Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 3: Lập luận trong văn bản nghị luận có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 3: Lập luận trong văn bản nghị luận có đáp án

A
Admin
VănLớp 1281 lượt thi
39 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Đọc và Thực hành tiếng Việt

Bài tập 1. Đọc lại văn bản Nhìn về vốn văn hoá dân tộc của Trần Đình Hượu trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 64 – 65), đoạn từ “Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ta đồ sộ” đến “một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá” và trả lời các câu hỏi:

Chỉ ra câu chủ đề của đoạn văn, từ đó cho biết đoạn văn được tổ chức theo kiểu nào.

Xem đáp án

Câu chủ đề bao giờ cũng có tính khái quát, không đi vào khía cạnh cụ thể như những câu khác trong đoạn. Đó là dấu hiệu quan trọng nhất cần dựa vào để xác định.

Câu mở đoạn “Giữa các dân tộc, chúng ta không thể tự hào là nền văn hoá của ra đồ sộ, có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, hay có những đặc sắc nổi bật” và câu kết đoạn “Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, một ngành văn hoá nào đó trở thành đài danh dự, thu hút, quy tụ cả nền văn hoá” là hai câu chủ đề. Hai câu chủ đề được đặt ở vị trí như vậy là dấu hiệu giúp nhận biết đây là đoạn văn kiểu tổng hợp.

2. Tự luận
1 điểm

Ở đoạn văn này, tác giả chủ yếu dùng lí lẽ hay dẫn chứng? Chỉ ra mối liên hệ giữa lí lẽ và dẫn chứng được thể hiện ở đây.

Xem đáp án

Ở đoạn văn này, tác giả chủ yếu dùng dẫn chứng. Lí lẽ được thể hiện tập trung ở hai câu có tính chất khái quát (mở đoạn và kết đoạn), còn lại là các câu nêu dẫn chứng. Dẫn chứng mang tính chất đối sánh để làm rõ sự khác biệt: Văn hoá Việt Nam không đồ sộ, không có những cống hiến lớn lao cho nhân loại, không có những đặc sắc nổi bật. Điều này thể hiện rõ ở các lĩnh vực (“thần thoại không phong phú”; “tôn giáo hay triết học cũng đều không phát triển”; “không có một ngành khoa học, kĩ thuật, giả khoa học nào phát triển đến thành có truyền thống”; “âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ”; người làm thơ tuy nhiều, nhưng “số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có”;...). Như vậy, các dẫn chứng được sử dụng trong đoạn trích có mối quan hệ chặt chẽ với lí lẽ, cụ thể hoá lí lẽ được nêu ở hai câu chủ đề, giúp cho ý kiến của người viết trở nên có sức thuyết phục.

3. Tự luận
1 điểm

Tác giả có thái độ như thế nào khi bàn luận về vấn đề?

Xem đáp án

Từ trước đến nay, khi luận bàn về văn hoá Việt Nam, các nhà nghiên cứu thường thể hiện thái độ tự hào, đề cao một nền văn hoá có bề dày truyền thống, gắn với cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc, phản ánh những đặc điểm ưu việt trong tính cách, phẩm chất của con người Việt Nam. Ở văn bản Nhìn về vốn văn hoá dân tộc nói chung, đoạn này nói riêng, ta bắt gặp thái độ khách quan, khoa học, không có bóng dáng của sự tự tôn hoặc tự ti. Đối sánh với những nền văn hoá lớn trên thế giới, tác giả nhận thấy những giới hạn của văn hoá Việt Nam. Khi lập luận để khẳng định quan điểm của mình, tác giả luôn dựa vào những bằng chứng cụ thể, tiêu biểu. Một thái độ nghiên cứu nghiêm túc, khoa học như thế là hết sức cần thiết, đặc biệt là trong bối cảnh chuẩn bị hội nhập quốc tế.

4. Tự luận
1 điểm

Trong đoạn văn, tác giả nêu ý kiến: “Hầu như người nào cũng có thể, cũng có dịp làm dăm ba câu thơ. Nhưng số nhà thơ để lại nhiều tác phẩm thì không có. Xã hội có trọng văn chương, nhưng [...] bản thân các nhà thơ cũng không ai nghĩ cuộc đời, sự nghiệp của mình là ở thơ ca”. Bạn suy nghĩ như thế nào về ý kiến này?

Xem đáp án

Ý kiến này của tác giả phản ánh một thực tế thú vị về thơ ca và những người sáng tác thơ. Đúng là nhiều người có thể viết vài câu thơ trong những khoảnh khắc cảm xúc dâng trào, nhưng để trở thành một nhà thơ thực thụ và để lại nhiều tác phẩm có giá trị thì không phải ai cũng làm được. Điều này đòi hỏi tài năng, sự kiên trì, và một tình yêu sâu sắc với nghệ thuật.

Thơ ca không chỉ là việc viết ra những câu chữ đẹp mà còn là sự kết tinh của trải nghiệm sống, cảm xúc và tư duy sâu sắc. Những nhà thơ lớn thường có khả năng nhìn thấy và diễn đạt những điều mà người khác không thể, họ biến những trải nghiệm cá nhân thành những tác phẩm có giá trị chung cho nhân loại.

Mặt khác, việc xã hội trọng văn chương nhưng bản thân các nhà thơ không nghĩ cuộc đời mình là ở thơ ca cũng là một điểm đáng suy ngẫm. Điều này có thể xuất phát từ sự khiêm tốn của các nhà thơ, hoặc từ thực tế rằng thơ ca, dù được trân trọng, không phải lúc nào cũng mang lại sự ổn định về kinh tế và xã hội. Nhiều nhà thơ phải làm những công việc khác để mưu sinh, và thơ ca trở thành một phần của cuộc sống tinh thần hơn là sự nghiệp chính.

Tóm lại, ý kiến này nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc viết thơ như một sở thích và việc trở thành một nhà thơ thực thụ, đồng thời phản ánh những thách thức mà các nhà thơ phải đối mặt trong cuộc sống.

5. Tự luận
1 điểm

Khi nêu quan điểm của mình về văn hoá Việt Nam, tác giả nhắm tới mục đích gì?

Xem đáp án

Khi nêu quan điểm của mình về văn hóa Việt Nam, tác giả nhắm tới mục đích: đưa bài học cho mỗi người cần ý thức được vai trò, trách nhiệm của bản thân trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc.

6. Tự luận
1 điểm

Bài tập 2. Đọc lại văn bản Nhìn về vốn văn hoá dân tộc của Trần Đình Hượu trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 65), đoạn từ “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo” đến “chấp nhận cái gì vừa phải, hợp với mình nhưng cũng chần chừ, dè dặt, giữ mình” và trả lời các câu hỏi:

Đoạn văn đề cập những đặc điểm nào của văn hoá truyền thống Việt Nam? Nhận xét về cấu trúc và nội dung của đoạn văn.

Xem đáp án

Trong đoạn văn, tác giả đề cập một số đặc điểm sau đây của văn hoá Việt Nam:

– Người Việt Nam ít có tinh thần tôn giáo.

– Trong cuộc sống, ý thức về cá nhân và sở hữu không phát triển cao.

– Con người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa.

– Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ.

– Trong tâm trí nhân dân thường có Thần, Bụt mà không có Tiên.

– Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo.

– Không dễ hoà hợp với cái mới, cái khác mình, nhưng cũng không cự tuyệt đến cùng.

Về mặt cấu trúc, đoạn văn không có câu chủ đề, các câu quan hệ với nhau theo kiểu song song (mỗi câu biểu đạt một ý gắn với một đặc điểm của văn hoá truyền thống Việt Nam). Mỗi ý như vậy hoàn toàn có thể triển khai thành một đoạn văn riêng, tuy nhiên, ở đây, tác giả đã thâu gộp lại, khiến cho đoạn văn có tính hàm súc, tuy ngắn gọn nhưng rất phong phú về nội dung.

7. Tự luận
1 điểm

Đoạn văn chủ yếu nêu thông tin khách quan hay ý kiến chủ quan của người viết? Điều đó có tác động như thế nào đối với người đọc?

Xem đáp án

Ở đoạn văn này, tác giả chủ yếu đưa ra nhận định của mình về các đặc điểm nổi bật của văn hóa truyền thống Việt Nam (như đã nêu ở phần trả lời câu 1), Phần lớn đó là các ý kiến chủ quan, do tác giả tự khái quát từ kết quả nghiên cứu của mình. Tất cả đều được diễn đạt bằng lời văn có màu sắc khẳng định mạnh mẽ, chắc chắn. Chọn hình thức diễn đạt hàm súc như vậy, tác giả muốn đúc kết những suy nghĩ sâu sắc qua quá trình khảo cứu cẩn trọng. Tuy nhiên, những nhận định mới mẻ, táo bạo như vậy rõ ràng tác động mạnh đến suy nghĩ của người đọc theo nhiều chiều: có thể khích lệ những người có tư tưởng mới hoặc “khiêu khích” những nếp nghĩ quen thuộc một thời, và dù theo chiều hướng nào thì cũng luôn để ngỏ khả năng đối thoại thẳng thắn, thiện chí, nghiêm túc.

8. Tự luận
1 điểm

Nêu suy nghĩ của bạn về một trong các ý kiến sau của tác giả: “Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo”; “Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ”; “Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo”.

Xem đáp án

Câu nói của Trần Đình Hượu “Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ” là một góc nhìn sâu sắc và đầy tính nhân văn về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Thể hiện ở hai vế: 

“Dân tộc chống ngoại xâm liên tục”: trải qua cả nghìn năm lịch sử đấu tranh triền miên từ thời vua Hùng đến các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, dân tộc ta vẫn một lòng nồng nàn yêu nước, thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền.

“Nhưng không thượng võ”: 

+ Khác biệt với tư tưởng thượng võ: Thượng võ thường gắn liền với việc coi trọng vũ lực, đề cao chiến tranh và coi thường hòa bình.

+ Giá trị nhân văn sâu sắc: Câu nói của Trần Đình Hượu muốn nhấn mạnh rằng, dù phải đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh, nhưng dân tộc ta không hề coi trọng chiến tranh. Chúng ta luôn hướng tới hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc cho nhân dân.

9. Tự luận
1 điểm

Những đặc điểm của văn hoá truyền thống Việt Nam mà tác giả nêu ở đoạn văn trên có phải là ưu điểm không? Vì sao?

Xem đáp án

Những đặc điểm của văn hoá truyền thống Việt Nam được nêu ở đoạn văn là kết quả quá trình khảo cứu của tác giả. Khi trình bày điều đó, tác giả không bày tỏ thái độ đề cao hay hạ thấp. Từ góc độ người đọc, có thể thấy tác giả đã chỉ ra những đặc điểm mang tính chất cố hữu của văn hoá Việt Nam, thể hiện tinh thần thực tế, sự chừng mực, vừa phải trong ứng xử của người Việt ở các mối quan hệ. Những đặc điểm đó làm nên bản sắc, quyết định sự tồn tại của người Việt trong tiến trình lịch sử, khó có thể xem là ưu điểm hay nhược điểm. Nó chỉ có giá trị khu biệt khi đặt trong tương quan với văn hoá truyền thống của các dân tộc khác.

10. Tự luận
1 điểm

Bài tập 3. Đọc lại văn bản Năng lực sáng tạo của Phan Đình Diệu trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 68 – 69), đoạn từ “Khó tìm được một định nghĩa rõ ràng nào cho khái niệm sáng tạo và năng lực sáng tạo” đến “để hi vọng một lúc bất thần nào đó xuất hiện các ánh chớp mà thôi!” và trả lời các câu hỏi:

Khái quát nội dung của đoạn văn trong một câu.

Xem đáp án

Khái quát nội dung: Bản chất của hoạt động sáng tạo và yếu tố quyết định năng lực sáng tạo của con người.

11. Tự luận
1 điểm

Hoạt động sáng tạo được giải thích như thế nào? Chỉ ra sự phối hợp các thao tác ở đoạn văn.

Xem đáp án

Theo tác giả, bản chất của hoạt động sáng tạo gồm các khía cạnh:

- Một loại hoạt động tinh thần chỉ con người mới có, thể hiện khả năng tư duy và tưởng tượng của con người.

- Sản phẩm của hoạt động sáng tạo thường là những phát minh hoặc phát hiện mới mẻ, độc đáo.

Nếu khả năng tư duy và tưởng tượng được tác giả xem là “những năng lực cần thiết cho sáng tạo” thì tính mới, tính độc đáo là “tính chất cốt yếu của kết quả sáng tạo”. Hai khía cạnh trên có quan hệ nhân quả (khả năng tư duy, tưởng tượng quyết định kết quả).

Tác giả đã nêu một số ý kiến để chứng minh cho ý vừa giải thích:

- “Có người nói”... sáng tạo là nhìn cùng một việc như mọi người nhưng nghi về một điều nào đó khác”.

- “thiên tài sáng tạo là bằng ý thức đổi mới, không lệ thuộc nếp cũ nhân với bình phương của trí tưởng tượng và khả năng trừu tượng hoá” (F. Ba-li-ba – F. Balibar, nhà vật lí Pháp, khi nói về thiên tài của A. Anh-xtanh – A. Einstein).

12. Tự luận
1 điểm

Yếu tố nào đóng vai trò quyết định đối với sự sáng tạo? Vì sao? Yếu tố đó có đặc điểm gì?

Xem đáp án

Trong hoạt động sáng tạo, ý tưởng có vai trò quyết định. Bởi vì, nếu không có ý tưởng thì sẽ không biết khởi đầu hoạt động sáng tạo như thế nào và dĩ nhiên con người không bao giờ tạo ra được sản phẩm mới mẻ, độc đáo.

Theo ý trong đoạn văn, ý tưởng có những đặc điểm:

- Xuất hiện trong suy nghĩ và trí tưởng tượng của nhà nghiên cứu.

- Loé lên trong khoảnh khắc như những ánh chớp, nhưng đó là tất cả, nghĩa là hết sức quan trọng đối với sáng tạo.

- Tuy loé lên bất thần, tức thời, nhưng nó thể hiện sức mạnh của những tích tụ trí tuệ.

- Mọi lĩnh vực (khoa học, kĩ thuật, văn học nghệ thuật, kinh tế, quản lí,...) đều có thể xuất hiện ý tưởng.

- Không thể đặt kế hoạch cho sự xuất hiện ý tưởng, mà phải lao động cần mẫn, tạo nên trạng thái tích tụ “gió mây giông bão” của trí tuệ để ý tưởng có thể đột ngột nảy sinh.

13. Tự luận
1 điểm

Đoạn văn được tổ chức theo kiểu nào? Dựa vào đâu bạn kết luận như vậy?

Xem đáp án

Đoạn văn được tổ chức theo kiểu song song, biểu hiện qua các dấu hiệu:

- Đoạn văn không có câu chủ đề.

- Các câu trong đoạn tập trung vào các ý chính, các ý đó được trình bày theo thứ tự trước sau (giải thích khái niệm sáng tạo; chứng minh cho nội dung cốt lõi của năng lực sáng tạo; đề cập đến ý tưởng – vấn đề có vai trò quyết định đối với hoạt động sáng tạo).

14. Tự luận
1 điểm

Bài tập 4. Đọc lại văn bản Năng lực sáng tạo của Phan Đình Diệu trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 69), đoạn từ “Xưa nay, khi nói đến sáng tạo, thường ta chỉ xem đó là hoạt động riêng của một lớp người” đến “biết quên đi nhiều điều mà mình đã biết để luôn có một trí tuệ nguyên lành với đôi mắt tươi sáng” và trả lời các câu hỏi:

Ý nào trong đoạn văn khái quát được chủ đề của cả đoạn? Các ý khác có vai trò như thế nào trong việc làm nổi bật chủ đề?

Xem đáp án

Trong đoạn văn, ý sau đây có tính chất khái quát chủ đề của cả đoạn: Với nền kinh tế mới (kinh tế tri thức), mọi người đều tham gia sáng tạo và có năng lực sáng tạo. Các ý khác trong đoạn văn có chức năng làm nổi bật chủ đề:

- Trong bối cảnh “kinh tế tri thức” phát triển, năng lực sáng tạo là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh, nhưng phải chăng khả năng cạnh tranh đó chỉ có thể tạo nên bởi tầng lớp trí thức? Câu trả lời ở đây là: không chỉ các nhà trí thức mới cần có năng lực sáng tạo.

- Tiếp đó là một ý có tính chất khẳng định:“năng lực sáng tạo để làm nên sự giàu có và sức cạnh tranh của nền kinh tế mới phải là từ mọi thành phần của nền kinh tế đó, tức là từ mọi người trong xã hội”.

- Phần sau của đoạn văn có ý diễn giải sâu thêm về chủ đề: “Đổi mới tư duy” đòi hỏi trước hết phải xác lập niềm tin đó (Anh là người sáng tạo, tôi là người sáng tạo, mỗi người đều sáng tạo; sáng tạo, có năng lực sáng tạo là thuộc tính tự nhiên của con người).

15. Tự luận
1 điểm

Những thao tác nghị luận nào đã được tác giả sử dụng trong đoạn văn?

Xem đáp án

Trong đoạn văn, tác giả đã sử dụng một số thao tác, thể hiện cụ thể:

- Bác bỏ quan điểm cho rằng sáng tạo là hoạt động riêng của tầng lớp người được gọi là “trí thức”.

- Giải thích để làm rõ hoạt động sáng tạo là của mọi người, ai cũng có thể và cần phải sáng tạo.

- Phân tích mười chìa khoá hàng đầu (tức là những cách thức cụ thể) phát triển năng lực sáng tạo của cá nhân.

16. Tự luận
1 điểm

Đoạn văn cho thấy tác giả đã có sự thay đổi như thế nào trong nhận thức của bản thân về chủ thể hoạt động sáng tạo? Sự thay đổi đó có ý nghĩa gì?

Xem đáp án

Đoạn văn cho biết, việc thay đổi nhận thức từ chỗ xem sáng tạo gắn với hoạt động riêng của tầng lớp trí thức sang quan niệm “mọi người đều tham gia sáng tạo” và “có năng lực sáng tạo” trước hết là của chính tác giả. Đó là kết quả của quá trình đổi mới tư duy của người nghiên cứu, diễn ra trong bối cảnh xuất hiện khái niệm “kinh tế tri thức”. Sự thay đổi này rất có ý nghĩa. Với tác giả, đó là một bước tiến của nhận thức, nhờ vậy, trong tư cách một nhà khoa học, tác giả sẽ phát huy tầm ảnh hưởng để kích thích khả năng sáng tạo của nhiều người, trong những lĩnh vực khác nhau. Nhận thức này cũng có thể giúp người đọc củng cố niềm tin vào bản thân, để họ có thể phát huy khả năng sáng tạo trong phạm vi công việc của mình.

17. Tự luận
1 điểm

Theo tác giả, vì sao trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức, mọi người đều có năng lực sáng tạo và đều cần tham gia sáng tạo?

Xem đáp án

Theo tác giả, trong thời đại có sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, mọi người đều tham gia sáng tạo và có năng lực sáng tạo bởi:

- Sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, đòi hỏi con người phải không ngừng sáng tạo để có được những sản phẩm vượt trội, độc đáo.

- Trong nền kinh tế tri thức, công nghệ thường xuyên thay đổi. Sự sáng tạo giúp con người thích ứng nhanh chóng với những biến đổi này để có thể tận dụng cơ hội mới.

- Nền kinh tế mới thường khuyến khích sự sáng tạo cộng đồng, trong đó mọi người có thể chia sẻ ý tưởng và hợp tác để tạo ra giải pháp sáng tạo cho các vấn đề phức tạp.

18. Tự luận
1 điểm

Tác giả cho rằng, trong việc phát triển năng lực cá nhân, niềm tin vào khả năng sáng tạo của bản thân được xem là “chìa khoá quan trọng số một”. Bạn có đồng tình với ý kiến đó không? Vì sao?

Xem đáp án

Hiện nay, năng lực tự chủ của con người luôn được đề cao, bởi nó quyết định nhiều vấn đề có liên quan. Trong phạm vi vấn đề được đặt ra ở đây, cần xem xét mối quan hệ của cái “chìa khoá quan trọng số một” đó với chín “chìa khoá” khác được liệt kê trong đoạn văn để lí giải một cách có cơ sở.

Theo quan niệm của tác giả, trong việc phát triển năng lực của cá nhân, niềm tin vào khả năng sáng tạo của bản thân được xem là “chìa khoá quan trọng số một” vì:

- Niềm tin vào khả năng sáng tạo khích lệ cá nhân tìm kiếm giải pháp mới để giải quyết vấn đề một cách độc đáo. Điều này có thể dẫn đến việc phát triển ý tưởng mới, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.

- Niềm tin vào khả năng sáng tạo giúp con người tăng cường khả năng vượt qua những khó khăn, thách thức để hành động theo mục tiêu đã xác định.

- Khi người ta tin là có khả năng sáng tạo thì sẽ dám thử nghiệm những ý tưởng mới, nhờ đó, sẽ tự khám phá và phát triển tiềm năng của mình.

- Niềm tin vào khả năng sáng tạo sẽ tạo ra một môi trường tích cực và động lực cho sự phát triển cá nhân. Cảm giác tự do thể hiện ý tưởng và nhận được sự đánh giá tích cực có thể khuyến khích con người tiếp tục phát huy khả năng sáng tạo của mình.

19. Tự luận
1 điểm

Bài tập 5. Đọc lại văn bản Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 72 – 73), đoạn từ “Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về thơ” đến “Và cũng có những cái ta rất nhớ, ví dụ những công thức toán học, nhưng lại không phải là thơ” và trả lời các câu hỏi:

Những thao tác nghị luận nào được tác giả sử dụng trong đoạn trích? Chỉ ra biểu hiện của từng thao tác.

Xem đáp án

Trong đoạn trích, tác giả sử dụng một số thao tác nghị luận sau đây:

- Bác bỏ: Mỗi một quan niệm về thơ được nêu lên ở phần này thường kèm một vài câu vừa nhận xét những chỗ chưa đầy đủ, vừa bác bỏ những điểm bất cập (thơ không phải là những lời đẹp; thơ không phải là ở những đề tài “đẹp”; thơ cũng không hẳn là những gì khiến người ta phải nhớ).

- Chứng minh: Để việc bác bỏ có cơ sở, với mỗi quan niệm thơ được nêu tác giả đều đưa ra những dẫn chứng có tính chất trái ngược. Chẳng hạn, thơ không phải là lời đẹp, vì những lời thơ “nôm na mách qué” của Hồ Xuân Hương hay câu thơ của Nguyễn Du tả ngoại hình của Tú Bà (Truyện Kiều) lời không “đẹp” (theo kiểu trang nhã) mà vẫn là thơ hay. Thơ không ở đề tài “đẹp”, bằng chứng là thơ Bộ-đơ-le (Baudelaire) có bài viết về xác chết đầy giòi bọ, hay trong kháng chiến, những xe cộ, súng ống, dây thép gai,... cũng có thể trở thành đề tài thơ. Cũng không thể lấy chuyện dễ nhớ, dễ thuộc làm tiêu chí phân định giữa thơ và không phải thơ, vì có những thứ rất dễ nhớ như công thức toán học nhưng đâu phải là thơ.

20. Tự luận
1 điểm

Ở đoạn trích này, tác giả nêu và nhận xét một số quan niệm về thơ nhằm mục đích gì?

Xem đáp án

Trong đoạn trích này, tác giả điểm qua một số quan niệm về thơ và nêu ý kiến nhận xét (theo kiểu phản bác), chứng minh ý kiến đó bằng các dẫn chứng lấy từ thực tế thơ ca. Việc nêu các quan niệm về thơ và nhận xét những bất cập của các quan niệm đó một mặt cho thấy rằng: thơ là một loại hình nghệ thuật linh diệu, thật khó đưa ra một định nghĩa ngắn gọn có thể thoả mãn nhận thức của mọi người; mặt khác, đây là cơ sở để tác giả đi sâu khám phá bản chất của thơ, tiến đến đề xuất quan niệm riêng của mình.

21. Tự luận
1 điểm

Đoạn trích này gồm bốn đoạn. Theo bạn, việc tách đoạn của tác giả ở đây dựa trên cơ sở nào?

Xem đáp án

Mặc dù đã có một câu chủ đề nhưng tác giả vẫn không triển khai chủ đề đó trong một đoạn văn như thường thấy, mà dùng đến bốn đoạn. Việc tách đoạn như vậy xuất phát từ chỗ: mỗi đoạn sẽ nêu một quan niệm về thơ và nêu ý kiến nhận xét về quan niệm đó. Cụ thể:

- Thơ không phải là lời đẹp (đoạn 1).

- Thơ không phải là ở đề tài “đẹp” (đoạn 2).

- Dễ thuộc dễ nhớ cũng không phải là bản chất của thơ (đoạn 3 và 4).

22. Tự luận
1 điểm

Bài tập 6. Đọc lại văn bản Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi trong SGK Ngữ văn 12 tập một (tr. 75 – 76), đoạn từ “Cuối cùng, tôi muốn nói đến vấn đề thơ tự do, thơ không vần” đến “Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay” và chọn đáp án đúng cho các câu hỏi:

Dòng nào sau đây khái quát đúng nội dung của đoạn trích?

Xem đáp án

Chọn đáp án: C. Đoạn trích bàn về vấn đề hình thức trong thơ.

23. Tự luận
1 điểm

Về vấn đề thơ có vần hay không vần, quan điểm của tác giả là như thế nào?

Xem đáp án

Chọn đáp án: A. Thơ có thể có vần hoặc không vần, tuỳ sự lựa chọn của nhà thơ.

24. Tự luận
1 điểm

Tác giả có quan niệm như thế nào về vấn đề hình thức thơ?

Xem đáp án

Chọn đáp án: C. Phát huy hình thức cũ phối hợp với phát minh hình thức mới.

25. Tự luận
1 điểm

Đoạn trích cho thấy điều gì được tác giả quan tâm?

Xem đáp án

Chọn đáp án: D. Chất lượng thơ của một thời đại mới.

26. Tự luận
1 điểm

Bài tập 7. Đọc hai đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi:

Đoạn trích 1:

Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.

Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi (Saadi), Gớt (Goethe), Ta-go (Tagore), ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì.

Cái trẻ, cái già của nhà thơ quyết định không phải đo ở tuổi trời, mà ở nội lực của chữ.

Pi-cát-xô (Picasso) có nói một câu khá thâm thuý: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ”.

Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét (Edmond Jabès): “Chữ bầu lên nhà thơ”.

Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ.

Tôi không nhớ Gít-đơ (Gide) hay Pét-xoa (Pessoa) – nhà thơ lớn Bồ Đào Nha – đã có một nhận xét khá nghiêm khắc về Vich-to Huy-gô (Victor Hugo):

“Vich-to nhiều lần tưởng mình là Huy-gô”.

Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ.

(Lê Đạt, Chữ bầu lên nhà thơ, in trong SGK Ngữ văn 10, tập một,

NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2022, tr. 83 – 84)

Đoạn trích 2: Từ “Chữ và tiếng trong thơ phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm” đến “những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động.” trong văn bản Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi (SGK Ngữ văn 12, tập một, tr. 74-75).

Ý chính của từng đoạn trích là gì? Chỉ ra điểm gặp gỡ về quan niệm của hai tác giả.

Xem đáp án

- Ý chính của đoạn trích 1: Làm thơ là lao động sáng tạo chữ một cách nhọc nhằn, khổ hạnh; danh xưng “nhà thơ chỉ xứng đáng với những ai thực sự sáng tạo trên từng con chữ.

- Ý chính của đoạn trích 2: Giá trị của chữ trong thơ thể hiện sức gợi lớn; các là con chữ trong lời thơ cùng tạo ra sự cộng hưởng bất ngờ, kì diệu. Chính nhịp điệu th bên trong (nhịp điệu của “hình ảnh”, “tình ý”, “tâm hồn”) là yếu tố quyết định đổi ở với việc tạo nên sự cộng hưởng kì diệu đó của thơ.

Nhìn thấy khả năng biểu đạt lớn lao của chữ (cũng là ngôn ngữ mang tính đặc thù của thơ); yêu cầu cao của sự sáng tạo chữ – đó chính là điểm gặp gỡ về tư tưởng giữa Lê Đạt và Nguyễn Đình Thi (qua hai đoạn trích).

27. Tự luận
1 điểm

Cả hai tác giả đều nói đến vai trò của chữ trong thơ, nhưng triển khai ý tưởng theo hai hướng khác nhau. Sự khác nhau đó biểu hiện như thế nào?

Xem đáp án

– Đoạn trích 1 gồm hai ý, có thể mô hình hoá cách triển khai như sau:

Tác giả chỉ đánh giá cao những nhà thơ lao động cật lực “đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ”. Sự trẻ trung (giá trị đích thực) của thơ là ở “nội lực của chữ” (sáng tạo thơ của Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go; câu nói của Pi-cát-xô là những bằng chứng tiêu biểu) → Chính “chữ” là yếu tố quyết định một người có thực sự xứng danh là “nhà thơ hay không (ý tưởng “Chữ bầu lên nhà thơ” của Gia-bét, việc đánh giá Vích-to Huy-gô – một nhà thơ nổi tiếng – qua câu nói “Vích-to nhiều lần tưởng mình đi là Huy-gô” được dùng như những bằng chứng).

– Đoạn trích 2 cũng có hai ý, được triển khai theo mô hình:

Chữ và tiếng trong thơ có một giá trị khác rất kì diệu, ngoài giá trị ý niệm (câu thơ “Chim hôm thoi thót về rừng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du; câu “Ý tại ngôn ngoại” mà người xưa dùng để nói về thơ là những bằng chứng tiêu biểu) → Cái kì diệu của chữ trong thơ là ở nhịp điệu (không phải là nhịp điệu bằng bằng B trắc trắc lên bổng xuống trầm bên ngoài, mà là nhịp điệu bên trong tạo nên bởi hình ảnh, tình ý, tâm hồn).

28. Tự luận
1 điểm

Cách trình bày và hình thức diễn đạt của hai tác giả ở hai đoạn trích có gì khác nhau?

Xem đáp án

Quan sát cách phân đoạn ở từng đoạn trích, đặc điểm lời văn của tác giả thể từ hiện ở từng đoạn, từ đó rút ra nhận xét có tính chất đối sánh.

Đoạn trích 1 được trình bày khác thường: Phần lớn mỗi câu được tách ra thành một đoạn (gọi là đoạn văn đặc biệt). Tuy vậy, các đoạn văn đặc biệt đó vẫn đảm bảo tính mạch lạc, nhờ các ý liền nhau quan hệ với nhau rất chặt chẽ, logic. Câu văn có nhịp điệu linh hoạt, lời văn mới mẻ, độc đáo, sử dụng nhiều hình ảnh bóng bẩy, có tính ấn dụ (“nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ; những nhà thơ” vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì”; “nội lực của chữ”; “cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ; “cuộc bỏ phiếu của chữ;...). Cách diễn đạt như thế khiến cho bài viết tuy bàn về sáng tạo thơ nhưng không khô khan, mà khá tươi mới, hấp dẫn.

Đoạn trích 2 gồm hai đoạn văn, mỗi đoạn văn triển khai một ý tương đối rõ ràng. Đoạn văn đầu đề cập đến giá trị kì diệu của chữ trong thơ; đoạn văn sau cho thấy sự kì diệu đó thể hiện ở nhịp điệu bên trong của thơ. Cụm từ “cái kì diệu ấy” đầu đoạn văn sau có chức năng liên kết với ý của đoạn văn trước, tạo nên tính mạch lạc của cả đoạn trích. Ở đây, Nguyễn Đình Thi phối hợp giữa cách diễn đạt theo hình thức thông thường của văn bản nghị luận văn học (nêu lí lẽ, giải thích và phân tích các ý, sử dụng dẫn chứng là các câu thơ và nhận định về thơ) với cách diễn đạt giàu hình ảnh. Bên cạnh những lời văn sử dụng các khái niệm như: giá trị ý niệm, cảm xúc, hình ảnh, nhịp điệu, nhạc, bằng – trắc,... ta cũng bắt gặp những câu văn đầy hình ảnh (“những hình ảnh không ngờ toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy”; “câu thơ hay có cái gì làm rung những chiếc cốc kia trên bàn, làm động ánh trăng kia trên bờ đê”; “mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung”;...). Cách diễn đạt ấy khiến cho đoạn văn vừa chặt về ý, vừa mềm mại về lời, thực sự có sức lôi cuốn, giúp người đọc dễ lĩnh hội hơn ý tưởng của tác giả.

29. Tự luận
1 điểm

Các ý tưởng ở hai đoạn trích có liên quan gì đến vấn đề sáng tạo và tiếp nhận thơ?

Xem đáp án

Bài viết có tác động đến nhiều đối tượng, trong đó có người sáng tác và người đọc. Mỗi đối tượng có thể rút ra cho mình những bài học bổ ích riêng.

- Với người sáng tác, công việc làm thơ thực sự là một hoạt động tinh thần đặc biệt, ở đó, mỗi chữ đều phải là kết quả của sự lựa chọn công phu, mang đậm dấu ấn của sự tìm tòi, sáng tạo.

- Với người đọc, để hiểu được giá trị đích thực của bài thơ, không có con đường nào khác ngoài việc khám phá ý nghĩa phong phú của những con chữ và sự cộng hưởng giữa chúng. Thoát li chữ trong thơ, mọi sự bình giá đều mang tính chủ quan, thiếu căn cứ.

30. Tự luận
1 điểm

Bài tập 8. Đọc lại văn bản Cảm hứng và sáng tạo của Nguyễn Trần Bạt trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 89 – 91) và trả lời các câu hỏi:

Nêu những đặc trưng của văn bản nghị luận được thể hiện trong văn bản.

Xem đáp án

Những đặc trưng của văn bản nghị luận được thể hiện cụ thể trong văn bản Cảm hứng và sáng tạo:

– Văn bản có một luận đề được nêu để bàn luận (nhan đề của văn bản đồng thời cũng là luận đề).

– Từ luận đề, văn bản được triển khai thành các luận điểm:

+ Luận điểm 1: Cảm hứng là một trạng thái tinh thần hết sức quan trọng của con người (từ “Cảm hứng thường được biểu hiện dưới hình thức của văn hoá, đến “tức là tại nhiều nền văn hoá mà người đó có mặt”).

+ Luận điểm 2: Tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của cảm hứng (từ “Cảm hứng có thể xúc tiến khả năng phát triển” đến “một trong những nguyên nhân gây ra sử chậm phát triển..).

+ Luận điểm 3: Vai trò của cảm hứng đối với sự phát triển (từ “Như vậy, cảm hứng là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển. đến “tiến trình phát triển của cá nhân và của cả cộng đồng”).

+ Luận điểm 4: Vai trò của tự do đối với cảm hứng và sáng tạo của con người (từ “Vậy thông qua cảm hứng, tự do biến thành sự sáng tạo như thế nào?” đến “nơi con người có thể nhặt được sự sáng tạo ở trong bất kì góc tối nào của cuộc sống).

+ Luận điểm 5: Cái đẹp – tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của cảm hứng sáng tạo (từ “Nói đến sự sáng tạo không thể không nói đến cái đẹp” đến “mới có giá trị đóng góp cho xã hội”).

- Ở từng luận điểm, tác giả đã sử dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận với việc nêu các lí lẽ và bằng chứng để lập luận có sức thuyết phục.

31. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra biểu hiện của các thao tác nghị luận được tác giả sử dụng trong văn bản.

Xem đáp án

Cảm hứng và sáng tạo để thấy một số thao tác được tác giả sử dụng trong văn bản:

- Giải thích. Ví dụ:”Cảm hứng thường được biểu hiện dưới hình thức văn hoá, nó là một trạng thái tinh thần được phát tán, lan truyền, ảnh hưởng rất nhanh và hiệu quả thông qua văn hoá”; “Một con người có ích là một con người góp phần vào sự phát triển ở những nơi mà anh ta đến, tức là tại nhiều nền văn hoá mà người đó có mặt;

- Phân tích. Ví dụ:“Tôi cho rằng, chỉ có trí tuệ mới có thể cân bằng được cảm hứng. Con người phải biết tự cân bằng cảm hứng của mình bằng trí tuệ của mình. Con người không thể để cho cảm hứng của mình được thể hiện một cách tuỳ tiện mù quáng, nhưng con người cũng không được để cho cảm hứng bị tiêu diệt.

- Chứng minh. Ví dụ: Dùng câu chuyện về hoạt động sáng tạo của Mi-ken-lăng-giơ (Michelangelo) để chứng minh cho quan hệ giữa tự do và sáng tạo; dùng các ví dụ như Pa-ri (Paris), sông Xen (Seine), điện Lu-vrơ (Louvre), điện Păng-tê-ông (Panthéon), tượng Đa-vít (David) để chứng minh rằng sáng tạo ra cái đẹp là biểu hiện cao nhất của sự phát triển ở con người.

- Bình luận. Ví dụ: “Nếu xây dựng các tiêu chuẩn để con người trở thành những kẻ ngốc nghếch và đơn điệu, hay nếu làm cho con người méo mó và mất đi sự đa dạng tinh thần vốn có thì đấy là tội diệt chủng về mặt tinh thần. Xét trên quan điểm phát triển, sự diệt chủng về mặt tinh thần là một tội ác chống lại loài người bởi nó tiêu diệt khả năng sáng tạo của con người. Thế giới vẫn lên án tội ác diệt chủng về mặt sinh học nhưng dường như chưa nhận ra một sự diệt chủng khác còn nguy hiểm hơn, đó là sự diệt chủng con người về mặt tinh thần”.

32. Tự luận
1 điểm

Theo tác giả, cảm hứng và tự do có vai trò gì trong hoạt động sáng tạo của con người?

Xem đáp án

Trong hoạt động sáng tạo của con người, cảm hứng và tự do có vai trò hết sức quan trọng. Cụ thể:

- Cảm hứng là chất men nuôi dưỡng trí tưởng tượng – yếu tố quyết định năng lực sáng tạo của con người.

- Cảm hứng chỉ có được khi con người hoàn toàn tự do. Như vậy, con người không thể sáng tạo nếu không có tự do.

- Tự do là điều kiện, là không gian cần thiết của sự sáng tạo ở bất cứ lĩnh vực nào. Để làm sáng tỏ điều này, trước hết tác giả đã giải thích rất cặn kẽ: “Con người sáng tạo thông qua năng lực tưởng tượng của mình và cảm hứng chính là chất men nuôi dưỡng năng lực tưởng tượng ấy. Như vậy, rõ ràng, tự do là chất xúc tác cho mọi sáng tạo của con người, và con người không thể sáng tạo được nếu không có tự do. Tự do tạo ra cảm hứng làm chất men nuôi dưỡng năng lực tưởng tượng, đồng thời nó khuyến khích sự phát triển năng lực tưởng tượng và làm bùng nổ năng lực sáng tạo ở mỗi người. Có một thế giới tưởng tượng tràn ngập trong mình, con người mới có đam mê sáng tạo.”. Lí lẽ trên đây trở nên vững vàng

hơn bởi được củng cố bằng các dẫn chứng tiêu biểu: nhờ “thiên thần nhập vào trong tâm hồn” nhờ được “bay trong tự do”, “bay lên cùng với sự thăng hoa của trí tưởng tượng” mà danh hoạ Mi-ken-lăng-giơ mới có thể nằm ngửa trên quang treo và mấy năm ròng để vẽ nên kiệt tác Sáng tạo thế giới khiến hàng trăm năm nay loại vẫn không thôi kinh ngạc, trầm trồ.

33. Tự luận
1 điểm

Tác giả đã lí giải như thế nào về cái đẹp, về mối quan hệ giữa cái đẹp và sáng tạo? Để lập luận về vấn đề này có sức thuyết phục, tác giả đã sử dụng những lí lẽ và bằng chứng nào?

Xem đáp án

Cách lí giải của tác giả:

- Cái đẹp luôn gắn với sự sáng tạo của con người, tồn tại trong tâm hồn con người, phải nhận ra cái đẹp bằng chính tâm hồn mình thì con người mới tạo ra được cái đẹp.

- Cái đẹp là thông điệp của sự hợp lí, cao thượng, là biểu hiện cao nhất của trạng thái phát triển của con người.

- Cái đẹp tồn tại cùng với sự đa dạng và tự nhiên của đời sống tinh thần con người.

Để lập luận có sức thuyết phục, tác giả nêu lí lẽ sắc bén và củng cố bằng các dẫn chứng tiêu biểu, xác thực. Chẳng hạn: Sau khi khẳng định cái đẹp là thông điệp của sự hợp lí, sự cao thượng, là biểu hiện cao nhất của trạng thái phát triển của con người (sự sáng tạo), tác giả đã đưa ra một số bằng chứng như sông Xen, điện Lu-vrơ, điện Păng-tê-ông của Pa-ri (nước Pháp) khiến người đọc tin vào lí lẽ của mình.

34. Tự luận
1 điểm

Tác giả thể hiện tư tưởng gì qua việc bàn luận về vấn đề cảm hứng và sáng tạo?

Xem đáp án

Qua việc bàn luận về vấn đề đặt ra, Nguyễn Trần Bạt thể hiện một khát vọng lớn lao và chính đáng: làm sao để có một môi trường sống lành mạnh, ở đó con người hoàn toàn tự do để có được cảm hứng mạnh mẽ, phát triển tối đa năng lực sáng tạo của mình nhằm tạo ra những gì tốt đẹp nhất cho xã hội.

35. Tự luận
1 điểm

Nêu những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai văn bản Cảm hứng và sáng tạo (Nguyễn Trần Bạt) và Năng lực sáng tạo (Phan Đình Diệu).

Xem đáp án

– Những điểm tương đồng:

+ Cùng thuộc loại văn bản nghị luận (có luận đề, các luận điểm, dùng lí lẽ bằng chứng, sử dụng một số thao tác nghị luận).

+ Về nội dung, hai văn bản đều làm rõ bản chất của hoạt động sáng tạo, thấy được điều kiện để có sự sáng tạo, vai trò của sáng tạo trong đời sống xã hội.

– Những điểm khác biệt:

+ Bài viết của Phan Đình Diệu bàn về các khía cạnh: làm sao để có thể sáng tạo điều gì quyết định sự sáng tạo, những đối tượng nào có thể sáng tạo, vai trò của sáng tạo trong nền kinh tế tri thức. Bài viết của Nguyễn Trần Bạt chủ yếu tập trung vào vấn đề: điều kiện để con người có thể sáng tạo. Từ đó, tác giả bàn luận sâu về cảm hứng trong sáng tạo, vai trò của tự do đối với việc duy trì cảm hứng sáng tạo,…

+ Cách sử dụng bằng chứng ở hai bài cũng khác nhau. Nếu Phan Đình Diệu sử dụng ý kiến của các nhà khoa học như bằng chứng để củng cố quan niệm của mình thì Nguyễn Trần Bạt thường lấy các ví dụ trong thực tế đời sống của nhân loại làm bằng chứng cho bài viết.

36. Tự luận
1 điểm

Viết

“Tự do là không gian của mọi sự sáng tạo từ văn hoá, nghệ thuật cho đến khoa học, công nghệ,...” (Nguyễn Trần Bạt, Cảm hứng và sáng tạo)

Lấy câu trên làm câu chủ đề, viết đoạn văn theo kiểu diễn dịch hoặc quy nạp (khoảng 150 chữ), có sử dụng ít nhất hai trong các thao tác: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, bác bỏ.

Xem đáp án

“Tự do là không gian của mọi sự sáng tạo từ văn hoá, nghệ thuật cho đến khoa học, công nghệ.” Tự do là điều kiện tiên quyết để con người phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình. Khi có tự do, nghệ sĩ có thể thoải mái thể hiện những ý tưởng độc đáo, tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị. Tương tự, trong khoa học và công nghệ, tự do nghiên cứu và thử nghiệm giúp các nhà khoa học khám phá ra những phát minh mới, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Ví dụ, nhiều phát minh vĩ đại như điện thoại di động, internet đều xuất phát từ môi trường tự do sáng tạo. Ngược lại, khi bị hạn chế tự do, con người dễ rơi vào tình trạng bảo thủ, thiếu sáng tạo. Do đó, việc bảo đảm tự do là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của văn hóa, nghệ thuật, khoa học và công nghệ.

37. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho một trong hai đề sau, viết thành văn phần Mở bài và ý đầu tiên của phần Thân bài.

Đề 1. Tuổi trẻ không có ước mơ lớn thì khó đạt được thành công lớn.

Đề 2. Tuổi trẻ với vấn đề tiếp thu ảnh hưởng của văn hoá nước ngoài trong thời đại ngày nay.

Xem đáp án

Đề 1:

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ.

Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy năng lực của mình.

2. Thân bài

a. Giải thích

Ước mơ là những khao khát, ý muốn của con người muốn đạt được một điều gì đó, được làm nghề gì đó hoặc trở thành người như nào đó.

Hoài bão là những giấc mơ lớn, là những cái đích lớn lao mà con người luôn khát khao vươn tới.

→ Ước mơ và hoài bão có vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người, mỗi chúng ta cần có ước mơ, hoài bão và nỗ lực vươn lên để thực hiện ước mơ, hoài bão đó.

b. Phân tích

Mọi ước mơ, hoài bão đều rất đẹp nhưng không phải ai cũng có thể biến những ước mơ của mình thành hiện thực. Để thực hiện được ước mơ đòi hỏi con người phải thực sự cố gắng, nỗ lực từng ngày.

Thiếu vắng ước mơ, hoài bão chúng ta sẽ sống mà chẳng có chút hi vọng, thiếu đi niềm vui, động lực để học tập, làm việc hằng ngày. Từ đó cuộc sống cũng trở nên tẻ nhạt hơn, lãnh đạm hơn.

Ước mơ, hoài bão là động lực để con người vươn lên. Hãy xác định cho mình niềm đam mê, ước mơ và theo đuổi nó ngay từ hôm nay.

c. Chứng minh

Học sinh tự lấy dẫn chứng về những con người sống có ước mơ, hoài bão và biết phấn đấu để thực hiện ước mơ, hoài bão đó để minh họa cho bài làm văn của mình.

d. Phản đề

Tuy nhiên, trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người chưa nhận thức được tầm quan trọng của ước mơ, hoài bão đối với bản thân. Cũng có những người sống phụ thuộc vào người khác, vô định, không có ước mơ, hoài bão,… Những người này sẽ không thấy được giá trị, ý nghĩa của cuộc đời cũng như khó có được thành công trong cuộc sống.

e. Liên hệ bản thân

Mỗi người chúng ta cần sống có ước mơ, hoài bão, biết cố gắng học tập, rèn luyện bản thân để thực hiện ước mơ của mình cũng như cống hiến những điều tốt đẹp nhất cho xã hội.

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận: ước mơ, hoài bão của tuổi trẻ.

* Đoạn mở bài: Mỗi người trẻ chúng ta được sống trong nền hòa bình và tự do như hiện nay là một điều vô cùng may mắn. Nhưng không vì thế mà chúng ta bàng quang với xã hội mà ngay cả trong thời bình, chúng ta cũng cần có trách nhiệm với quê hương đất nước, trách nhiệm này trong suy nghĩ của mỗi người là khác nhau, tuy nhiên, là thanh niên, chúng ta cần sống có ước mơ.

* Đoạn đầu thân bài: Vậy thế nào là ước mơ? Ước mơ là những khao khát, ý muốn của con người muốn đạt được một vật gì đó, được làm nghề gì đó hoặc trở thành người như nào đó. Khi mỗi người có ước mơ họ trở nên tốt đẹp hơn, biết cố gắng, phấn đấu vươn lên để thực hiện ước mơ đó. Mỗi người trên hành trình thực hiện ước mơ của mình là góp phần giúp xã hội phát triển.

Đề 2:

1. Mở bài

Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của giới trẻ hiện nay.

Lưu ý: học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân.

2. Thân bài

a. Thực trạng

Xã hội phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người hòa nhập với nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới.

Nhiều bản sắc văn hóa của dân tộc đang ngày bị mai một, giới trẻ ngày càng ít quan tâm, tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

b. Hậu quả

Những giá trị truyền thống tốt đẹp ngày càng bị mai một dần đi, nhiều bản sắc đã và đang dần mất đi, giới trẻ bị thu hẹp tầm hiểu biết về những truyền thống tất yếu của dân tộc mình.

Con người đánh mất đi giá trị cốt lõi của đất nước mình.

c. Giải pháp

Mỗi cá nhân đặc biệt là học sinh chúng ta phải tìm hiểu những bản sắc văn hóa vốn có của dân tộc, giữ gìn và phát huy những giá trị đó với bạn bè năm châu.

Nhà trường cần tổ chức nhiều hơn những hoạt động để tuyên truyền, mang đến cho học sinh nguồn tri thức về bản sắc văn hóa dân tộc.

Học sinh cần phải đặt trách nhiệm giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc lên hàng đầu.

Tích cực trau dồi hiểu biết của mình về những giá trị văn hóa tốt đẹp của nước nhà.

3. Kết bài

Khẳng định lại vấn đề cần nghị luận: việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của giới trẻ hiện nay; đồng thời rút ra bài học cho bản thân, cho các bạn trẻ.

* Đoạn mở bài: Bác Hồ - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới từng nói: “Dân ta phải biết sử ta/Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Quả thực, trân trong văn hóa truyền thống là điều vô cùng quan trọng. Trong thời đại hiện nay, lớp trẻ cần biết cách cân bằng giữa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và giữ gìn bản sắc dân tộc.

* Đoạn đầu thân bài: Lịch sử nhân loại qua hàng triệu năm đã chứng minh rằng, việc giao lưu văn hóa là một phần tất yếu của cuộc sống con người. Giao thoa văn hóa mang lại sự đa dạng, phong phú cho các dân tộc, đất nước và giúp nâng cao trí tuệ, mở mang tầm hiểu biết của con người. Thậm chí, trong thời hiện đại, đây còn là cách giúp phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội,.., Vì thế, cách tiếp nhận sự giao lưu văn hóa của giới trẻ cũng vô cùng đa dạng. Nhìn chung, đa phần các bạn trẻ biết kết hợp hài hòa giữa việc tiếp thu cái mới và nâng niu cái truyền thống. Người trẻ biết tận dụng lợi thế về công nghệ thông tin để quảng bá vẻ đẹp của đất nước, xây dựng hình ảnh con người Việt Nam thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế. Những giá trị văn hóa âm nhạc, thời trang xưa kia được làm mới để dễ dàng tiếp cận với thị hiếu người trẻ. Không chỉ vậy, các bạn trẻ còn biết mạnh mẽ khẳng định chủ quyền và độc lập dân tộc, yêu thương và giúp đỡ đồng bào. Có thế nói rằng vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng tăng là do có đóng góp không nhỏ của thế hệ trẻ.

38. Tự luận
1 điểm

Nói và nghe

Lập dàn ý, tập luyện cách thuyết trình về đề tài: Nhu cầu giải trí của giới trẻ trong bối cảnh cuộc sống hiện nay.

Xem đáp án

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: Giải trí là cần thiết nhưng chơi bời quá mức, để thời gian trôi qua vô vị là có tội với đời, với tương lai đất nước.

2. Thân bài

a. Giải thích

- Giải trí: là việc mỗi người tham gia vào các hoạt động, các trò chơi để giải tỏa những căng thẳng, khiến cho bản thân trở nên vui vẻ, thoải mái hơn. Giải trí có vai trò quan trọng đối với cuộc sống con người nhưng chúng ta không nên vui chơi quá đà mà bỏ dở công việc của mình.

- Câu nói khuyên nhủ con người biết giải trí có điểm dừng để tránh lãng phí thời gian, bên cạnh đó khuyên nhủ con người sống hãy biết cống hiến cho đất nước, cho xã hội.

b. Phân tích

- Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta không nên để cái tôi, sự ham chơi của mình lấn lướt mà cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh.

- Mỗi người cần sống với nghĩa cử cao đẹp, không để lãng phí thời gian của bản thân cũng như của người khác, sống yêu thương, chan hòa với mọi người xung quanh, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết.

- Ngoài việc rèn luyện giá trị của bản thân, mỗi người một hành động nhỏ, từng bước hướng về tổ quốc, quý trọng thời gian, biết ơn về những gì chúng ta được hưởng.

c. Liên hệ bản thân

Là một học sinh trước hết chúng ta cần học tập thật tốt, nghe lời ông bà cha mẹ, lễ phép với thầy cô. Có nhận thức đúng đắn về việc giữ gìn và bảo vệ tổ quốc. Luôn biết yêu thương và giúp đỡ những người xung quanh,…

d. Phản đề

Tuy nhiên vẫn còn có nhiều bạn chưa có nhận thức đúng đắn về việc giải trí với tiết kiệm thời gian. Lại có những người không chịu cố gắng vươn lên, cống hiến cho tổ quốc,...

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận: Giải trí là cần thiết nhưng chơi bời quá mức, để thời gian trôi qua vô vị là có tội với đời, với tương lai đất nước

39. Tự luận
1 điểm

Hãy nêu các việc cần chuẩn bị để thực hiện bài thuyết trình với đề tài: Việc xây dựng các mối quan hệ xã hội tích cực của lớp trẻ trong cuộc sống.

Xem đáp án

Để thuyết trình về một đề tài cụ thể như đã nêu, cần thực hiện các bước chuẩn bị. Cụ thể:

– Xác định mục đích thuyết trình, tìm hiểu về người nghe.

– Tìm ý, lập dàn ý cho bài thuyết trình (xem cách làm ở bài tập 1). Ở đây, một số ý cần được làm rõ:

+ Lớp trẻ thường có những mối quan hệ xã hội nào?

+ Thế nào là mối quan hệ xã hội tích cực?

+ Các mối quan hệ xã hội tích cực có tác dụng như thế nào trong việc hình thành nhân cách, lối sống, cách ứng xử và định hướng nghề nghiệp cho lớp trẻ?

+ Lớp trẻ cần làm gì để xây dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội tích cực?

– Tìm các tư liệu cần thiết, các tranh ảnh, phim ngắn liên quan đến đề tài Việc xây dựng các mối quan hệ xã hội tích cực của lớp trẻ trong cuộc sống để sử dụng khi thuyết trình, làm cho nội dung thuyết trình phong phú.

– Kiểm tra các phương tiện hỗ trợ cần dùng.