xác.
- Phản ánh sự lố bịch của xã hội: Những chi tiết này cũng phản ánh sự lố bịch và hời hợt của xã hội, khi mọi người dễ dàng bị lừa bởi vẻ bề ngoài và những lời nói hoa mỹ, mà không thực sự quan tâm đến giá trị thực sự.
Những chi tiết này không chỉ làm tăng tính hài hước cho vở kịch mà còn giúp khắc họa rõ nét hơn tính cách giả tạo và cơ hội của Khơ-lét-xta-cốp.
Có thể coi lời nói của Khơ-lét-xta-cốp (tr. 137 – 138) là lời đối thoại được độc thoại hoá hay không? Tại sao? Xác định ý nghĩa của các biện pháp cường điệu, tương phản, nói quá, nói lỡ được sử dụng trong lời nói đó.
- Có thể coi lời nói của Khơ-lét-xta-cốp (tr. 137 – 138) là lời đối thoại được độc thoại hoá. Chú ý các đặc điểm của độc thoại trong lời đối thoại đó: tính chất một chiều, người nghe không có cơ hội để tham gia và tương tác, người nói dường như đang nói với chính mình nhằm mục đích thuyết phục bản thân.
- Ý nghĩa của các biện pháp cường điệu, tương phản, nói quá, nói lỡ được sử dụng trong lời nói đó:
+ Cường điệu: Khơ-lét-xta-cốp phóng đại về thành tựu và mối quan hệ của mình, tạo nên sự hài hước và lố bịch. Điều này làm nổi bật tính cách khoe khoang và giả tạo của anh ta.
+ Tương phản: Sự tương phản giữa lời nói hoa mỹ của Khơ-lét-xta-cốp và thực tế nghèo nàn của anh ta tạo nên sự mỉa mai và châm biếm, phản ánh sự lố bịch của xã hội và con người trong vở kịch.
+ Nói quá: Khơ-lét-xta-cốp thường xuyên nói quá về khả năng và thành tựu của mình, khiến người nghe cảm thấy buồn cười và khó tin. Điều này làm tăng thêm tính hài hước và sự lố bịch của nhân vật.
+ Nói lỡ: Trong quá trình khoe khoang, Khơ-lét-xta-cốp thường nói lỡ, để lộ những điểm yếu và sự thiếu hiểu biết của mình. Điều này không chỉ làm giảm uy tín của anh ta mà còn tạo nên những tình huống hài hước và bất ngờ.
Những biện pháp tu từ này không chỉ làm tăng tính hài hước cho vở kịch mà còn giúp khắc họa rõ nét hơn tính cách giả tạo và cơ hội của Khơ-lét-xta-cốp, đồng thời phê phán sự lố bịch và hời hợt của xã hội đương thời.
Theo văn bản, tính cách nhân vật thị trưởng đã thể hiện như thế nào qua lời nói, cử chỉ và hành động của y?
Trong vở kịch “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol, tính cách của nhân vật thị trưởng được thể hiện rõ nét qua lời nói, cử chỉ và hành động của ông ta:
- Lời nói
+ Khoe khoang và tự mãn: Thị trưởng thường xuyên khoe khoang về quyền lực và vị trí của mình, thể hiện sự tự mãn và kiêu ngạo. Ông ta luôn muốn chứng tỏ mình là người có quyền lực và được tôn trọng.
+ Giả dối và lươn lẹo: Thị trưởng không ngần ngại nói dối và lươn lẹo để che giấu những sai phạm và thiếu sót của mình. Ông ta sử dụng lời nói để thao túng và lừa dối người khác, nhằm bảo vệ lợi ích cá nhân.
- Cử chỉ
+ Thái độ hống hách: Cử chỉ của thị trưởng thường thể hiện sự hống hách và uy quyền. Ông ta luôn tỏ ra mình là người có quyền lực tối cao và không ai có thể chống lại.
+ Sự lo lắng và bất an: Khi biết tin về quan thanh tra, thị trưởng trở nên lo lắng và bất an. Cử chỉ của ông ta trở nên lúng túng và thiếu tự tin, cho thấy sự sợ hãi trước nguy cơ bị phát hiện và trừng phạt.
- Hành động
+ Lạm dụng quyền lực: Thị trưởng thường xuyên lạm dụng quyền lực để trục lợi cá nhân và đàn áp người dân. Ông ta không ngần ngại sử dụng quyền lực để đạt được mục đích riêng.
+ Tham nhũng và hối lộ: Hành động của thị trưởng thể hiện rõ sự tham nhũng và hối lộ. Ông ta sẵn sàng nhận hối lộ và sử dụng tiền bạc để mua chuộc quan thanh tra, nhằm che giấu những sai phạm của mình.
Những đặc điểm này không chỉ khắc họa rõ nét tính cách tham lam, giả dối và lạm quyền của thị trưởng mà còn tạo nên sự mỉa mai và châm biếm sâu sắc về tình trạng tham nhũng và lạm quyền trong xã hội.
Qua việc đọc văn bản, hãy bình luận về nhận định sau trong SGK: Quan thanh tra không chỉ là vở hài kịch đả kích “tất cả những gì tệ hại của nước Nga” đầu thế kỉ XIX, mà còn khơi dậy nỗi đau về sự tồn tại trống rỗng, phi lí của con người và niềm hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn”
Nhận định này trong SGK về vở kịch “Quan thanh tra” của Nikolai Gogol rất chính xác và sâu sắc. Vở kịch không chỉ là một tác phẩm hài kịch đả kích mạnh mẽ những tệ nạn của xã hội Nga đầu thế kỷ XIX, như tham nhũng, lạm quyền và sự giả dối của giới quan chức, mà còn mang đến những tầng ý nghĩa sâu xa hơn.
- Đả kích xã hội: Gogol đã khéo léo sử dụng tiếng cười để phê phán những thói hư tật xấu của xã hội. Các nhân vật trong vở kịch, từ thị trưởng đến các quan chức địa phương, đều thể hiện sự tham lam, giả dối và lạm quyền. Họ sẵn sàng làm mọi cách để che giấu những sai phạm của mình khi nghe tin về quan thanh tra. Sự hoảng loạn và những hành động lố bịch của họ tạo nên những tình huống hài hước nhưng cũng đầy châm biếm.
- Nỗi đau về sự tồn tại trống rỗng, phi lí: Bên cạnh tiếng cười, vở kịch còn khơi dậy nỗi đau về sự tồn tại trống rỗng và phi lý của con người. Các nhân vật trong vở kịch, dù có quyền lực và địa vị, nhưng cuộc sống của họ lại thiếu đi ý nghĩa và giá trị thực sự. Họ sống trong sự giả dối, lừa lọc và luôn lo sợ bị phát hiện. Điều này phản ánh một thực trạng xã hội nơi con người bị cuốn vào vòng xoáy của tham vọng và sự giả tạo, mất đi những giá trị nhân văn cốt lõi.
- Niềm hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn: Dù vở kịch phê phán mạnh mẽ những tệ nạn xã hội, nhưng nó cũng mang đến niềm hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Qua việc vạch trần những thói hư tật xấu, Gogol mong muốn xã hội nhận ra và thay đổi, hướng tới những giá trị chân thật và nhân văn hơn. Tiếng cười trong vở kịch không chỉ để giải trí mà còn là lời kêu gọi thức tỉnh, để con người sống đúng với giá trị và phẩm giá của mình.
Nhận định này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị và ý nghĩa sâu sắc của vở kịch “Quan thanh tra”, không chỉ là một tác phẩm hài kịch mà còn là một lời phê phán và kêu gọi cải cách xã hội.
Đọc đoạn trích sau trong hài kịch Quan thanh tra (lớp 1, hồi thứ nhất) và trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ NHẤT
Một căn phòng nhà thị trưởng
LỚP 1
(Thị trưởng, quản lí viện tế bần, kiểm học, chánh án, cảnh sát trưởng, thầy thuốc, hai lính cảnh sát)
THỊ TRƯỞNG – Thưa các ngài, tôi mời các ngài đến để báo một tin hết sức không vui. Có quan thanh tra đến chỗ chúng ta.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH (AMMOS PHIODOROVITR) – Thế nào! Quan thanh tra à?
ÁC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH (ARTEMI PHILIPPOVITR) – Thế nào! Quan thanh tra à?
THỊ TRƯỞNG – Quan thanh tra ở Pê-téc-bua (Peterburg) đến, một cách bí mật, lại mang theo mật lệnh.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Thế mới chết!
ÁC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH – Thật là đang yên đang lành bỗng sinh chuyện thế đấy! LU-CA LU-KÍCH (LUKA LUKITR) – Lại mang theo cả mật lệnh kia ư, hở trời!
THỊ TRƯỞNG – Hình như tôi đã cảm thấy việc đó từ trước: suốt đêm qua, tôi nằm mơ thấy hai con chuột cống kì quái. Thật tôi chưa hề thấy loại chuột nào như thế bao giờ: nó đen mà to lớn lạ thường! Chúng bò tới, đánh hơi, rồi biến mất. Đây, tôi đọc cho các ngài nghe bức thư này của An-đrây I-va-nô-vích Tchi-mu-khốp (Andrei Ivanovitr Trmukhov) gửi cho tôi; ông Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích, ông biết lão ta chứ gì! Lão ta viết thế này: “Bạn thân mến, bạn cánh hẩu và ân nhân” (lẩm bẩm, đưa mắt đọc lướt bức thư)... “và báo cho đằng ấy biết.” À! Đây. “Mình cấp tốc báo thêm cho đằng ấy biết là có một viên quan đã tới; ông ta có lệnh phải xem xét toàn tỉnh và đặc biệt là quận nhà (giơ ngón tay lên một cách có ý nghĩa). Mình đã biết việc này từ những người đáng tin nhất, mặc dù ông ta giả làm thường dân. Theo như mình biết, đằng ấy cũng như mọi người, thường hay phạm lỗi vặt, vì đằng ấy là người thông minh, không ưa bỏ qua những món lọt đến tay...” (ngừng lại), không sao, ở đây là cánh ta cả... “cho nên mình khuyên đằng ấy nên hết sức đề phòng, bởi vì ông ta có thể đến bất cứ lúc nào, nếu không phải là đã đến rồi, lẩn quất ở đâu một cách bí mật... Hôm qua, mình...” Hừ, đoạn này là việc gia đình: “Em gái mình, An-na Ki-ri-lốp-na (Anna Kirllovna) cùng chồng nó đã đến thăm chúng mình; I-van Ki-ri-lô-vích (Ivan Kirillovitr) béo ra nhiều lắm và vẫn chơi vi-ô-lông như thường v.v... Đấy, tình hình như thế đấy.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Phải, tình hình như vậy... thật là không bình thường, rất không bình thường. Không dưng sao lại có chuyện được.
LU-CA LU-KÍCH – Sao lại có chuyện ấy nhỉ, ông An-tôn An-tô-nô-vích (Anton Antonovitr)? Quan thanh tra đến vùng ta làm quái gì nhỉ?
THỊ TRƯỞNG – Còn sao nữa! Rõ ràng là số kiếp xui khiến ra như vậy! (Thở dài). Từ trước tới nay, ơn nhờ Bề trên, họ mò đến các thành phố khác. Bây giờ đến lượt vùng chúng ta đây.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Ông An-tôn An-tô-nô-vích, tôi nghĩ rằng việc này có nguyên nhân gì lắt léo, hơn nữa, nguyên nhân chính trị đây. Như thế nghĩa là: nước Nga... phải... nước Nga muốn tiến hành chiến tranh; và trên Bộ, các ngài thấy đấy, cử một vị quan đến điều tra xem có vụ phản bội nào không.
THỊ TRƯỞNG – Hừ, sao lại nghĩ xa xôi như thế! Thế mà cũng là con người thông minh! Trong một thành phố ở quận như thế này mà lại xảy ra vụ phản bội! Làm như đây là một thị trấn ở biên giới không bằng! Từ ở đây, dù có phốc lên ngựa mà phi đến ba năm cũng chưa tới một nước ngoài nào cả.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Không, tôi nói rằng, về việc đó ông không... Ông không... Quan trên có con mắt sáng suốt tinh vi: dù là nơi xa xôi, quan trên cũng phải để tâm tới chứ.
THỊ TRƯỞNG - Để tâm hay chẳng để tâm, không biết; nhưng thưa các ngài, thì đó báo trước cho các ngài biết tin rồi. Coi chừng đấy, các ngài ạ! Về phần tôi, tôi đã xếp đặt một số việc, tôi cũng khuyên các ngài nên làm như vậy. Nhất là ông, ông Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích! Không còn nghi ngờ gì nữa, quan thanh tra qua đây sẽ muốn xem gh trước tiên các nhà tế bần do ông quản lí; vì vậy, ông phải làm thế nào cho mọi cái đề được lịch sự dễ coi: mũ vải của bệnh nhân phải sạch sẽ, bệnh nhân không được ăn mặc nhem nhuốc như thợ rèn ấy, như chúng thường ăn mặc ở nhà.
ÁC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH – Được, vấn đề đó cũng không đáng ngại lắm! Được có thể kiếm mũ vải cho họ đội, mũ sạch,
(Ni-cô-lai Gô-gôn (Nikolai Gogol), Quan thanh tra, Vũ Đức Phúc dịch NXB Lao động – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2009, tr. 9-1)
Dựa vào nội dung tóm tắt tác phẩm trong SGK, hãy cho biết đoạn trích nặn ở phần nào của vở kịch.
Đọc lại phần tóm tắt vở kịch trong SGK để xác định vị trí của đoạn trích (là phần mở đầu của vở kịch, thuộc lớp 1, hồi thứ nhất), nói về sự kiện thị trưởng thị trấn gọi quản lí viện tế bần, kiểm học, chánh án, cảnh sát trưởng, thầy thuốc, hai lính cảnh sát đến nhà để thông báo về việc nhận được một lá thư từ một người tâm phúc, mật báo là có một quan thanh tra ở Pê-téc-bua đến thị trấn một cách bí mật, mang theo mật lệnh.
Miêu tả tình huống kịch trong đoạn trích. Trong tình huống đó, các nhân vật đã thể hiện thái độ (qua lời đối thoại, cử chỉ, hành động) ra sao? Thái độ đó cho chúng ta biết những gì về tính cách các nhân vật?
- Tình huống: tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tính đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người
- Các nhân vật: thái độ kinh ngạc, sợ hãi, muốn che đậy sự thật, muốn đối phó với quan thanh tra.
Xác định các thủ pháp trào phúng được sử dụng trong đoạn trích. Lựa chọn phân tích một trong các thủ pháp đó.
- Các thủ pháp: phóng đại sự kinh ngạc, sợ hãi, tạo tương phản gây cười giữa danh vị với thực tế hành xử của các nhân vật, sử dụng ngôn từ hài kịch như cường điệu, lặp, nói bóng gió, nói quá, nói lỡ,..
- Phân tích thủ pháp phóng đại: Các nhân vật trong vở kịch, đặc biệt là thị trưởng và các quan chức địa phương, được miêu tả với những tính cách cực đoan như tham lam, giả dối, và lạm quyền. Sự phóng đại này làm nổi bật sự lố bịch và đáng cười của họ, đồng thời phê phán mạnh mẽ những thói hư tật xấu trong xã hội.
Phân tích ngôn từ hài kịch trong lời thoại của nhân vật thị trưởng (“Hình như tôi... như thế đấy”).
Ngôn từ hài kịch trong lời thoại của nhân vật thị trưởng (“Hình như tôi….như thế đấy”) có thể được phân tích dựa trên các ý đã được nêu trong phần Tri thức ngữ văn của SGK, cụ thể là cường điệu, tương phản, lặp, nhại, nói bóng gió, nói quá, nói lỡ. Cần chú ý hai điểm sau khi phân tích: thứ nhất, đây là một lời đối thoại l dài, mang tính chất của một lời độc thoại; thứ hai, các chỉ dẫn về cách nói, cử chỉ của nhân vật đan xen với lời thoại trong kịch bản có thể giúp chúng ta tưởng tượng ra hình ảnh sống động của nhân vật trên sân khấu và hình dung rõ hơn tính chất gây cười của lời thoại.
Theo Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 130), “Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng cá nhân và các khả năng thực hiện,... tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí”. Sự “vênh lệch, không tương thích” này đã được thể hiện trong đoạn trích như thế nào?
Đây là câu hỏi có tính khái quát, giúp người học nhận ra “cái hài” trong đoạn trích này nói riêng và hài kịch nói chung. Để thấy được sự thể hiện của “sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng cá nhân và các khả năng thực hiện,... tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí” trong đoạn trích, cần nhìn lại các vấn đề đã được đề cập trong các câu hỏi trước: tình huống hài kịch, nhân vật hài kịch, thủ pháp trào phúng và ngôn từ hài kịch.
Bài tập 3. Đọc lại phần tóm tắt hài kịch Quẫn và văn bản Giấu của trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 140 – 145) và trả lời các câu hỏi:
Hãy cho biết vị trí của đoạn trích (văn bản Giấu của) trong kết cấu vở kịch.
Vị trí: Ở phần mở đầu của vở kịch, cụ thể là Cảnh vào trò. vàng sau mấy bức ảnh trong phòng khách – một trong những cách che giấu và tẩu tán khối gia sản của gia đình trước khi chuyển xưởng dệt của gia đình thành xưởng dệt công tư hợp doanh. Như vậy, đoạn trích mở ra tình huống kịch, đồng thời giới thiệu hai nhân vật chính của vở kịch là ông Đại Cát và bà Đại Cát.
Phân tích ý nghĩa của nhan đề Quẫn.
Tên của vở kịch Quẫn thể hiện tâm lí bất ổn, bế tắc của hai nhân vật chính trong suốt vở kịch, trạng thái này chỉ kết thúc khi ông Đại Cát thừa nhận “Mình quẫn thật!” trước khi màn hạ ở hồi cuối cùng của vở kịch.“Quẫn” là trạng thái tâm lí có tính điển hình ở một bộ phận các nhà tư sản thời kì đó.
Dựa vào tri thức ngữ văn đã học về hành động trong hài kịch và kết cấu hài kịch, hãy tìm trong đoạn trích các dẫn chứng cho thấy các nhân vật hài kịch đã hiện ra “với thói tật và những toan tính, mưu mô, ảo tưởng của họ.”
Trong vở hài kịch “Quẫn” của Lộng Chương, các nhân vật được khắc họa rõ nét qua hành động, lời nói và tình huống, thể hiện thói tật, toan tính, mưu mô và ảo tưởng của họ. Dưới đây là một số dẫn chứng cụ thể:
- Hành động
+ Ông Bổng: Ông Bổng luôn tìm cách giữ lại tài sản của mình bằng mọi giá, ngay cả khi phải giả vờ nghèo khổ. Hành động này thể hiện sự tham lam và sợ mất mát, đồng thời cũng là một mưu mô để tránh bị đánh thuế hoặc bị người khác lợi dụng.
+ Bà Bổng: Bà Bổng thường xuyên lo lắng và tìm cách bảo vệ tài sản của gia đình. Hành động của bà thể hiện sự lo xa và tính toán kỹ lưỡng, nhưng cũng phản ánh sự ảo tưởng về việc có thể kiểm soát mọi thứ.
- Lời nói
+ Ông Bổng: Ông thường xuyên nói về việc phải tiết kiệm và giữ gìn tài sản, nhưng thực chất lại rất sợ mất mát. Lời nói của ông thể hiện sự mâu thuẫn giữa mong muốn và thực tế, đồng thời cũng là một cách để che giấu sự tham lam.
+ Bà Bổng: Bà thường xuyên nhắc nhở chồng về việc phải cẩn thận và không để lộ tài sản. Lời nói của bà thể hiện sự lo lắng và tính toán, nhưng cũng phản ánh sự ảo tưởng về khả năng kiểm soát tình hình.
- Tình huống
+ Cảnh giả vờ nghèo khổ: Gia đình ông Bổng giả vờ nghèo khổ để tránh bị đánh thuế và bị người khác lợi dụng. Tình huống này không chỉ gây cười mà còn phê phán sự giả dối và mưu mô của con người.
+ Cảnh tranh cãi về tài sản: Các thành viên trong gia đình thường xuyên tranh cãi về việc phân chia tài sản, thể hiện sự tham lam và ích kỷ. Tình huống này phản ánh rõ nét thói tật và toan tính của các nhân vật.
Những dẫn chứng này cho thấy các nhân vật trong vở “Quẫn” hiện ra với đầy đủ thói tật, toan tính, mưu mô và ảo tưởng của họ. Hài kịch của Lộng Chương không chỉ mang lại tiếng cười mà còn phê phán sâu sắc những tệ nạn xã hội và con người.
Phần Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 130) đã liệt kê một mỉa mai một số tiếng cười hài kịch như: tiếng cười bông đùa, hài hước; tiếng cười châm biếm, tiếng cười lật tẩy, tố cáo, đả kích;... Theo bạn, tiếng cười được thể hiện trong đoạn trích thuộc loại nào? Tại sao?
Trong đoạn trích từ vở kịch “Quẫn” của Lộng Chương, tiếng cười được thể hiện chủ yếu thuộc loại tiếng cười châm biếm, lật tẩy, tố cáo, đả kích. Dưới đây là lý do:
- Tiếng cười châm biếm: Châm biếm thói tham lam và giả dối: Các nhân vật trong vở kịch, đặc biệt là ông Bổng và bà Bổng, được khắc họa với những tính cách tham lam, giả dối và toan tính. Tiếng cười châm biếm ở đây nhằm phê phán những thói xấu này, làm nổi bật sự lố bịch và đáng cười của họ.
- Tiếng cười lật tẩy: Lật tẩy sự giả tạo: Hành động giả vờ nghèo khổ của gia đình ông Bổng để tránh bị đánh thuế và bị người khác lợi dụng là một tình huống điển hình. Tiếng cười lật tẩy ở đây nhằm vạch trần sự giả tạo và mưu mô của các nhân vật, khiến người xem nhận ra sự thật đằng sau vẻ bề ngoài.
- Tiếng cười tố cáo, đả kích: Tố cáo sự tham nhũng và lạm quyền: Vở kịch không chỉ dừng lại ở việc châm biếm cá nhân mà còn tố cáo những vấn đề xã hội rộng lớn hơn như tham nhũng và lạm quyền. Tiếng cười đả kích ở đây nhằm phê phán mạnh mẽ những tệ nạn này, kêu gọi sự thay đổi và cải cách.
Đọc đoạn trích sau trong hài kịch Quẫn (Hồi năm) và trả lời các câu hỏi:
ÔNG ĐẠI CÁT – Dứt khoát. Thôi đủ rồi... Mời ông bước!
BA LƯỜNG – Nhìn chéo. Trinh Hì... dạ bước a!
Phất tay ra hiệu cho hai người khiêng áo quan.
Ta khiêng đi thôi, hai bác. Cỗ áo quan được khiêng đi.
CỤ ĐẠI LỢI – Vội bước theo ngăn lại. Với Ba Lường. Khiêng đi đâu? Các người khiêng đi đâu? Quay vào doạ bố con ông Đại Cát. Bố con anh báo hiếu tôi như thế đấy phỏng? Lại quay ra Ba Lường. Ông Ba, cỗ hậu sự của tôi, của tôi... tôi nhận... Tôi đưa gửi lên chùa ngay bây giờ. Hấp tấp chạy theo cỗ áo quan.
[...]
THUỶ TRINH – Tiến lại bố. Có thế này con chắc cậu mới thấy, nên đi theo con đường nào, có phải không ạ?
ÔNG ĐẠI CÁT – Nhìn Trinh, rồi nhìn Hùng. Cậu hiểu rồi... Đứng lên, vỗ vai Hùng. Đúng là phải cải tạo thật... phải cải tạo tất, anh ạ...
HÙNG – Nhìn nhanh Trinh, cười với ông Đại Cát. Để con lái xe đưa cậu mợ lên chơi bác Tứ Hải. Cậu mợ sẽ thấy bác Tứ Hải được giúp đỡ và cải tạo như thế nào.
ÔNG ĐẠI CÁT – Ồ... phải phải... Nói với vợ, từ nãy vẫn lúng túng với gói vàng. Ta đi lên tham quan trên bác Tứ Hải chứ mợ!
BÀ ĐẠI CÁT – Choáng choàng. Ấy, để tôi cất cái này đi đã! Định vào.
ÔNG ĐẠI CÁT – Này... này mợ... Còn phải cất đi đâu nữa. Cứ giao cho con...
THUỶ TRINH – Sao lại giao cho con?
ÔNG ĐẠI CÁT – Ồ, thì tương lai là của các anh các chị tất chứ sao!
THUỶ TRINH – Nhìn Hùng tủm tỉm. Thưa cậu, tương lai là của chúng con. Nhưng tương lai chúng con lại không cần đến cái thứ vàng này!
ÔNG ĐẠI CÁT – Ờ... ờ phải. Đúng rồi! Tương lai các cô các cậu thì cần gì đến vàng thật... Với vợ. Đúng là tương lai các con chúng nó không cần đến vàng... Đúng là như thế... Mình quẫn thật! Cười hề hề với vợ.
Hùng Trinh nhìn nhau. Trong khi đó u Trinh đi mở toang các cánh cửa phòng. Ánh sáng trời ùa vào chỗ Hùng – Trinh đứng. U Trinh hồ hởi tiến lại, kéo hai người sát vào nhau, sung sướng cười nheo nheo cặp mắt.
Màn hạ hết trò.
(Nhiều tác giả, Nhà hoạt động sân khấu Lộng Chương – Sống để cho đi!,
NXB Sân khấu, Hà Nội, 2021, tr. 86 – 88)
Dựa vào nội dung tóm tắt tác phẩm trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 145), hãy xác định vị trí của đoạn trích trong vở kịch.
Vị trí: Màn hạ hết trò. Cụ thể, Thuý Trinh và Hùng đã thuyết phục được ông bà Đại Cát từ bỏ việc che giấu và tẩu tán của cải, ông bà Đại Cát nhận ra - mình đã “quẫn”.
Dựa vào các kiến thức đã học về nhân vật hài kịch, hãy chia các nhân vật trong đoạn trích thành các nhóm và lí giải sự phân chia của bạn.
Chia nhân vật: Nhân vật chính và nhân vật phụ
Phân loại dựa trên cơ sở những gì đã được đọc về nhân vật, nội dung tóm tắt vở kịch và nội dung đoạn trích.
Phân tích tính chất gây cười của chi tiết cái áo quan của cụ Đại Lợi.
Chi tiết này xuất hiện ở ngay đầu đoạn trích. Cỗ áo quan mà nhân vật Ba Lường mang đến nhà ông bà Đại Cát vốn được ông bà Đại Cát đặt làm để dành lo việc hậu sự cho cụ Đại Lợi. Đây là một trong các hành động nhằm tẩu tán gia tài của họ. Khi Thuý Trinh và Hùng thuyết phục được ông bà Đại Cát dừng việc che giấu và tẩu tán tài sản lại, Ba Lường phải rời đi cùng với cỗ áo quan. Cụ Đại Lợi thấy vậy đã vội vã chạy theo xin nhận cỗ hậu sự của chính mình để gửi lên chùa, đồng thời mắng bố con ông Đại Cát là không có hiếu.
Sau khi miêu tả, HS dựa vào các tri thức đã học để xác định chi tiết cỗ áo quan xuất hiện trong một tình huống trớ trêu mang tính gây cười, đồng thời cũng là một tình huống có tính ẩn dụ. Nhân vật cụ Đại Lợi và hình ảnh cỗ áo quan đại diện cho quá khứ, cho cái lạc hậu, cái quá thời. Hành động cụ Đại Lợi chạy theo cổ áo quan đi ra khỏi sân khấu cho thấy cái quá khứ, lạc hậu, quá thời đó được tống tiễn đi bằng tiếng cười. Đó cũng chính là bản chất của hài kịch.
Hùng Trinh nhìn nhau. Trong khi đó u Trinh đi mở toang các cánh cửa phòng Ánh sáng trời ùa vào chỗ Hùng – Trinh đứng. U Trinh hồ hởi tiến lại, kéo hai người sát vào nhau, sung sướng cười nheo nheo cặp mắt.
Theo bạn, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đoạn này?
Thông điệp:
- Sự đoàn kết và tình yêu thương gia đình: Hình ảnh u Trinh kéo Hùng và Trinh sát vào nhau, cùng với nụ cười sung sướng, thể hiện sự đoàn kết và tình yêu thương trong gia đình. Ánh sáng trời ùa vào cũng có thể tượng trưng cho hy vọng và sự ấm áp mà gia đình mang lại.
- Sự giải thoát và hy vọng: Việc mở toang các cánh cửa phòng để ánh sáng ùa vào có thể được hiểu như một hành động giải thoát khỏi sự u ám, lo lắng. Ánh sáng trời tượng trưng cho hy vọng, sự tươi mới và những điều tốt đẹp đang đến.
- Niềm vui và sự lạc quan: Nụ cười của u Trinh và hành động kéo hai người sát vào nhau thể hiện niềm vui và sự lạc quan. Dù có những khó khăn, nhưng tình cảm gia đình và sự lạc quan sẽ giúp vượt qua tất cả.
Thông qua đoạn trích trên, hãy chứng minh nhận định: “Xung đột trong hài kịch dù căng thẳng đến mấy, cũng luôn có khả năng được giải quyết theo hướng cái xấu, cái không hoàn thiện bị phủ nhận, cái tốt đẹp, tiến bộ được khẳng định (SGK Ngữ văn 12, tập một, tr. 131).
Đoạn trích từ vở kịch “Quẫn” của Lộng Chương minh họa rõ ràng cho nhận định rằng xung đột trong hài kịch, dù căng thẳng đến mấy, cũng luôn có khả năng được giải quyết theo hướng cái xấu, cái không hoàn thiện bị phủ nhận, cái tốt đẹp, tiến bộ được khẳng định.
- Xung đột và căng thẳng: Trong đoạn trích, Hùng và Trinh đang ở trong một tình huống căng thẳng, có thể là do những lo lắng về tài sản và tương lai. Sự căng thẳng này là đặc trưng của xung đột trong hài kịch, nơi các nhân vật thường phải đối mặt với những tình huống khó khăn và phức tạp.
- Giải quyết xung đột: Hành động của u Trinh mở toang các cánh cửa phòng để ánh sáng ùa vào biểu tượng cho sự giải thoát và hy vọng. Ánh sáng trời tượng trưng cho sự tươi mới, sự thật và những điều tốt đẹp. Điều này cho thấy rằng, dù xung đột có căng thẳng đến đâu, nó vẫn có thể được giải quyết theo hướng tích cực.
- Phủ nhận cái xấu, khẳng định cái tốt đẹp: Nụ cười sung sướng của u Trinh và hành động kéo Hùng và Trinh sát vào nhau thể hiện sự đoàn kết và tình yêu thương gia đình. Đây là những giá trị tốt đẹp và tiến bộ được khẳng định trong đoạn trích. Ngược lại, những lo lắng và căng thẳng trước đó bị phủ nhận và thay thế bằng niềm vui và hy vọng.
Đọc lại phần tóm tắt vở kịch Thợ cạo thành Xê-vin (Séville) và văn bản Cẩn thận hão trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 153 – 157) và trả lời các câu hỏi:
Theo bạn, nội dung của văn bản có phù hợp với nhận định về “kết cấu có hậu, vui vẻ” của hài kịch trong phần Tri thức ngữ văn hay không? Vì sao?
Vở kịch “Thợ cạo thành Xê-vin” (Séville) của Beaumarchais và đoạn trích “Cẩn thận hão” trong SGK Ngữ văn 12, tập một, đều thể hiện rõ nét đặc trưng của hài kịch với kết cấu có hậu và vui vẻ.
- Kết cấu có hậu:
+ Thợ cạo thành Xê-vin: Vở kịch kể về Bá tước Almaviva và cô gái Rosina, người bị giam giữ bởi bác sĩ Bartolo. Với sự giúp đỡ của thợ cạo Figaro, Almaviva đã thành công trong việc giải cứu Rosina và kết hôn với cô. Kết thúc này mang lại niềm vui và hạnh phúc cho các nhân vật chính, đồng thời giải quyết mọi xung đột một cách tích cực1.
+ Cẩn thận hão: Đoạn trích này cũng thể hiện sự hài hước và kết thúc có hậu khi những mưu mẹo và kế hoạch của các nhân vật đều dẫn đến những tình huống hài hước và cuối cùng là sự giải quyết tích cực2.
- Vui vẻ:
+ Thợ cạo thành Xê-vin: Vở kịch chứa đựng nhiều tình huống hài hước, từ những mưu mẹo của Figaro đến những tình huống dở khóc dở cười của bác sĩ Bartolo. Những yếu tố này không chỉ mang lại tiếng cười mà còn tạo nên không khí vui vẻ và lạc quan cho vở kịch.
+ Cẩn thận hão: Đoạn trích này cũng chứa đựng nhiều yếu tố hài hước, từ những tình huống hiểu lầm đến những kế hoạch không thành công của các nhân vật. Sự hài hước này giúp làm giảm bớt căng thẳng và mang lại niềm vui cho người đọc
Xác định tình huống gây cười trong văn bản Cẩn thận hão.
Tình huống gây cười trong văn bản Cẩn thận hão vừa là loại “tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những ảo tưởng, toan tính đờ thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người”, vừa là “tình huống hiểu lầm, trớ trêu, dở khóc dở cười, song không bi đát và luôn có thể được giải quyết tốt đẹp”. Trong quá trình miêu tả tình huống, chú ý đến sự đảo ngược tình thế trong đoạn trích – đây cũng là một trong những điều thường xuất hiện trong hài kịch.
Phân tích một trong các thủ pháp trào phúng được sử dụng trong văn bản.
Thủ pháp châm biếm và chỉ trích: hủ pháp phóng đại giúp làm nổi bật những điểm yếu và sự lố bịch của các nhân vật, từ đó châm biếm và chỉ trích những thói hư tật xấu trong xã hội. Ví dụ, một nhân vật có thể được miêu tả với những đặc điểm quá mức, như tham lam, ngu ngốc hoặc tự cao, để làm rõ sự lố bịch của họ.
Theo bạn, nhân vật Bác-tô-lô (Bartholo) đáng cười ở những điểm nào?
- Bác-tô-lô thuộc nhóm nhân vật chính trong vở kịch, cụ thể là “nhân vật tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán”, nhân vật “có cách ứng xử không phù hợp với hoàn cảnh thực tế”.
- Bác-tô-lô là bác sĩ và người đỡ đầu cho cô gái quý tộc xinh đẹp, mồ côi Rô-din (Rosine), nhưng lại hám lợi, bất chấp lẽ phải và luân thường đạo lí, lợi dụng việc đỡ đầu để giam lỏng cô, âm mưu lấy cô làm vợ nhằm thừa kế tài sản. Trong đoạn trích, ông ta bày mưu tính kế để kết hôn với Rô-din ngày hôm đó, song nhờ sự mưu trí của Phi-ga-rô, tình thế bị đảo ngược, Rô-din và người yêu là An-ma-vi-va (Almaviva) đã làm lễ cưới. Khi nhân vật này nhận ra mình đã bị “lừa gạt” cũng là lúc những toan tính, ảo tưởng đáng cười bị sụp đổ.
Trong văn bản, lí giải nguyên nhân của sự đảo ngược tình thế, Bác-tô-lô cho rằng đó là vì “thiếu cẩn mật”, còn Phi-ga-rô (Figaro) lại cho rằng đó là vì “thiếu lương tri”. Việc tác giả làm rõ sự khác nhau trong hành động lí giải này có thể đưa đến thông điệp gì?
Việc tác giả làm rõ sự khác nhau trong hành động lí giải của Bác-tô-lô và Phi-ga-rô có thể đưa đến một số thông điệp quan trọng:
- Sự khác biệt trong cách nhìn nhận vấn đề:
+ Bác-tô-lô cho rằng nguyên nhân của sự đảo ngược tình thế là do “thiếu cẩn mật”. Điều này phản ánh cách nhìn nhận vấn đề của ông ta, tập trung vào các biện pháp phòng ngừa và sự cẩn thận trong hành động. Bác-tô-lô đại diện cho những người luôn lo lắng về việc bảo vệ tài sản và quyền lợi của mình, nhưng lại thiếu sự linh hoạt và sáng suốt.
+ Phi-ga-rô lại cho rằng nguyên nhân là do “thiếu lương tri”. Điều này thể hiện cách nhìn nhận vấn đề của Phi-ga-rô, tập trung vào đạo đức và lương tri. Phi-ga-rô đại diện cho những người có tư duy sáng suốt, biết phân biệt đúng sai và hành động theo lương tri.
- Phê phán và châm biếm:
+ Tác giả sử dụng sự khác biệt này để phê phán và châm biếm những người như Bác-tô-lô, những người chỉ biết lo lắng về sự an toàn và lợi ích cá nhân mà không quan tâm đến đạo đức và lương tri. Điều này cho thấy sự hạn chế và lố bịch của họ.
+ Ngược lại, tác giả khẳng định giá trị của lương tri và đạo đức thông qua nhân vật Phi-ga-rô. Sự thông minh và lương tri của Phi-ga-rô giúp anh ta vượt qua mọi khó khăn và đạt được mục tiêu.
- Thông điệp về giá trị đạo đức: Tác giả muốn gửi gắm thông điệp rằng, trong cuộc sống, sự cẩn thận và phòng ngừa là cần thiết, nhưng quan trọng hơn cả là lương tri và đạo đức. Chỉ khi hành động theo lương tri và đạo đức, con người mới có thể đạt được những kết quả tốt đẹp và bền vững.
Bình luận câu nói của nhân vật Phi-ga-rô ở cuối đoạn trích: “khi tuổi trẻ và tình yêu đồng tình để lừa gạt một ông già, thì tất cả những việc ông ta làm để ngăn ngừa, đều có thể gọi tên rất chí lí là Cẩn thận hão.”.
- Sự đối lập giữa tuổi trẻ và tuổi già: Phi-ga-rô nhấn mạnh sự đối lập giữa tuổi trẻ và tuổi già. Tuổi trẻ thường được liên kết với sự năng động, sáng tạo và tình yêu mãnh liệt, trong khi tuổi già thường gắn liền với sự bảo thủ, lo lắng và cẩn thận quá mức. Câu nói này cho thấy rằng, khi tuổi trẻ và tình yêu kết hợp, chúng có thể vượt qua mọi rào cản và sự ngăn ngừa của tuổi già.
- Sự châm biếm và hài hước: Câu nói của Phi-ga-rô chứa đựng sự châm biếm và hài hước. Ông ta gọi những nỗ lực ngăn ngừa của ông già là “cẩn thận hão”, tức là sự cẩn thận vô ích. Điều này không chỉ làm nổi bật sự lố bịch của những nỗ lực này mà còn mang lại tiếng cười cho người đọc.
- Thông điệp về sức mạnh của tình yêu và tuổi trẻ: Câu nói này cũng gửi gắm thông điệp về sức mạnh của tình yêu và tuổi trẻ. Tình yêu và tuổi trẻ có thể vượt qua mọi khó khăn và trở ngại, kể cả những nỗ lực ngăn ngừa của những người lớn tuổi. Đây là một thông điệp lạc quan và tích cực, khẳng định giá trị của tình yêu và sự năng động của tuổi trẻ.
- Phê phán sự bảo thủ và lo lắng quá mức: Phi-ga-rô cũng phê phán sự bảo thủ và lo lắng quá mức của những người lớn tuổi. Ông ta cho rằng những nỗ lực ngăn ngừa này không chỉ vô ích mà còn làm mất đi niềm vui và sự tự do của tuổi trẻ. Điều này khuyến khích người đọc suy nghĩ về sự cân bằng giữa sự cẩn thận và sự tự do, giữa bảo thủ và tiến bộ.
Như vậy, câu nói của Phi-ga-rô không chỉ mang lại tiếng cười mà còn chứa đựng nhiều thông điệp sâu sắc về tình yêu, tuổi trẻ và sự bảo thủ. Nó phản ánh tinh thần của hài kịch và tư tưởng của tác giả, đồng thời khẳng định giá trị của những điều tốt đẹp và tiến bộ.
Viết
Lựa chọn một trong các đề tài được gợi ý trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 150), mục Thực hành viết hoặc tìm một đề tài mới và đặt câu hỏi nghiên cứu cho đề tài đó.
Đề tài Sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ sau đây. Đề tài này chính là một trong các đề tài được gợi ý trong SGK với một số điều chỉnh nhỏ.
What | Chủ nghĩa tối giản là gì? Phong cách sống là gì? |
Who | Người trẻ là những người trong độ tuổi nào? |
When | Thời điểm chủ nghĩa tối giản bắt đầu lan toả là khi nào? Quá trình lan toả của nó ra sao? |
Where | Sự lan toả của chủ nghĩa tối giản thường được nhìn thấy ở các quốc gia và khu vực nào? |
Why | Tại sao chủ nghĩa tối giản lại có sức lan toả trong phong cách sống của người trẻ? |
How | Sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ được thể hiện trên các phương diện nào? |
Tiến hành thu thập, phân tích và đánh giá thông tin về đề tài đã lựa chọn ở bài tập 1.
Với đề tài Sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ, có thể tìm kiếm:
– Các công trình, bài viết về chủ nghĩa tối giản, cuộc sống xã hội, về các nhóm dân cư trong các giai đoạn khác nhau.
– Các nguồn tổng hợp tin tức về trào lưu sống thịnh hành.
Từ những hoạt động của bài tập 1, 2, hãy viết đề cương nghiên cứu cho đề tài.
1. Đặt vấn đề
Có thể lựa chọn một trong các hướng sau để đặt vấn đề:
– Một vài ví dụ nổi bật về sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ.
– Sức ảnh hưởng của chủ nghĩa tối giản như một triết lí sống trong xã hội hiện đại.
– Những thay đổi trong phong cách sống của người trẻ hiện nay.
2. Giải quyết vấn đề
Không có hướng triển khai nào là duy nhất và đúng nhất cho đề tài này. Hướng dưới đây có thể coi là một gợi ý:
2.1. Quan niệm của bạn về chủ nghĩa tối giản, phong cách sống, người trẻ.
2.2. Thực tế sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ.
2.3. Lí giải sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ. Cần thu thập thông tin từ các nguồn đã xác định trong bài tập 2, rồi tiến hành thống kê, phân loại, tổng hợp, đánh giá,.. Với mục 2.1, trên cơ sở các thông tin có được, HS đưa ra cách hiểu mà mình sẽ sử dụng trong bài báo cáo nghiên cứu. Mục 2.2 có thể được chia thành các mục nhỏ hơn theo hai hướng: sự lan toả trên các phương diện khác nhau của phong cách sống; sự lan toả theo chiều thời gian. Mục 2.3 có thể triển khai theo các nguyên nhân xã hội, kinh tế, văn hoá,...
3. Kết luận
Cũng như với phần Đặt vấn đề, có thể viết phần Kết luận theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn:
- Tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra một số nhận định khái quát về đề tài.
- Tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra một số câu hỏi mở xung quanh đề tài.
Từ những hoạt động của các bài tập trên, hãy lựa chọn một luận điểm, viết, chỉnh sửa và hoàn thiện luận điểm đó.
Sống đơn giản là lắng nghe tiếng nói của lòng mình, xác định điều thật sự cần thiết và sống một cuộc sống theo đúng bản thân, không bắt chước người khác hay sống theo yêu cầu của họ. Để sống đơn giản, cần sự sáng tạo và lòng quyết tâm, hòa mình vào cuộc sống để cảm nhận. Trước khi mua một căn nhà, cân nhắc lợi và hại, hiểu rõ rằng mọi lựa chơi chơi xổ sốu đi kèm với những mặt trái. Có một căn nhà đẹp sẽ mang lại thoải mái và lời khen, nhưng để chi trả cho nó, phải làm việc cật lực và có thể phải từ bỏ một số thứ khác trong cuộc sống. Đối mặt với những thách thức và nỗi lo âu, người ta thường trở nên tham lam và mất đi tâm hồn. Sống đơn giản giúp chúng ta sống sâu sắc hơn, quan tâm đến nhau hơn, và thiết lập mối quan hệ thân thiết với con người và môi trường. Sự giản dị không chỉ giúp đạt được những nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở, và đi lại, mà còn giúp ta tránh những việc làm vô bổ, tạo ra một cuộc sống nhàn nhã và bình yên. Xu hướng sống đơn giản không chỉ là mới mẻ mà còn phản ánh giá trị văn hóa lâu dài của người Việt Nam.
Nói và nghe
Lập dàn ý cho bài trình bày đề cương báo cáo kết quả nghiên cứu về đề tài bạn ai đã lựa chọn (theo yêu cầu của bài tập ở phần Viết). Xác định các phương tiện phi ngôn ngữ sẽ được sử dụng để hỗ trợ cho phần thuyết trình.
1. Đặt vấn đề
Có thể lựa chọn một trong các hướng sau để đặt vấn đề:
– Một vài ví dụ nổi bật về sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ.
– Sức ảnh hưởng của chủ nghĩa tối giản như một triết lí sống trong xã hội hiện đại.
– Những thay đổi trong phong cách sống của người trẻ hiện nay.
2. Giải quyết vấn đề
Không có hướng triển khai nào là duy nhất và đúng nhất cho đề tài này. Hướng dưới đây có thể coi là một gợi ý:
2.1. Quan niệm của bạn về chủ nghĩa tối giản, phong cách sống, người trẻ.
2.2. Thực tế sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ.
2.3. Lí giải sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của người trẻ. Cần thu thập thông tin từ các nguồn đã xác định trong bài tập 2, rồi tiến hành thống kê, phân loại, tổng hợp, đánh giá,.. Với mục 2.1, trên cơ sở các thông tin có được, HS đưa ra cách hiểu mà mình sẽ sử dụng trong bài báo cáo nghiên cứu. Mục 2.2 có thể được chia thành các mục nhỏ hơn theo hai hướng: sự lan toả trên các phương diện khác nhau của phong cách sống; sự lan toả theo chiều thời gian. Mục 2.3 có thể triển khai theo các nguyên nhân xã hội, kinh tế, văn hoá,...
3. Kết luận
Cũng như với phần Đặt vấn đề, có thể viết phần Kết luận theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn:
- Tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra một số nhận định khái quát về đề tài.
- Tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra một số câu hỏi mở xung quanh đề tài.
* Phương tiện phi ngôn ngữ: Tranh, ảnh.
Trình bày bản đề cương báo cáo kết quả nghiên cứu đã hoàn thành theo yêu cầu của bài tập 1 trước các thành viên trong nhóm học tập. Tiếp thu các ý kiến đóng góp và trao đổi để rút kinh nghiệm về việc thuyết trình.
Em thực hành nhóm với các bạn trong lớp:
+ Trình bày bản đề cương báo cáo kết quả nghiên cứu đã hoàn thành theo yêu cầu của bài tập 1 trước các thành viên trong nhóm học tập.
+ Tiếp thu các ý kiến đóng góp và trao đổi để rút kinh nghiệm về việc thuyết trình.

