Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 1: Khả năng lớn lao của tiểu thuyết có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ văn 12 KNTT Bài 1: Khả năng lớn lao của tiểu thuyết có đáp án

A
Admin
VănLớp 1262 lượt thi
39 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Bài tập 1. Đọc lại văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 11 – 17) và trả lời các câu hỏi:

Nêu ấn tượng chung của bạn khi đọc văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.

Xem đáp án

- Đó có thể là ấn tượng về nội dung sự kiện được kể trong văn bản hay nghệ thuật trào phúng của tác giả.

- Đó cũng có thể là ấn tượng về sự hấp dẫn của câu chuyện hay sự bộn bề của các chi tiết, chân dung được miêu tả thể hiện.

=> Nói chung, việc nói ra được ấn tượng nổi bật của mình luôn có ý nghĩa khởi động tích cực cho việc phân tích, đánh giá sâu hơn đối với văn bản ở bước tiếp theo của quá trình đọc.                                                           

2. Tự luận
1 điểm

Bạn hiểu như thế nào về nhân vật Xuân Tóc Đỏ qua những điều được kể trong văn bản? Giữa tính cách của Xuân Tóc Đỏ với môi trường, hoàn cảnh xã hội thời thuộc địa có mối liên hệ gì?

Xem đáp án

– Xuân Tóc Đỏ có một số tài lẻ, đủ để loè thiên hạ (có năng khiếu thể thao, học rất nhanh một số mánh lới quảng cáo bản thân, biết “hùng biện” và thể hiện mình theo kiểu của một kịch sĩ).

– Xuân Tóc Đỏ sẵn sàng làm một số việc xấu xa để đạt được mục đích (lừa đẩy các địch thủ – Hải và Thụ – vào nhà giam để mình có thể ra sân tỉ thí với tài tử Vọng Các).

– Xuân Tóc Đỏ là một kẻ hợm mình, trịch thượng, mỗi khi hắn gặp điều kiện thuận lợi có thể phô trương “danh tiếng”.

– Nói chung, Xuân Tóc Đỏ là một kẻ vô hạnh, biết tận dụng sự đảo điên của thời leo cao đến ngôi vị ngất ngưởng. Xét theo góc nhìn khác, có thể thấy Xuân Tóc Đỏ cuộc, xã hội để nhận vơ những danh hiệu to tát và để chui sâu vào giới thượng lưu, mang một số nét rất đặc trưng của con người thời hiện đại, nổi bật trong đó là khả năng thích ứng rất cao với hoàn cảnh.

Khi nói về mối liên hệ giữa tính cách của Xuân Tóc Đỏ với môi trường, hoàn cảnh xã hội thời thuộc địa, cần thấy được:

– Xuân Tóc Đỏ là con đẻ của một xã hội thực dụng, nhố nhăng, loạn chuẩn, chỉ biết coi trọng vật chất và hư danh, luôn dung dưỡng cho sự dối trá. Nói cách khác, chính xã hội đó đã chi phối sự hình thành tính cách, nhân cách của hắn.

– Ngược lại, chính Xuân Tóc Đỏ cũng góp phần làm cho xã hội sinh ra nó phát triển tới diện mạo đặc trưng, điển hình.

– Vũ Trọng Phụng đã dùng nhân vật Xuân Tóc Đỏ như một thứ thuốc thử để khám phá cái sự thực xã hội mà ông căm ghét. Một khi xã hội vây tròn quanh Xuân, chấp nhận Xuân, tán dương Xuân thì bản chất của xã hội đó như thế nào đã lộ ra hết cả.

3. Tự luận
1 điểm

Phân tích tính logic của sự kiện Xuân Tóc Đỏ được tung hô là “anh hùng cứu quốc”. Theo bạn, điểm mấu chốt của sự kiện này nằm ở đâu?

Xem đáp án

– Xuân Tóc Đỏ được tung hô do sự mê lầm của công chúng trước cách lập luận đơn giản, hời hợt về những hành động hắn đã làm.

– Sự mê lầm của công chúng lại có nguyên nhân từ lời lẽ lừa mị, đánh tráo bản chất vấn đề của ông bầu Văn Minh và của chính Xuân Tóc Đỏ.

– Lời lẽ lừa mị của thầy trò Xuân Tóc Đỏ nảy sinh từ sự dung túng của người tổ chức sự kiện, sau cuộc mặc cả vội vàng lúc không khí đối đầu có nguy cơ bột phát giữa hai nước Xiêm, Việt.

– Cuộc mặc cả nói trên lại có liên quan đến cú lừa đảo chính trị của những kẻ chóp bu khi cho trình diễn trò hề đón tiếp vua nước láng liềng.

4. Tự luận
1 điểm

Xác định những biểu hiện của bút pháp châm biếm được sử dụng trong văn bản. Chọn phân tích một câu, đoạn văn hay một chi tiết cho thấy nét đặc sắc trong bút pháp châm biếm đó.

Xem đáp án

Tiểu thuyết Số đỏ từng được mệnh danh là tiểu thuyết cười dài hoặc tiểu thuyết hoạt kê. Ở đây, bút pháp châm biếm của tác giả đã đạt trình độ bậc thầy. Các biểu hiện đáng chú ý của bút pháp châm biếm này: phóng đại các sự kiện, nhân vật lên đến mức dường như phi lí; tạo một số tình huống đặc biệt để đánh rơi mặt nạ hào nhoáng mà các nhân vật chính thường đeo; đưa ra các chi tiết đặc sắc có khả năng gây cười; trộn lẫn các loại ngôn ngữ vốn có sự tương phản chói gắt; sử dụng thường xuyên biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ;...

5. Tự luận
1 điểm

Bạn có cảm nhận gì về hình tượng công chúng được khắc hoạ trong văn bản?

Xem đáp án

– Công chúng ở đây gồm những ai? (Đó là tập hợp những người không được khắc hoạ chân dung cụ thể, tạo thành một đám đông tham dự theo kiểu phụ hoa một sự kiện nào đó; trong Xuân Tóc Đỏ cứu quốc, công chúng là những ngườ tham dự sự kiện thể thao long trọng để chào đón vua nước Xiêm, hoan hô hay đả đảo các nhân vật chính, có tiếng nói hoà chung tạo thành dư luận khiến nhà cầm quyền hay các nhân vật chính phải bận tâm đối phó,...)

– Công chúng đã có những phản ứng gì trước các sự kiện từ to đến nhỏ (Phản ứng chủ yếu: bỏ xem chỗ này, kéo đi xem chỗ kia; tạo thành tiếng ồn trên khán đài bằng những tiếng hò reo hay hô hoán; cuốn theo nhân vật chính đá nghe diễn thuyết...)

– Đặc điểm của công chúng qua các phản ứng bột phát là gì? (Có cái nhìn cảm tính về mọi sự vật, sự việc; dễ bị dắt mũi, dễ tin theo sự lèo lái của nhà cầm quyền hoặc của các nhân vật chính; dễ bị kích động để lâm vào trạng thái lên đồng không thể kiểm soát;...)

6. Tự luận
1 điểm

Nếu nói tiểu thuyết có sức mạnh vô song trong việc bao quát cả bề rộng lẫn bề sâu của hiện thực thì văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã thể hiện điều đó như thế nào?

Xem đáp án

1. Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã miêu tả tài tình bức tranh xã hội rộng lớn của Việt Nam thời thuộc địa

2. Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã thể hiện sự khám phá sâu sắc đáng kinh ngạc của tác giả về bản chất của một thời Âu hoá pha tạp, lai căng.

– Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã lia máy quét toàn cảnh bộ mặt xã hội trước một sự kiện thể thao – chính trị được tuyên truyền rầm rộ.

– Trong văn bản có sự xuất hiện của rất nhiều tầng lớp xã hội với những chân dung tiêu biểu, từ quan chức tai to mặt lớn đến đám đông vô danh, từ kẻ nắm sứ mệnh cai trị đến kẻ ăn chơi “vui vẻ trẻ trung, từ kẻ giật dây đến kẻ cử động chân tay như con rối,...

– Văn bản phản ánh được nhiều mưu mô đang làm chuyển động cả một xã hội từ tầng cao đến tầng thấp, từ mưu mô có thể tác động ngay đến toàn xã hội đến mưu mô lặt vặt phát huy tác dụng trước hết chỉ trong những quan hệ cá nhân.

– Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã nhìn thấu hay “đọc vị” được bản chất của một xã hội đang nhảy múa theo những vũ điệu kì dị, xa lạ với văn minh, văn hoá đích thực.

– Văn bản đã soi tỏ từng tính toán đầy màu sắc con buôn của mọi loại hình nhân vật vốn đang chấp nhận một cách tự nhiên sự tồn tại của thể chế thuộc địa tồi tệ.

– Văn bản cho thấy tác giả đã nắm bắt được linh hồn của các loại ngôn ngữ hà đang tương tác với nhau để làm nên khí quyển tinh thần đặc thù của xã hội (mỗi ngôn ngữ phản ánh sự hiện diện sống động của một loại ý thức xã hội nhất định).

7. Tự luận
1 điểm

Bài tập 2. Đọc lại văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 14 – 15), đoạn từ “Mấy giơ đầu ở séc thứ ba” đến “Được thì chết! Chiến tranh!” và trả lời các câu hỏi:

Phân tích sự tương phản giữa cử chỉ, hành động của vua Xiêm cùng những người hầu cận và cử chỉ, hành động của các quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều được miêu tả trong đoạn văn bản.

Xem đáp án

– Trong khi vua Xiêm có những biểu hiện rất “tiểu khí” thì quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều lại bộc lộ một kiểu ý nhị mang tính chịu đựng. Điều đó cho thấy quan hệ ngoại giao bất bình đẳng giữa hai bên và làm lộ bản chất sự kiện viếng thăm.

– Trong khi vua Xiêm thể hiện thái độ hiếu chiến không giấu giếm thì quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều lại hốt hoảng tìm cách giảm nhiệt bằng thái độ nhân nhượng vô nguyên tắc. Điều này tiếp tục cho thấy chuyến viếng thăm ngoại giao chỉ là một trò dàn dựng lố bịch nhằm vào những mục đích riêng (mỗi bên có một mục đích cụ thể), đối lập với mọi lời lẽ tuyên truyền bóng bẩy.

– Qua sự tương phản đã miêu tả, nhà văn cùng lúc hạ bệ cả hai đối tượng, biến họ cũng như một sự kiện mang tầm quốc gia, quốc tế thành trò cười trước độc giả.

8. Tự luận
1 điểm

Bản chất của hoạt động thể thao được tổ chức nhân dịp đón tiếp vua nước láng giềng đã bị tác giả phơi trần như thế nào? Bạn có nhận xét gì về cách nhìn và khám phá hiện thực của nhà văn?

Xem đáp án

- Diễn ra với hình thức giả tạo: mặc dù nó được tổ chức công phu và có vẻ trọng thể, nhưng bản chất của sự kiện không phải là để thể hiện tinh thần thể thao thực sự hay là để tôn vinh những giá trị thể thao, mà chủ yếu là để tạo ấn tượng và lấy lòng vua nước láng giềng.

- Như một trò cười và hết sức lố bịch

- Mang mục đích chính trị và xã hội: nó được tổ chức nhằm tạo ấn tượng tốt với vua nước láng giềng và củng cố vị trí của các quan chức và những người có quyền lực trong xã hội.

- Các nhìn và khám phá hiện thực của nhà văn: 

+ Tính châm biếm và phê phán: sự yếu kém và lố bịch của các quan chức trong việc tổ chức, điều hành...

+ Khám phá những vấn đề xã hội và chính trị: Ông chỉ trích sự kém hiệu quả của các quan chức, sự giả tạo trong các hoạt động công cộng, và sự thiếu trách nhiệm trong quản lý quốc gia.

+ Phơi trần sự giả tạo trong các hoạt động công cộng

à Điều này giúp làm nổi bật sự mâu thuẫn và những vấn đề nghiêm trọng trong quản lý xã hội và chính trị thời bấy giờ

9. Tự luận
1 điểm

Nêu nhận xét về nhịp điệu trần thuật (miêu tả, kể) trong đoạn văn bản.

Xem đáp án

Nhịp điệu là một phương diện hay yếu tố quan trọng của nghệ thuật trận thuật. Nhận xét về nhịp điệu chính là nhận xét về cách tổ chức ngôn ngữ phù hợ với đặc điểm của hành động, sự vật, sự việc được miêu tả, cũng phù hợp với các nhìn nhận, đánh giá của người kể chuyện hay tác giả về các đối tượng đó. Khi nó đến nhịp điệu, cần chú ý các dấu hiệu hình thức nổi bật sau:

– Độ dài ngắn của các câu văn và kiểu phân bố của chúng trong đoạn văn.

– Việc chiếm ưu thế của tính từ hay động từ.

– Việc ưu tiên diễn tả tâm lí hay hành động.

– Sự xuất hiện nhiều hay ít của các kiểu câu như: câu kể, câu khiến, câu nghi vấn,... Sau khi chỉ ra các dấu hiệu nói trên, cần nói được hiệu quả của việc kết học chúng với nhau, vì nhịp điệu là cái toát ra từ tổng thể các yếu tố ngôn ngữ đó.

10. Tự luận
1 điểm

Lập bảng liệt kê, so sánh các từ ngữ, chi tiết được sử dụng để miêu tả phản ứng của đám đông và phản ứng của các yếu nhân (nhân vật quan trọng) của buổi lễ. Căn cứ vào bảng liệt kê, so sánh đó, hãy rút ra những nhận xét phù hợp.

Xem đáp án

Nhân vật

Phản ứng

Nhận xét

Vua Xiêm

- “Tức thì lôi trong áo ra cái bản đồ Ấn Độ Chi Na...Hoành Sơn.”

- “Ngắm nghía cái bản đồ... không nhìn ra cuộc đấu” 

Khi thấy tài tử của mình không lấn át được Xuân, ông đã vô cùng tức giận, và hành động này là sự cảnh cáo và đe dọa của ông về chiến tranh có thể xảy ra.

Vua quan Đức và viên quan hầu Nhật

Thì thào “La guerre! La guerre!” 

Hùa theo vua Xiêm

Công chúng Pháp – Nam 

“ngây thơ, vô lo vô lự, vẫn vỗ tay rầm rộ để ủng hộ Xuân” 

Họ đơn giản, thể hiện đúng tinh thần thể thao, ủng hộ cuồng nhiệt cho người chiến thắng mà không biết ẩn sau hoạt động giải trí là một mục đích mang tính chính trị. 

Các quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều

“đưa mắt nhìn nhau”

Tỏ ra sự lo lắng trước sự không chút nhún nhường của Xuân 

Giám đốc chính trị Đông Dương 

“rỉ tai” ông bầu Văn Minh về bản chức tối hệ trọng về việc nhờ thua quân Xiêm 

Vội vã, gấp gáp bỏ khán đài, chạy xuống đi tìm ông bầu vì đây là một việc hệ trọng, có liên quan đến vận mệnh của đất nước.

à Cứu vãn tình hình bằng phương án nhường đối thủ, đây là một lối suy nghĩ hèn nhát, thiển cận của các quan chức lúc đó.

Ông bầu Văn Minh

“đứng ngạc nhiên há hốc mồm ra” 

“liền thất thanh khẽ bảo nó: Thua đi! Nhường đi! Được thì chết! Chiến tranh!”

Nhân vật như ông Văn Minh rất ngây ngô, khó hiểu khi nghe lời đề xuất của Ông Giám đốc chính trị Đông Dương vì nó quá vô lí.

11. Tự luận
1 điểm

Nếu đặt mình trong vai nhà đạo diễn phim muốn đưa cảnh được miêu tả trong đoạn văn bản lên màn ảnh, bạn sẽ nêu những yêu cầu cơ bản nào đối với nhóm làm phim của mình?

Xem đáp án

Trong vai đạo diễn, cần hình dung được một số điều cơ bản như:

– Cảnh quay bao quát và cảnh quay đặc tả.

– Biểu cảm của các nhân vật chính và nhân vật đám đông thể hiện qua nét mặt, dáng điệu, cử chỉ.

– Tốc độ lia nhanh và tốc độ rà chậm của máy quay.

– Sự tương phản về âm lượng của những loại tiếng động khác nhau.

12. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

Sự thật của Số đỏ, chính là cái cười. Cái cười trong Số đỏ không phải là những phương thức nghệ thuật để chuyên chở tư tưởng của tác phẩm. Cái cười ở đây là bản chất, là tinh tuý của văn bản nghệ thuật; nó đồng nhất với thế giới quan của tác giả; nó là tất cả tác phẩm – cái cười đa diện, cái cười vừa khẳng định vừa bác bỏ, cái cười lớn luôn luôn để ngỏ, không khép kín, không khô cứng. Nhiều nhà phê bình đã nói sâu sắc về cái hoạt kê, cái cười hể hả, cái hài hước, cái châm biếm, nhạo báng, cái hề, cái bouffon v.v... của Số đỏ. Tôi hiểu thêm rằng Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn. Số đỏ nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hoá. Nó nhại một trào lưu văn hoá, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, táp nham, lổn nhổn, không ăn khớp – ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù. Số đỏ là một tập hợp hỗn loạn những phong cách kì dị, quái gở, lấn át nhau, xen kẽ nhau, phá huỷ nhau, – để biểu đạt chính xác cái xã hội quái dị ấy. Và chưa mấy ai thấy cái cười của Vũ Trọng Phụng, ở đây, ẩn giấu tư tưởng nhân đạo đầy bao dung, cái cười nhân văn chủ nghĩa.

(Đỗ Đức Hiểu, Những lớp sóng ngôn từ trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, in trong Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội – NXB Mũi Cà Mau, 1994, tr. 223 – 224)

Ở ba câu văn đầu tiên trong đoạn trích, tác giả đã cho biết quan niệm của mình về cái cười trong tiểu thuyết Số đỏ như thế nào?

Xem đáp án

Ở ba câu văn đầu tiên của đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã cho biết quan niệm của mình về cái cười trong tiểu thuyết Số đỏ như sau: Cái cười trong Số đỏ không phải là những phương thức nghệ thuật để chuyên chở tư tưởng của tác phẩm. Cải cười ở đây là bản chất, là tình tuỷ của văn bàn nghệ thuật, nó đồng nhất với thế giới quan của tác giả: nó là tất cả tác phẩm - cái cười đa diện, cái cười vừa khẳng định vừa bác bỏ, cái cười lớn luôn luôn để ngỏ, không khép kín, không khô cứng.

13. Tự luận
1 điểm

Giải thích luận điểm của tác giả về “cái cười nhại” trong tiểu thuyết Số đỏ.

Xem đáp án

Để hiểu luận điểm của tác giả về “cái cười nhại” trong tiểu thuyết Số đỏ, cần hiểu “cái cười nhại” không phải là một từ ngữ thông thường, mà là thuật ngữ mang nghĩa riêng. Gắn với “cái cười nhại” là việc mô phỏng đối tượng, cho đối tượng hiện diện với đầy đủ đặc điểm riêng biệt của nó nhưng tác giả lại gài bên ăn trong ý châm biếm, hạ bệ. Nhìn bề ngoài, có thể nghĩ chính đối tượng tự phô bày bản chất kệch cỡm, lố lăng chứ không phải ai khác đang vạch trần nó. Đó là lí do tác giả dùng từ nhại chứ không phải dùng từ đả kích hay châm biếm trong những câu văn như: “Số đỏ nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hoá”. Cần chỉ ra những đối tượng bị nhại cụ thể mà tác giả đã liệt kê.

14. Tự luận
1 điểm

Nội dung đoạn trích gợi cho bạn liên hệ đến ý nào trong đoạn trình bày về khái niệm tiểu thuyết hiện đại ở phần Tri thức ngữ văn của SGK (tr. 9 – 10)?

Xem đáp án

Nội dung của đoạn trích gợi liên hệ: Có kết cấu nhiều tầng lớp tuyến tính và phi tuyến tính; có sự đan xen của nhiều bè ngôn ngữ, phản ánh sự tồn tại, xung đột thường xuyên giữa các ý thức xã hội.

15. Tự luận
1 điểm

“Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, táp nham, lổn nhổn, không ăn khớp – ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù” – khái quát đó của tác giả đoạn trích có thể tìm được minh chứng ở văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc như thế nào?

Xem đáp án

Có thể nói đến các loại ngôn ngữ sau:

- Ngôn ngữ của nhà cầm quyền (được thể hiện gián tiếp qua lời người kể chuyện).

- Ngôn ngữ của những kẻ đầu cơ chính trị và thể thao với mục đích trục lợi.

- Ngôn ngữ vỉa hè của kẻ hạ lưu như Xuân Tóc Đỏ, nhưng được đánh bóng bằng lớp men trang trọng của ngôn ngữ chính khách.

- Ngôn ngữ của đám đông u mê nhưng dễ bị kích động.

- Ngôn ngữ của thứ văn chương đạo mạo đã hết thời, chỉ còn tồn tại như cái xác vô hồn.

16. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Nỗi buồn chiến tranh trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 19 – 24) và trả lời các câu hỏi:

Tóm tắt các sự việc được kể trong từng phần của văn bản và nêu rõ mối quan hệ giữa các sự việc trong hai phần.

Xem đáp án

- Phần 1: Đoạn trích nói về nhân vật Kiên, một anh bộ đội bước ra từ cuộc chiến với những chấn thương tâm hồn nặng nề, sau thành nhà văn, để lại một đống bản thảo "rối bời" khiến nhân vật "tôi" - người kể chuyện - phải suy tư không dứt. Phần đầu, người kể chuyện ở ngôi thứ ba kể về trạng thái luôn sống với kí ức chiến tranh của nhân vật Kiên - dòng kí ức đã thôi thúc anh cầm bút để ghi chép lại tất cả trải nghiệm của một đoạn đời đặc biệt. 

- Phần 2: Sang đến phần hai, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng "tôi", kể về những ấn tượng, cảm xúc và suy tư của mình khi đối diện với “núi bản thảo” bộn bề mà Kiên bỏ lại. Đó là ấn tượng, cảm xúc và suy tư về nhân vật Kiên, về quyền được nhớ lại, về niềm hạnh phúc đang chờ đợi những ai muốn đi ngược thời gian để sống trọn vẹn với những gì đã xảy ra trong quá khứ, về chiến tranh, về ý thức bảo vệ phẩm giá ở mỗi người trong hoàn cảnh thử thách khốc liệt,...

à Đoạn trích xoay quanh tâm lí của nhân vật Kiên, những kí ức về một thời oanh tạc chiến trường tràn về trong kí ức ông, kèm theo nỗi cô đơn của thời bình đã giúp ông viết cuốn tiểu thuyết của mình. Nhân vật “tôi” là người cùng cơ quan của Kiên, sau khi Kiên bỏ đi, “tôi” nhận số bản thảo của Kiên để lại và dần thấu hiểu Kiên.

17. Tự luận
1 điểm

Cắt nghĩa nguyên nhân thúc đẩy nhân vật Kiên cầm bút viết văn qua những gì được trần thuật (kể) trong văn bản.

Xem đáp án

Nguyên nhân thúc đẩy nhân vật Kiêm cầm bút viết văn qua những gì được trần thuật (kể) trong văn bản:

- Kiên cầm bút viết văn trước hết do sự thúc đẩy tự nhiên của một kí ức đầy ắp hình ảnh và sự kiện.

- Quan trọng hơn, Kiên viết văn với ý thức hoàn toàn sáng rõ rằng phải làm sống lại những ngày qua để chiêm nghiệm, suy ngẫm về chiến tranh và cái giá phải trả cho nó.

- Kiên cầm bút viết văn để được phục sinh về mặt tinh thần, để được gặp lại niềm hạnh phúc từng có thuở anh còn sống giữa đồng đội và cùng chia sẻ với họ bao niềm vui, nỗi buồn.

18. Tự luận
1 điểm

Theo bạn,“nỗi buồn chiến tranh” nặng nề, dai dẳng ở nhân vật Kiên có phải là trạng thái tâm lí chung của tất cả những người từng tham gia chiến trận hay không? Qua lí giải vấn đề này, bạn hiểu thế nào về tính chân thật của những gì được miêu tả trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh nói riêng và trong tiểu thuyết nói chung?

Xem đáp án

Về vấn đề câu hỏi đưa ra, lời nói sau đây của người kể chuyện xưng “tôi” có thể giúp tìm được lời đáp: “Tuy nhiên riêng anh thì nỗi buồn chiến tranh do nhiều lí do mà nặng nề hơn nhiều so với tôi”. Nhưng muốn hiểu sâu hơn vấn đề, cần đọc lại những tác phẩm viết về chiến tranh đã học hoặc được gợi ý tìm kiếm (như Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi). Có thể thấy nhiều nhân vật được miêu tả trong đó không bị nỗi buồn chiến tranh ám ảnh nặng nề, dai dẳng, bất thường như Kiên. Một vấn đề nảy sinh cần suy nghĩ thấu đáo là: Phải chăng việc miêu tả hiện thực chiến tranh trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh chưa đạt tính chân thật, khi nó chỉ tập trung soi tỏ một hiện tượng có phần cá biệt? Từ đây, cần nhận thức được:

- Tính chân thật của sáng tác văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng không phụ thuộc vào việc những gì được nhà văn miêu tả có phù hợp với thói quen nhìn nhận của số đông hay không.

- Tính chân thật của tác phẩm không hạn chế nhà văn nói về những đối tượng dị biệt, có những trải nghiệm “không giống ai”.

- Tính chân thật của tác phẩm vẫn được đảm bảo khi nhà văn chỉ đề cập một khía cạnh, phương diện của hiện thực đời sống mà không phải là tất cả.

- Tính chân thật của tác phẩm cần được đo bằng sự thiết yếu của vấn đề mà nhà văn đặt ra, buộc người đọc phải cùng suy tư, nghiền ngẫm.

- Theo những điều được nêu ở trên, có thể nói tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh là một tiểu thuyết chân thật, mặc dù nhà văn chỉ khai thác mặt bi thảm của chiến tranh cũng như chỉ tập trung soi tỏ nỗi buồn triền miên của nhân vật chính.

19. Tự luận
1 điểm

Người kể chuyện xưng “tôi” đã thay đổi cách nhìn, cách đọc đối với những trang bản thảo mà Kiên để lại như thế nào? Qua sự việc này, bạn rút ra được bài học gì về cách đọc đối với một số tiểu thuyết có lối kết cấu đặc thù?

Xem đáp án

- Người kể chuyện xưng “tôi” đã thay đổi cách nhìn và cách đọc đối với những trang bản thảo mà Kiên để lại bằng cách không còn cố gắng lý giải trình tự xuất hiện trong bản thảo nữa. Thay vào đó, anh ta tiếp nhận chúng một cách tự nhiên, theo lối nhận thức riêng của mình. Điều này cho thấy rằng, đối với những tiểu thuyết có lối kết cấu đặc thù, không nhất thiết phải tuân theo một trình tự cố định mà có thể dựa vào tâm lý nhân vật và dụng ý của tác giả.

- Qua sự việc này, bài học rút ra là khi đọc những tiểu thuyết có kết cấu phức tạp, chúng ta nên linh hoạt và mở lòng đón nhận các cách tiếp cận khác nhau. Điều này giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tác phẩm và cảm nhận được ý đồ nghệ thuật của tác giả.

20. Tự luận
1 điểm

Qua đọc hai văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc và Nỗi buồn chiến tranh trong mối liên hệ với nhan đề của bài học, bạn có thể phát biểu điều gì về “khả năng lớn lao của tiểu thuyết”?

Xem đáp án

- Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: Tác phẩm sử dụng nhân vật Xuân Tóc Đỏ để phê phán xã hội đương thời, từ đó làm nổi bật những vấn đề xã hội và chính trị. Tiểu thuyết có khả năng tạo ra những nhân vật sống động, qua đó phản ánh hiện thực xã hội một cách sinh động và sâu sắc.

- Nỗi buồn chiến tranh: Tác phẩm này khai thác những nỗi đau và mất mát trong chiến tranh, không chỉ từ góc nhìn của người lính mà còn từ những người thân yêu của họ. Tiểu thuyết có khả năng đi sâu vào tâm hồn con người, khám phá những cảm xúc phức tạp và những trải nghiệm cá nhân trong bối cảnh lịch sử lớn.

à Qua hai tác phẩm này, ta thấy rằng tiểu thuyết không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một công cụ mạnh mẽ để phản ánh hiện thực, khám phá tâm lý con người và truyền tải những thông điệp sâu sắc về cuộc sống và xã hội.

21. Tự luận
1 điểm

Đọc lại văn bản Nỗi buồn chiến tranh trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 23 – 24), đoạn từ “Nhưng chúng tôi còn có chung” đến “trong trắng và chân thành” và trả lời các câu hỏi:

Người kể chuyện xưng “tôi” đã bày tỏ sự đồng cảm như thế nào với “nỗi buồn chiến tranh” của nhân vật Kiên?

Xem đáp án

Người kể chuyện xưng “tôi” đã bày tỏ sự đồng cảm với “nỗi buồn chiến tranh” của nhân vật Kiên:

- Người kể chuyện xưng “tôi” đã chia sẻ và thấu hiểu “nỗi buồn chiến tranh” của nhân vật Kiên, không xem đó là biểu hiện của cái gì dị thường, cá biệt.

- Người kể chuyện xưng “tôi” có cùng nhận thức với Kiên về giá trị tích cực của nỗi buồn.

- Người kể chuyện xưng “tôi”, xét từ quan điểm sống thông thường của đa số người đời, tỏ thái độ xót xa trước việc “Nỗi buồn ấy ngăn không cho anh cảm thấy một chút nhẹ lòng trong đời sống hiện tại”…

- Người kể chuyện xưng “tôi” thực sự hiểu niềm hạnh phúc mà Kiên được hưởng “trên con đường hướng mãi về quá khứ – một niềm hạnh phúc mà “tôi” phải cảm thấy “ghen tị”.

22. Tự luận
1 điểm

Nêu cách hiểu của bạn về ý nghĩ sau đây của nhân vật “tôi”: “Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi bị chôn vùi trong cảnh chém giết triền miên, trong cảnh khốn khổ của những tay súng, những đầu lê, trong ám ảnh bạo lực và bạo hành, để bước trở lại con đường riêng của mỗi cuộc đời”. Theo bạn, ở đoạn giới thiệu về tác phẩm trong SGK (tr. 24), có câu nào liên quan đến ý nghĩ này?

Xem đáp án

- Ý nghĩ của nhân vật “tôi” có thể làm HS cảm thấy khó hiểu, vì theo logic thông thường, nỗi buồn là hậu quả của chiến tranh chứ không phải cái gì tồn tại độc lập với nó, như một phương tiện để có thể đưa những người lính thoát khỏi chiến tranh. Điều này cho thấy phải suy nghĩ lại nội dung khái niệm nỗi buồn theo cách nhìn nhận của tác giả, trước khi nêu cách hiểu về ý nghĩ mà nhân vật “tôi” đã bộc lộ.

- Theo tôi, ở đoạn giới thiệu về tác phẩm trong SGK (tr. 24), có những câu sau liên quan đến ý nghĩ này:

+ Theo tác giả, cũng như theo nhân vật Kiên, nỗi buồn không đơn thuần là một trạng thái tâm lí, cảm xúc có thể biểu lộ ở bề mặt khiến người ngoài dễ nhận thấy. Nhìn sâu xa hơn, nó đích thực là cơ chế tự vệ của tính người (nhân tính) trước những tác động tiêu cực có thể làm con người đánh mất bản thân mình.

+ Nỗi buồn khiến con người biết chán ghét chiến tranh mặc dù đã tham gia chiến tranh. Với nỗi buồn, con người bảo vệ được mình, vẫn còn là con người, thoát khỏi tình trạng bị chiến tranh đồng hoá, sai khiến đến nỗi chỉ còn tồn tại như một công cụ chém giết. Cũng với nỗi buồn, những tổn thương tinh thần sẽ mau được chữa lành để người ta có thể hoà nhập với cuộc sống bình thường sau khi chiến tranh kết thúc.

+ Theo diễn giải ở trên, nỗi buồn có một giá trị nhân bản rất lớn, cần được tôn trọng và bảo vệ, để đến lượt nó, nỗi buồn sẽ bảo vệ con người tránh được tha hoá để tồn tại vững vàng ngay cả trong hoàn cảnh đầy những điều phi nhân, tàn bạo.

23. Tự luận
1 điểm

Người kể chuyện xưng “tôi” biết rõ nỗi buồn chiến tranh nặng nề của Kiên mà vẫn nói rằng Kiên có niềm lạc quan đáng phải ghen tị. Cần giải đáp như thế nào về nghịch lí này?

Xem đáp án

Người kể chuyện xưng “tôi” biết rõ nỗi buồn chiến tranh nặng nề của Kiên mà vẫn nói rằng Kiên có niềm lạc quan đáng phải ghen tị.

- Nỗi buồn chiến tranh liên quan đến niềm tin vào ý nghĩa của những gì người lính đã nếm trải. Dù nếm trải đó có cay đắng bao nhiêu thì nó vẫn có ý nghĩa tích cực, cho người ta một cơ hội để hiểu rõ bản thân mình, hiểu rõ những gì cần từ bỏ hay cần gìn giữ. Rõ ràng, việc truy ngược hành trình đã từng trải qua bằng kí ức là điều hoàn toàn cần thiết.

- Nỗi buồn chiến tranh đưa lại cho nhân vật niềm hạnh phúc thật sự khi “mãi mãi được sống trong mùa xuân của những tình cảm mà ngày nay đã mai một hoặc đã già cỗi và biến tướng”. Nhìn tổng thể, chiến tranh gắn với sự hung bạo, huỷ diệt, tàn phá, chết chóc. Nhưng để thắng được chiến tranh, chất người của con người phải mạnh hơn. Chính vì thế, với nỗi buồn chiến tranh, nhân vật Kiên đã “vĩnh viễn được sống trong những ngày tháng đau thương nhưng huy hoàng”. Như vậy, Kiên đã tin và đã gặp cái cần gặp. Đây rõ ràng là niềm lạc quan của anh.

24. Tự luận
1 điểm

Qua đoạn văn bản này, bạn hiểu như thế nào về ý nghĩa của một câu xuất hiện ở phần một của văn bản: “Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa”?

Xem đáp án

“Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa” được hiểu:

- Việc Kiên để cho nỗi buồn chiến tranh vây bủa toàn bộ trạng thái tinh thần của mình cần được hiểu là một sự lựa chọn đầy ý thức. Anh nhìn thấy ở đó một sứ mệnh cao cả: không để những năm tháng của quá khứ bị tuột trôi mà không lưu lại được bài học gì đáng giá về cuộc đấu tranh gian khổ nhằm bảo vệ nhân tính. Rõ ràng, anh đã tìm được ý nghĩa của cuộc đời mình trong công việc nhớ và viết đầy nhọc nhằn này. Đó chính là cách anh làm cho cõi tinh thần hoang tàn của mình được phục sinh (sống lại).

- Khi thực hiện sứ mệnh cao cả như đã nêu, chính Kiến cũng được hưởng niềm hạnh phúc đặc biệt, bởi anh “được trở lại với tình yêu, tình bạn, tình đồng chí những tình cảm đã giúp chúng ta vượt qua muôn ngàn đau khổ của chiến tranh”.

25. Tự luận
1 điểm

Nỗi buồn đậm đặc trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh phải chăng phản ánh cái nhìn một chiều của tác giả về hiện thực cuộc sống? Đoạn văn bản này có thể giúp bạn giải đáp vấn đề vừa nêu như thế nào?

Xem đáp án

Nỗi buồn đậm đặc trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh phải chăng phản ánh cái nhìn một chiều của tác giả về hiện thực cuộc sống. Một cuộc chiến tranh vì mục đích cao cả (cứu nước, bảo vệ độc lập dân tộc), bên cạnh mặt bi còn có mặt hùng. Tiểu thuyết của Bảo Ninh, như nhan đề của nó dường như chỉ phản ánh mặt bi với rất nhiều chấn thương tinh thần nặng nên những người đã trực tiếp trải qua cuộc chiến. Nhưng điều đó không có nghĩa là tác giả đã có cái nhìn phiến diện về một hiện thực vĩ đại trên đất nước ta trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến năm 1975. Một tác phẩm có quyền chỉ chọn thể hiện riêng một mặt nào đó mà tác giả thấy có thể nêu được những thông điệp có ý nghĩa nhất. Điều này, nhà văn Bảo Ninh ý thức rất rõ. Chính đoạn văn bản được đề cập ở đây chứng minh điều đó. Nói nhiều về nỗi buồn không có nghĩa là tác phẩm thiếu niềm lạc quan.

26. Tự luận
1 điểm

Bài tập 6. Đọc nhận định sau về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và trả lời các câu hỏi:

Song điều khiến tôi kinh ngạc trong tiểu thuyết này, không chỉ là sự tàn khốc của chiến tranh cũng như sự huỷ diệt của nó đối với tâm hồn con người, mà còn là cách thức xử lí hình thức nghệ thuật trong văn bản tiểu thuyết – tức phương pháp sáng tác tiểu thuyết: sáng tác của nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của nhân vật chính của tiểu thuyết – Kiên, câu chuyện chiến tranh về Kiên và các nhân vật khác mà Bảo Ninh kể, câu chuyện về thân phận trong tiểu thuyết mà Kiên sáng tác cho đến cả việc đọc và sắp xếp cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết của người viết ở cuối tác phẩm, tất cả tạo nên một cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp, khiến cho Nỗi buồn chiến tranh đạt đến kết cấu gấp hộp một cách vô cùng thành công. Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mĩ đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết, khiến cho phong cách trữ tình và nghị luận kiểu sân khấu kịch trong văn học truyền thống phương Đông trở thành thứ màu sắc phương Đông trong văn học thế giới [...].

(Diêm Liên Khoa, Tầm cao của văn học chiến tranh phương Đông, Thiên Thai dịch, tạp chí Tia sáng, ngày 19/5/2016)

Xác định vấn đề chính được đề cập trong nhận định trên.

Xem đáp án

Vấn đề chính: Phương pháp sáng tác tiểu thuyết độc đáo và sáng tạo của nhà văn Bảo Ninh.

27. Tự luận
1 điểm

Câu 2 trang 7 SBT Ngữ Văn lớp 12 Tập 1. Hiện tượng “cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp” mà tác giả Diêm Liên Khoa khen ngợi đã được biểu hiện cụ thể như thế nào ở tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh? (Dựa vào nội dung văn bản và phần giới thiệu tác phẩm trong SGK để trả lời.)

Xem đáp án

Có thể nói Nỗi buồn chiến tranh là cuốn tiểu thuyết có “cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp” vì các biểu hiện cụ thể sau:

- Nỗi buồn chiến tranh là cuốn tiểu thuyết viết về một cuốn tiểu thuyết khác. Cuốn tiểu thuyết khác đó do nhân vật Kiên viết mà trong đó Kiên cũng là nhân vật chính. Sự “chồng xếp” của các sáng tác được thể hiện ở đây rất rõ.

- Cuốn tiểu thuyết do Kiên viết có “mạch chuyện không ngừng đứt gãy”, “không hề có nổi một tuyến chung” như lời nhận xét của nhân vật “tôi” khi đọc bản thảo Kiên để lại. Rõ ràng truyện là sự chắp nối của nhiều đoạn hồi ức hay bị điều phối bởi sự bất thường của tâm trí cộng với những tác động đôi khi ngẫu nhiên của một số yếu tố ngoại cảnh. Do vậy, “ghép mảnh” chính là một nét đặc thù của cốt truyện ở tác phẩm này - điều khiến nhân vật “tôi”, sau đó là độc giả cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh thoạt tiên cảm thấy bối rối, khó theo dõi.

- Đọc gần hết tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, người đọc từ chỗ ngỡ nhân vật Kiên sẽ trực tiếp hiện diện cho đến cuối tác phẩm, bỗng nhiên có chút “hụt hẫng” khi thế vào chỗ của anh là nhân vật “tôi”. Lúc đó, Kiên trở thành một “ca” tâm lí được chính nhân vật trong cuốn tiểu thuyết tìm hiểu, nghiên cứu. Điều này làm cho tính chất “ghép mảnh” của cốt truyện Nỗi buồn chiến tranh càng trở nên rõ rệt hơn.

28. Tự luận
1 điểm

Câu 3 trang 7 SBT Ngữ Văn lớp 12 Tập 1. Bạn hiểu như thế nào về ý sau đây của tác giả nhận định: “Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mĩ đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết”?

Xem đáp án

“Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mĩ đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết” được hiểu:

- “Tính trữ tình” là một phẩm chất cần có, thường có của sáng tác, giúp sáng tác có thể tác động mạnh vào cảm xúc của người tiếp nhận, tạo nên sự đồng cảm giữa nghệ sĩ và công chúng nghệ thuật khi cùng hướng tới một vấn đề nào đó. Mặc dù tính trữ tình có mặt tích cực, nhưng nếu bị lạm dụng, nó dễ hướng người tiếp nhận đi tới những phản ứng cảm tính, thiếu suy xét và không nhận thức được vấn đề một cách thấu đáo. Trong trường hợp này, tính trữ tình thông thường đã chuyển sang “tính trữ tình quá độ” – một điều mà các tác phẩm của nghệ thuật hiện đại rất muốn tránh.

- Từ điều nêu trên, có thể thấy, một yêu cầu đặt ra đối với các tác phẩm của nghệ thuật hiện đại là phải làm sao giảm bớt tính trữ tình để tạo nên sự cân bằng giữa cảm xúc và lí trí; không chi phối, thao túng tâm lí người tiếp nhận mà khơi gợi ở họ ý thức truy xét vấn đề, tìm hiểu bản chất của sự vật, sự việc.

- “Kết cấu gấp hộp” là một trong những thủ pháp mà các tác phẩm thuộc văn học hiện đại thường sử dụng để kích thích sự năng động của người đọc, không bày sẵn những lời giải mà chỉ đưa ra một số dữ kiện cần thiết để người đọc tự xác định, tự tìm lấy câu trả lời thích hợp. Theo đó, các yếu tố tình cảm và lí trí đều được huy động trong quá trình độc giả tiếp xúc với tác phẩm. Có thể lấy một ví dụ rất sát với vấn đề này ngay trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh: nhân vật “tôi” thoạt đầu đã có những đánh giá không tích cực về đống bản thảo mà Kiên bỏ lại, nhưng sau đó, nhân vật “tôi” đã tìm được cách đọc phù hợp để cuối cùng đồng cảm hoàn toàn với Kiên, hiểu rõ những gì mà Kiên muốn thể hiện qua các trang viết của mình.

29. Tự luận
1 điểm

Câu 4 trang 7 SBT Ngữ Văn lớp 12 Tập 1. Từ những điều được Diêm Liên Khoa gợi ý, hãy tìm những biểu hiện của tính trữ tình ở đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh trong SGK và nêu cảm nhận của bạn.

Xem đáp án

Những biểu hiện của tính trữ tình ở đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh trong SGK và nêu cảm nhận:

- Giọng điệu toát lên từ các câu văn là giọng điệu xót thương, gợi lên ở người đọc thái độ gương nhẹ, nâng niu, trân trọng đối với con người đang phải gánh cả một núi nỗi buồn chiến tranh.

- Tác giả sử dụng rất nhiều tính từ khi miêu tả trạng thái cảm xúc của nhân vật cũng như các sắc thái của ngoại cảnh tương hợp với nỗi sầu của nhân vật.

- Có những câu văn dài, nhiều tầng bậc như muốn đưa người đọc nhập vào dòng hồi tưởng miên man của nhân vật Kiên.

30. Tự luận
1 điểm

Qua cách nhìn nhận của Diêm Liên Khoa đối với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, bạn hiểu thêm được điều gì về mối quan hệ giữa nội dung viết và cách viết trong hoạt động sáng tác tiểu thuyết?

Xem đáp án

Qua cách nhìn nhận của Diêm Liên Khoa đối với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, chúng ta hiểu thêm được điều gì về mối quan hệ giữa nội dung viết và cách viết trong hoạt động sáng tác tiểu thuyết: ở tiểu thuyết hiện đại điều hấp dẫn không nhất thiết phải đến từ sự li kì, lắt léo, gay cấn của câu chuyện được kể, cũng không hẳn đến từ sự độc đáo, dị biệt của các tính cách, mà thường đến từ cách tổ chức câu chuyện, cách khơi gợi vấn đề, cách sử dụng giọng điệu và ngôn từ của tác giả. Như vậy, đối với nhà văn hiện đại, trong đó có nhà tiểu thuyết, đổi mới cách viết là điều cần phải được đặc biệt quan tâm.

31. Tự luận
1 điểm

Bài tập 7. Đọc lại văn bản Trên xuồng cứu nạn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 37 – 39) và trả lời các câu hỏi:

Qua tóm tắt nội dung văn bản, hãy cho biết điều tác giả muốn kể hoặc muốn thể hiện ở đây là gì.

Xem đáp án

Qua tóm tắt nội dung văn bản, điều tác giả muốn kể hoặc muốn thể hiện là: Ở đây, việc tóm tắt sẽ đặt ra một số thách thức nhưng cần vượt qua để từ đó nhận thức được một đặc điểm thường thấy trong tiểu thuyết hiện đại: có nhiều trường đoạn triển khai dòng ý nghĩ, tâm tư của nhân vật và mang đậm tính triết lí, tạo nền tảng tư tưởng cho câu chuyện được kể. Văn bản Trên xuồng cứu nạn là một trường đoạn như vậy trích từ tiểu thuyết Cuộc đời của Pi. Điều tác giả muốn thể hiện ở đây không phải là một sự kiện hay tình tiết sắc nét với nhiều hành động dồn dập, mà là quan sát, suy ngẫm có chiều sâu của nhân vật về những gì đã và đang nếm trải, đưa nhân vật đến một cái nhìn khái quát về bản chất cuộc đời, bản chất của sự sống.

32. Tự luận
1 điểm

Nhân vật lênh đênh giữa đại dương trên xuồng cứu nạn đã có những trải nghiệm đặc biệt nào về thiên nhiên và cuộc sống?

Xem đáp án

Văn bản được phân lớp rất mạch lạc, gồm nhiều đoạn, mỗi đoạn xoáy vào một “chủ đề” riêng, tất cả ghép lại thành một bức tranh tổng thể về cuộc đời, về sự sống dưới cái nhìn, sự cảm nhận của một con người bị đẩy vào tình thế tồn tại đặc biệt. Cần bám vào một số câu mang tính khái quát về các đối tượng hữu hình và vô hình vốn thu hút tri giác và khuấy động suy nghĩ của nhân vật để triển khai các ý trả lời. Có thể nói đến những trải nghiệm của nhân vật về:

- Nhiều kiểu trời (nghĩa là nhiều dạng thức khác nhau của bầu trời diễn ra trong dòng thời gian vô tận).

- Nhiều loại biển (nghĩa là nhiều hình thái của biển cả theo biến động không ngừng của thời tiết).

- Các vòng tròn mang tính hình học của vũ trụ (thứ vòng tròn bao bọc và chứng kiến sự giãy giụa vô vọng của con người).

- Những đối nghịch của thiên nhiên, vũ trụ (một lực lượng mà con người không thể làm chủ, khiến con người luôn lâm vào trạng thái hoang mang, sợ hãi).

- Sự đe doạ của cái chết (một sự đe doạ thường trực buộc con người phải kiên quyết bám lấy những cơ hội sống nhỏ nhoi).

33. Tự luận
1 điểm

Có thể giải thích như thế nào về việc tác giả chủ yếu dùng đại từ “ta” (nguyên văn tiếng Anh là You) chứ không phải là đại từ “tôi” (/) để thể hiện ngôi kể của nhân vật, khi nhân vật thuật lại những gì xảy ra với mình trong chuyến hải trình đơn độc?

Xem đáp án

Nhiều khi, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất vẫn có thể dùng từ “ta” để kể về chính ý nghĩ, việc làm của mình. Trong ngữ cảnh này, từ “ta” là một sự lựa chọn hợp lí, tạo ra mối liên hệ gần gũi với độc giả, hoà đồng cùng độc giả để chia sẻ những kinh nghiệm, trải nghiệm mang tính phổ quát. Cũng với từ “ta” này, những quan sát, cảm nhận mang tính cá nhân của một người đã trở thành vấn đề triết lí có ý nghĩa với mọi người. Ở đây, dịch giả Trịnh Lữ đã bám rất sát nguyên văn tiếng Anh khi chọn đại từ “ta” hay “tôi” trong từng trường hợp cụ thể.

34. Tự luận
1 điểm

Phân tích thái độ của nhân vật trước tình thế tranh chấp ngặt nghèo giữa sự sống và cái chết.

Xem đáp án

Thái độ của nhân vật trước tình thế tranh chấp ngặt nghèo giữa sự sống và cái chết:

- Nhân vật Pi luôn giữ sự bình tĩnh và quyết tâm: không tỏ ra hoảng loạn trong tình thế hiểm nghèo, Pi luôn giữ sự bình tĩnh đáng ngạc nhiên trước hoàn cảnh cực kì nguy hiểm. Mẵ dù biết rằng nguy cơ cái chết đang rình rập, nhân vật vẫn giữ vững tinh thần và đưa ra các quyết định cần thiết để sinh tồn.

- Dù tình thế đang cực kỳ căng thẳng, nhân vật không mất niềm tin vào khả năng sống sót của mình. Tinh thần lạc quan này giúp nhân vật duy trì sức mạnh tinh thần và thể chất, qua đó làm tăng khả năng vượt qua khó khăn.

- Nhân vật có nhận thức rõ ràng về tình hình nguy hiểm mà mình đang phải đối mặt và tự đánh giá được khả năng và hạn chế của bản thân. Đồng thời, nhân vật cũng cho thấy khả năng và hạn chế của bản thân. Đồng thời, nhân vật cũng cho thấy khả năng tự quản lý cảm xúc và hành động của mình một cách hiệu quả.

35. Tự luận
1 điểm

“Vì dưới chân ta vẫn có được một con cá chết bé tí xíu” – Đó là lời nhân vật tự giải thích về cử chỉ “đứng khoanh tay với một nụ cười trên môi” của mình, mặc dù anh đang lâm vào hoàn cảnh bi đát. Nêu nhận xét của bạn về lời giải thích này.

Xem đáp án

“Vì dưới chân ta vẫn có được một con cá chết bé tí xíu” – Đó là lời nhân vật tự giải thích về cử chỉ “đứng khoanh tay với một nụ cười trên môi” của mình, mặc dù anh đang lâm vào hoàn cảnh bi đát: Những người khác, nhất là người ngoài cuộc có thể đưa ra lời giải thích dài dòng và phức tạp hơn. Nhưng với tư cách là người trong cuộc, nhân vật chỉ nói một câu hết sức đơn giản, với lí do có thể bị xem là tầm thường: “Vì dưới chân ta vẫn có được một con cá chết bé tí xíu”.. Nhưng thực tế, đối với người đang phải quyết liệt giành lấy từng cơ hội sống nhỏ nhoi thì sự có mặt của một con cá bé xíu cũng đủ giúp anh lấy lại được niềm tin về khả năng sống sót. Con cá ấy chính là nguồn thực phẩm quý giá cho người đang rơi vào cảnh sức cùng lực kiệt. Có thể nói, lời giải thích của nhân vật tuy đơn giản nhưng rất chân thực và chính xác.

36. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho đề tài bài viết mà bạn tự chọn có nội dung so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện.

Xem đáp án

Dàn ý cho bài viết so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện: Xuân Tóc Đỏ cứu quốcNỗi buồn chiến tranh:

1. Mở bài

- Giới thiệu chung về hai tác phẩm:

+ Xuân Tóc Đỏ cứu quốc của Vũ Trọng Phụng

+ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

- Lý do chọn đề tài:

+ Cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội và tâm lý con người trong những bối cảnh lịch sử khác nhau.

+ Khám phá khả năng lớn lao của tiểu thuyết trong việc phản ánh và khám phá cuộc sống.

2. Thân bài

- So sánh bối cảnh lịch sử và xã hội:

+ Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: Bối cảnh xã hội Việt Nam thời kì thuộc địa Pháp.

+ Nỗi buồn chiến tranh: Bối cảnh chiến tranh Việt Nam và hậu chiến.

- So sánh nhân vật chính:

+ Xuân Tóc Đỏ: Nhân vật hài hước, phê phan xã hội đương thời.

+ Kiên: Nhân vật bi kịch, phảnh ánh nỗi đau và mất mát trong chiến tranh.

- So sánh chủ đề và thông điệp:

+ Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: Phê phán xã hội, chính trị và những thói hư tật xấu của con người.

+ Nỗi buồn chiến tranh: Khám phá nỗi đau chiến tranh, sự mất mát và hậu quả tâm lý của chiến tranh.

- So sánh phong cách nghệ thuật:

+ Xuân Tóc Đỏ cứu quốc: Phong cách trào phúng, hài hước.

+ Nỗi buồn chiến tranh: Phong cách bi kịch, sâu lắng và cảm động.

- Đánh giá tổng quan:

+ Sự thành công của mỗi tác phẩm trong việc truyền tải thông điệp.

+ Ảnh hưởng của mỗi tác phẩm đối với văn học Việt Nam và độc giả.

3. Kết bài

- Tóm tắt lại những điểm chính đã so sánh và đánh giá

- Khẳng định lại khả năng lớn lao của tiểu thuyết: Tiểu thuyết không chỉ là hình thức giải trí mà còn là công cụ mạnh mẽ để phản ánh hiện thực và khám phá tâm lí con người.

- Liên hệ cá nhân

37. Tự luận
1 điểm

Nêu một số ý tưởng cơ bản có thể triển khai khi thực hiện đề tài sau:

So sánh cái nhìn về chiến tranh trong Nỗi buồn chiến tranh với cái nhìn về chiến tranh trong một tác phẩm phù hợp mà bạn đã học hoặc tìm đọc thêm.

Xem đáp án

Gợi ý chọn tác phẩm:

- Viết về đề tài chiến tranh giải phóng dân tộc, cụ thể là đề tài cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta.

- Thuộc thể loại truyện (có thể là truyện ngắn, truyện vừa hay tiểu thuyết).

- Có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt dễ nhận thấy so với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.

Gợi ý một số ý tưởng:

- Các tác phẩm được so sánh có phải được viết ra trong cùng khoảng thời gian hay không? (Viết vào thời hậu chiến hay khi cuộc chiến chưa kết thúc?)

- Hướng viết của các tác phẩm nghiêng về tái hiện những sự kiện đã diễn ra hay nghiêng về nghiền ngẫm bản chất của sự kiện?

- Các tác phẩm tập trung tái hiện chân dung tập thể của người lính hay chân dung một vài cá nhân dị biệt?

- Khía cạnh bi hay hùng của cuộc chiến được các tác phẩm chú ý nhấn mạnh?

- Cách kể (kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật,...) ở từng tác phẩm có những điểm gì đáng khảo sát, phân tích kĩ lưỡng?

38. Tự luận
1 điểm

Thuyết trình về dàn ý bài viết đã lập theo yêu cầu của bài tập 1 ở phần Viết.

Xem đáp án

Xin chào quý thầy cô và các bạn, Hôm nay chúng ta sẽ cùng thảo luận và so sánh hai tác phẩm truyện ngắn nổi tiếng của văn học Việt Nam: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Xuân Tóc Đỏ cứu quốc trích từ tác phẩm “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng. Hai tác phẩm này đã phác họa những khía cạnh ẩn giấu của lịch sử và những quan điểm đa chiều về con người.

Đầu tiên chúng ta sẽ cùng nhau tóm tắt nội dung của hai tác phẩm. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh kể về cuộc sống của một nhân vật sau chiến tranh, phải đối mặt với những khó khăn hàng ngày và gánh chịu những kí ức đau thương từ chiến tranh. Tác phẩm tập trung vào nhân vật chính là Kiên, minh chứng cho những tác động của chiến tranh đối với tâm hồn con người. Trong khi đó, Xuân Tóc Đỏ cứu quốc của Vũ Trọng Phụng mô tả cuộc sống trong thời kỳ tiến hóa phương Tây, với sự khao khát hòa nhập vào xã hội thượng lưu dẫn đến sự hỗn loạn, dở khóc dở cười giữa thời kỳ “Á-Âu lẫn lộn”. Tác phẩm phản ánh môi trường lý tưởng cho bọn lưu manh như Xuân Tóc Đỏ thăng tiến, từ một người nghèo trở thành một người có quyền lực, một anh hùng được tôn vinh.

Mặc dù khác biệt về chủ đề nhưng hai tác phẩm này đã thể hiện những giá trị khác nhau. Nỗi buồn chiến tranh tập trung vào việc khám phá tác động của chiến tranh lên cuộc sống hàng ngày và tâm trạng con người, trong khi Xuân Tóc Đỏ cứu quốc tập trung vào hình ảnh hài hước về cuộc sống của những người thất bại và trở thành biểu tượng của sự trào phúng. Trong nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh xây dựng cốt truyện xoay quanh nhân vật Kiên và những sự kiện không rõ ràng, nhưng vẫn giúp độc giả hiểu được qua cách xây dựng nhân vật của mình. Anh ta sống trong những ký ức và cảm xúc riêng biệt để sau đó chuyển từ hiện tại về quá khứ và trở lại hiện tại. Điều này làm nổi bật tác phẩm này. Bên cạnh đó, tác giả thường sử dụng ngôn ngữ sâu sắc để tái hiện môi trường chiến tranh và tâm trạng nhân vật. Trong khi đó, Vũ Trọng Phụng đã xây dựng một cốt truyện phức tạp, kịch tính về cuộc đấu tranh giữa hai quốc gia Việt Nam và Xiêm La, cách diễn đạt này nhấn mạnh sự rối bời trong thời kỳ đó. Tác giả sử dụng từ ngữ mỉa mai để kể về các sự kiện. Nỗi buồn chiến tranh thường nhấn mạnh sự mất mát và đau buồn trong cuộc sống qua cách diễn biến tâm lí của nhân vật Kiên, trong khi Xuân Tóc Đỏ cứu quốc thì tập trung vào những tình tiết dở khóc dở cười để gây tiếng cười và trào phúng.

Mặc dù hai tác phẩm có nội dung và phong cách khác nhau, nỗi buồn chiến tranh và Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đều là những tác phẩm văn học xuất sắc của văn học Việt Nam. Chúng không chỉ làm sáng tỏ những đau khổ và mất mát trong cuộc chiến, mà còn tôn vinh tình yêu quê hương và sự hy sinh của con người Việt Nam. Thông qua việc so sánh hai tác phẩm này, chúng ta có thể nhận thấy sự đa dạng và phong phú cũng như cách nhìn thế giới đa chiều của các nhà văn, cũng như những giá trị nhân văn và lịch sử mà chúng mang lại.

Trên đây là phần trình bày so sánh và đánh giá hai tác phẩm truyện của tôi, mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô và bạn bè.

39. Tự luận
1 điểm

Lập dàn ý cho bài nói ngắn về thể loại tiểu thuyết, dựa vào những tri thức được hình thành, tích luỹ qua học Bài 1 – Khả năng lớn lao của tiểu thuyết.

Xem đáp án

I. Mở bài

Giới thiệu chung về tiểu thuyết:

- Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người1.

- Tiểu thuyết có khả năng lớn lao trong việc phản ánh hiện thực và khám phá tâm lý con người.

II. Thân bài

- Đặc điểm của tiểu thuyết:

+ Tính chất văn xuôi: Tiểu thuyết sử dụng ngôn ngữ văn xuôi để kể chuyện, tạo nên sự gần gũi và dễ tiếp cận với độc giả1.

+ Tính chất hư cấu: Tiểu thuyết thường dựa trên những câu chuyện hư cấu, nhưng phản ánh chân thực những vấn đề của cuộc sống2.

+ Tính chất tường thuật: Tiểu thuyết có khả năng kể chuyện chi tiết, mô tả sâu sắc về nhân vật và hoàn cảnh2.

- Các thể loại tiểu thuyết phổ biến:

+ Tiểu thuyết hiện thực: Phản ánh chân thực cuộc sống, xã hội và con người (ví dụ: “Chiến tranh và hòa bình” của Lev Tolstoy).

+ Tiểu thuyết lãng mạn: Tập trung vào tình yêu và cảm xúc (ví dụ: “Pride and Prejudice” của Jane Austen).

+ Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng: Khám phá những khả năng tương lai và công nghệ (ví dụ: “Dune” của Frank Herbert).

+ Tiểu thuyết kinh dị: Tạo ra cảm giác sợ hãi và hồi hộp (ví dụ: “Dracula” của Bram Stoker).

- Khả năng lớn lao của tiểu thuyết:

+ Phản ánh hiện thực xã hội: Tiểu thuyết có thể phản ánh những vấn đề xã hội, chính trị và văn hóa của thời đại (ví dụ: “Xuân Tóc Đỏ cứu quốc” của Vũ Trọng Phụng)1.

+ Khám phá tâm lý con người: Tiểu thuyết đi sâu vào tâm lý nhân vật, khám phá những cảm xúc và suy nghĩ phức tạp (ví dụ: “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh)2.

+ Truyền tải thông điệp nhân văn: Tiểu thuyết có thể truyền tải những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, tình yêu và nhân sinh (ví dụ: “To Kill a Mockingbird” của Harper Lee).

III. Kết bài

- Tóm tắt lại những điểm chính đã trình bày.

- Khẳng định lại vai trò quan trọng của tiểu thuyết trong văn học và cuộc sống: Tiểu thuyết không chỉ là một hình thức giải trí mà còn là một công cụ mạnh mẽ để phản ánh hiện thực và khám phá tâm lý con người.

- Liên hệ cá nhân: Cảm nhận và suy nghĩ của bản thân về thể loại tiểu thuyết và những tác phẩm yêu thích.