Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 9. Khám phá tự nhiên và xã hội có đáp án
Đề thi

Giải SBT Ngữ Văn 12 CTST Bài 9. Khám phá tự nhiên và xã hội có đáp án

A
Admin
VănLớp 1260 lượt thi
20 câu hỏi
1. Tự luận
1 điểm

Việc các phần, đoạn, câu trong văn bản thông tin đều cùng bàn về một chủ đề và được sắp xếp theo trình tự, bố cục hợp lí là sự thể hiện của tính chất nào?

a. Tính mạch lạc

b. Tính liên kết

c. Tính chặt chẽ

d. Tính thống nhất

Xem đáp án

Chọn đáp án: a. Tính mạch lạc

2. Tự luận
1 điểm

Xác định kiểu bố cục tương ứng với một số nhóm từ ngữ cụ thể có thể được dùng để liên kết các phần, đoạn, câu trong văn bản sử dụng kiểu bố cục ấy.

Kiểu bố cục

Từ ngữ liên kết giữa các phần, đoạn, câu

a………..

a. Trước tiên, đầu tiên, tiếp theo, kế tiếp, sau đó, khi, cuối cùng,...

b..............

b. Phía trước, đằng sau, trong..., ngoài..., trước..., sau..., trên..., dưới..., kế bên/ bên cạnh,...

c..............

c. Trước tiên, cuối cùng, chủ yếu, sau đó, quan trọng hơn là,...

d..............

d. – Cũng, tương tự như, hơn thế nữa, mặc dù, tuy nhiên, trái với, mặt khác, không giống với giống với,...

− Vì, bởi vì, kết quả là, do đó, nên,

− Vấn đề, lí do, nguyên nhân, đề xuất, kết luận,...

Xem đáp án

Kiểu bố cục

Từ ngữ liên kết giữa các phần, đoạn, câu

a. Trật tự thời gian

a. Trước tiên, đầu tiên, tiếp theo, kế tiếp, sau đó, khi, cuối cùng,...

b. Trật tự không gian

b. Phía trước, đằng sau, trong..., ngoài..., trước..., sau..., trên..., dưới..., kế bên/ bên cạnh,...

c. Mức độ quan trọng của thông tin

c. Trước tiên, cuối cùng, chủ yếu, sau đó, quan trọng hơn là,...

d. Trật tự logic

d. – Cũng, tương tự như, hơn thế nữa, mặc dù, tuy nhiên, trái với, mặt khác, không giống với giống với,...

− Vì, bởi vì, kết quả là, do đó, nên,

− Vấn đề, lí do, nguyên nhân, đề xuất, kết luận,...

3. Tự luận
1 điểm

Chỉ ra điểm giống, khác nhau giữa dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp trong văn bản thông tin.

Xem đáp án

Điểm giống: Đều là những dữ liệu mà dựa vào đó, người nghiên cứu có thể đưa ra những kết luận đáng tin cậy.

Điểm khác nhau:

- Dữ liệu sơ cấp:

+ Dữ liệu gốc, thường chưa được phân tích, diễn giải, xử lí.

+ Cung cấp thông tin chưa được xử lí hoặc bằng chứng, báo cáo, sự tường thuật trực tiếp, đầu tiên về một sự việc/ hiện tượng hoặc một phát hiện mới

- Dữ liệu thứ cấp: 

+ Cung cấp thông tin đã được người viết xử lý, kể lại, mô tả, tóm tắt, tổng hợp hoặc những diễn giải, đánh giá từ những nguồn dữ liệu sơ cấp.

+ Tiêu biểu cho dữ liệu thứ cấp là các dữ liệu trong các sách, báo, tạp chí… 

4. Tự luận
1 điểm

Đọc đoạn trích sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới:

Không có gì bất thường vào chiều ngày 05/12/2022, cho đến khi ông Võ Minh Thảo (48 tuổi, Vĩnh Long) thấy mực nước mương dâng cao dồn dập. Ông vội vã lao về nhà. Vừa chạy, ông vừa gọi người nhờ kê cao đồ đạc lên cho khỏi ngập. Lúc đó, ông chỉ nghĩ nước dâng cao sẽ tràn vô nhà như lũ cuốn.

Ông đã lầm. Đặt chân đến nhà, ông thấy mảnh vườn trước của biến mất, bỏ lại căn nhà chơi vơi ngay mé sông. Đất liên tục sạt xuống, khoét sâu vào bờ hàng trăm mét. [...] Hơn 10 phút sau, lở đã đuổi đến chân nhà. Đất rơi, tường nứt, mái tôn vặn vẹo. Chưa tới một giờ từ lúc thấy con đề võ, căn nhà cấp bốn cùng hơn 1.000 chậu lan và vườn cây ăn trái 9 công đất của gia đình đã nằm sâu dưới lòng sông. Gia tài dành dụm từ đời cha phút chốc bị nhấn chìm. Điều duy nhất khiến ông nhẹ lòng là mẹ và các con không ở nhà khi đó. Mất của, nhưng cả gia đình nguyên vẹn.

Từ trên cao, bãi bồi như “lát bánh mì” bị dòng sông đang “đói” ngoạm mất một mảng lớn. Hôm đó, cù lao An Bình sạt lở hơn 41 500 m3, khiến 30 hộ dân rơi vào cảnh mất nhà, tài sản, thiệt hại lên đến 35 tỉ đồng.

Sạt lở bất thường không phải chuyện của riêng tỉnh Vĩnh Long, mà là nỗi đau chung của hàng triệu dân miền Tây từ hai thập kỉ nay. Tình trạng sạt lở bờ sông tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang ở mức báo động với 585 điểm, dài trên 741 km. Trong đó, 87 điểm với 135 km thuộc nhóm đặc biệt nguy hiểm - ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư, hạ tầng quan trọng dù được bảo vệ bởi đê.

Còn lại là sạt lở nguy hiểm (L55 điểm 306 km) và bình thường (343 điểm 300 km), Sạt lở bờ sông, kênh, rạch tập trung ở các tỉnh dầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp, và các khu vực chuyển tiếp giữa vùng chịu ảnh hưởng của triều và thượng nguồn như Cần Thơ, Tiền Giang, Vinh Long, đến ven biển như Cà Mau, Sóc Trăng. Theo các chuyên gia, từ năm 1992 đến nay, sạt lở thoát ra khỏi quy luật tự nhiên và ngày càng tăng cấp.

(Theo Hoàng Nam, Thu Hằng, Hoàng Khánh, Thanh Hạ, Dòng Mê Kông “giận dữ”)

a. Nếu thông tin cơ bản của đoạn trích.

b. Chỉ ra dữ liệu và ý kiến của người viết trong đoạn trích.

c. Xác định dữ liệu trong đoạn trích trên là dữ liệu sơ cấp hay dữ liệu thứ cấp, Phân tích tác dụng của việc sử dụng những dữ liệu ấy,

d. Tìm và phân tích tác dụng của (những) biện pháp tu từ được sử dụng trong cấu văn: Từ trên cao, bãi bởi như “lát bánh mì” bị dòng sông dang “đói” ngoạm mất một mảng lớn.

Xem đáp án

a. Thông tin cơ bản của đoạn trích: Khái quát về tình trạng sạt lở bờ sông dang ở mức báo động tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

b. Ý kiến của người viết trong đoạn trích: Sạt lở bất thường không phải chuyển của riêng tỉnh Vĩnh Long, mà là nỗi đau chung của hàng triệu dân miền Tây từ hai thập kỉ nay; Tình trạng sạt lở bờ sống tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang ở mức báo động

Dữ liệu trong đoạn trích: Câu chuyện của ông Võ Minh Thảo, những con số phản ảnh tình trạng sạt lở bờ sống tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và ý kiến của các chuyên gia về tình trạng sạt lở ở khu vực này từ năm 1992 đến nay.

c. Đoạn trích sử dụng cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp:

- Dữ liệu sơ cấp trong đoạn trích: câu chuyện sạt lở xảy ra ngày 05/12/2022 tại chính mảnh vườn của gia đình mình do ông Võ Minh Thảo (18 tuổi, Vĩnh Long) kể lại.

- Dữ liệu thứ cấp trong đoạn trích:

+ Những con số phản ánh tình trạng sạt lở bờ sống tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long do Cục quản lí đê điều và Phòng, chống thiên tại; Viện Khoa học Thuỷ lợi miền Nam, WWF – Việt Nam cung cấp theo chú thích từ bài viết.

+ Ý kiến của các chuyên gia về tình trạng sạt lở ở khu vực này từ năm 1992 đến nay.

- Tác dụng của việc sử dụng các dữ liệu trên: Dữ liệu sơ cấp cung cấp thông tin được tường thuật trực tiếp từ nhân chứng của một vụ sạt lở để tạo cơ sở đáng tin cậy cho việc trình bày về những mất mát mà người dân vùng sạt lở đang phải gánh chịu; dữ liệu thứ cấp giúp người đọc bao quát một phạm vi thông tin dữ liệu rộng hơn, sâu sắc hơn về tình trạng sạt lở ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời giúp nhóm tác giả có căn cứ xác đáng để củng cố cho ý kiến “Tình trạng sạt lở bờ sống tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang ở mức báo động”.

d. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: so sánh (bãi bồi như “lát bánh mì”), nhân hoá (dòng sông đang “đói” ngoạn mất một mảng lớn).

5. Tự luận
1 điểm

VĂN BẢN

HÃY CỨU LẤY CÁC DÒNG SỐNG!

Theo Văn Tuấn

Nước ta được thiên nhiên ưu đãi khi có một hệ thống sông ngòi dày đặc. Điều ấy đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay, hệ thống sông ngòi Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại và ô nhiễm nặng nề. Đề cập đến vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có cuộc trò chuyện với Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển bền vững tài nguyên nước và Thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC).

Môi trường nước ở một số dòng sông đang bị xâm hại

Phóng viên: Nguồn nước là tài sản quốc gia, luôn cần được bảo vệ. Thế nhưng, trong vài thập niên trở lại đây, sông ngòi nước ta đang bị đối xử tàn tệ. Vì lợi nhuận, con người đã phớt lờ những cảnh báo tác hại của việc huỷ hoại môi trường nước, xâm hại những dòng sông. Ông có thể khái quát về điều đó được không?

Tiến sĩ Đào Trọng Tứ: Việt Nam ở vùng nhiệt đới gió mùa nên được thiên nhiên ưu đãi, có hệ thống sông ngòi dày đặc. Điều đó rất thuận lợi để phát triển các khu dân cư và nông nghiệp. Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 3.000 con sông.

Hằng năm, lưu lượng nước chảy qua hệ thống sông ngòi đổ ra biển ở nước ta khoảng 830 – 840 tỉ mét khối, tuỳ thời tiết mỗi năm. [...] Tuy nhiên, nguồn nước ở Việt Nam có một đặc điểm là phụ thuộc rất lớn nguồn nước từ nước ngoài (63% nước chảy từ nước ngoài vào). Sông Hồng có 39% nước từ Trung Quốc, 1% từ Lào. Đồng bằng sông Cửu Long của chúng ta chỉ có 5% lượng nước, 95% nước chảy về từ thượng nguồn, Trung Quốc, Myanmar, Lào, Campuchia, 6% từ Tây Nguyên (nhưng chảy qua Lào, Campuchia trước rồi mới chảy về Việt Nam). Đó là bức tranh khái quát về nguồn nước ở Việt Nam.

Tuy nhiên, đến bây giờ chúng ta mới trăn trở về câu chuyện sông ngòi ở Việt Nam. Tại sao vậy? Sau những năm 90 của thế kỉ trước, khi chúng ta chú trọng phát triển kinh tế thì bắt đầu cần năng lượng. Nguồn năng lượng dễ chịu nhất, phát triển nhanh nhất là thuỷ điện. [...] Theo kết quả do VRN mới công bố, hệ thống Sông Hồng – Thái Bình, Sông Mã, Sông Cả, Sông Hương, Sông Ba, sông Vu Gia – Thu Bồn, sông Sêrêpôk, sông Sê San, sông Mê Kông đang có hàng ngàn đập và đập thuỷ điện lớn, nhỏ. Tốc độ phát triển thuỷ điện ồ ạt như vậy chắc chắn tác động mạnh mẽ đến hệ sinh thái. Người ta gọi đó là việc chinh phục dòng sông, nhưng theo tôi, cách gọi như vậy rất sai. Sau khi đi thực tế, tìm hiểu, tôi nghĩ rằng, các dòng sông là tài nguyên, vật thể nuôi sống cả quốc gia thì không thể gọi quá trình tác động đến các con sông là chinh phục các dòng sông. Chúng ta phát triển nên phải đánh đổi tài nguyên nước để lấy cái lợi lớn hơn, và ở góc độ nào đó chúng ta chấp nhận thiệt hại. Đấy là hình thức xâm hại tài nguyên thiên nhiên. Những năm 2012 – 2013, VRN trình bày với Quốc hội rằng, việc phát triển thuỷ điện một cách ồ ạt như vậy là không ổn. Nó gây tác động lớn đến môi trường sống, tàn phá rừng, nguyên nhân chính dẫn đến việc di dân,... Năm 2013, Quốc hội đã ra nghị quyết, tạm dừng và đưa ra khỏi quy hoạch 483 thuỷ điện. [1]

Việc xâm hại sông ngòi ở Hà Nội là một điển hình. Các dòng sống ở xung quanh Thủ đô bị lấn chiếm, xâm hại nghiêm trọng. [...] Tương tự, đi vào miền Trung, miền Nam, vấn đề xâm hại hành lang thoát lũ là đáng báo động. Tôi có thể khẳng định, 100% các dòng sông của Việt Nam ở mức độ khác nhau đều bị xâm hại...

Con sông liên tỉnh là tài sản chung của quốc gia, không ai có quyền đổ đất xuống sông để lấn chiếm. [...] Chúng ta không coi dòng sông là mạch máu, cư xử với ng một cách cưỡng bức thì cơ thể quốc gia sẽ được nhận lại như vậy. Những người quản lí dòng sông dường như chưa ý thức được sông ngòi là tài sản quý báu của quốc gia, mà đã là tài sản quốc gia thì cần phải được quản lí theo luật.

Nguyên nhân và hậu quả của việc các dòng sông bị xâm hại

Phóng viên: Theo ước tính của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, hằng ngày, các con sông nước ta phải tiếp nhận 1,1 triệu mét khối nước thải công nghiệp, đến năm 2020, con số này khả năng sẽ tăng lên 2,4 triệu mét khối. Nếu tình trạng xâm hại các dòng sông không được ngăn chặn và đẩy lùi thì các con sông sẽ bị chết dần chết mòn vì ô nhiễm. Khi đó, con người sẽ phải chịu luật “nhân quả” của thiên nhiên. Theo ông, “quả báo” của tình trạng xâm hại các dòng sông sẽ như thế nào?

Tiến sĩ Đào Trọng Tứ: Tất cả là do vấn đề xâm hại từ thượng nguồn. Sự xâm hại ở khía cạnh xâm lấn sẽ làm thay đổi dòng chảy của các dòng sông. Về vấn đề xói lở, chúng ta đã thấy rõ nhiều làng mạc biến mất rất nhanh, trước đây ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, hiện tại là ở Đồng bằng sông Cửu Long chúng ta thấy rất rõ. Câu chuyện sạt lở bờ sông ở Đồng bằng sông Cửu Long chính là vì chúng ta không có quy hoạch tốt, không có quy hoạch tử tế. Người dân ở đó áp sát các dòng sông.

Hiện nay, dòng chảy Sông Hồng ở Hà Nội bị biến đổi khủng khiếp, có chỗ sâu xuống 8 mét. Hình dung như vậy để thấy rằng, nước ở trên chảy xuống bao nhiêu thì tụt xuống “hũm” ấy bấy nhiêu, lấy đâu ra nước để qua các cống, chảy vào các dòng sông ở nội thành? Chính vì vậy, đã có ý kiến xây đập ở Hà Nội để nâng mực nước lên. Với tôi, đó là điều kinh khủng, tác động ghê gớm về mặt môi trường.

Câu chuyện xâm hại thứ hai là khai thác cát, cả trái phép và có phép. [...] Đó là loại xâm hại dễ nhìn thấy.

Một loại xâm hại nữa là các tác động gây ra ô nhiễm cho các dòng sông. Ô nhiễm từ đô thị, khu công nghiệp và nông nghiệp dẫn đến nguồn nước bị thoái hoá và cạn kiệt. Bộ Tài nguyên và Môi trường phải thốt lên, hiện nay ở Hà Nội có sáu con sông đã chết và đang “chết dần, chết mòn”, đó là: Sông Lừ, Sống Sét, sống Kim Ngưu, sông Tô Lịch; hai con sông lớn trong tình trạng “sống dở, chết dở” là Sông Đáy và Sông Nhuệ. Hãy nhìn xem, những mạch máu sống đó của chúng ta đang bị huỷ hoại. Thử hỏi có ai dám dùng nước từ các con sông đó khi chúng đều đã trở thành sông nước thải. Nguồn nước ô nhiễm không dùng được là hỏng, là nước chết. Tất cả sự xâm hại ấy đều tác động rất lớn đến cuộc sống của chúng ta. Dần dần chúng ta sẽ mất cuộc sống bình yên. [2]

[...]

Một số biện pháp giải cứu các dòng sông

Phóng viên: Vấn đề cấp thiết hiện nay là phải giải cứu, trả lại sự trong sạch cho những dòng sông. Đó cũng là một trong những điều kiện bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai. Để thực hiện điều đó, theo ông, chúng ta cần có giải pháp gì?

Tiến sĩ Đào Trọng Tử: Tại Diễn đàn Nước thế giới (WWF) được tổ chức lần thứ bảy ở Hàn Quốc, cơ quan quản lí nước của Pháp đã đưa ra thông điệp “Hãy trả lại cho các dòng sông không gian sống” để chúng có thể giúp chúng ta ngăn ngừa biến đổi khí hậu và thiên tai. Ngoài ra, diễn đàn cũng kiến nghị trả lại vùng đất ướt, không gian ngập nước tự nhiên. Tuy mới chỉ dừng lại ở mức độ lí thuyết nhưng có thể thấy, trên thế giới, người ta đang nhận thức vấn đề bảo vệ các dòng sông và nguồn nước trở nên rất bức thiết.

Trở lại vấn đề giải cứu các dòng sông của nước ta. Chúng ta đã có Luật Tài nguyên nước năm 2012, đã có Nghị định quản lí lưu vực sông năm 2008 và thành lập Uỷ ban Quản lí các lưu vực sông. Để quản lí tốt các dòng sông thì không nên chia cắt các dòng sông theo địa giới tỉnh mà phải quản lí thống nhất. Chúng ta cần một cơ quan quản lí có nhiệm vụ điều phối các dòng sông. Chính vì vậy, vấn đề trước tiên là thành lập cơ quan quản lí tài nguyên nước trên các lưu vực sông. Điều này Nhà nước hiện nay đang làm, sắp tới sẽ thành lập sáu tổ chức quản lí nước trên lưu vực các sông. Đây là biện pháp rất cần về thể chế.

Câu chuyện thứ hai là phải thực thi tích cực, triệt để đối với vấn đề ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, làng nghề. Thứ nhất, vấn đề xả thải không được tác động đến nguồn nước, phải có biện pháp xử phạt mạnh tay, quyết liệt đối với các trường hợp cố ý, tái phạm nhiều lần. Việc tái sử dụng nước rất có lợi cho cơ sở sản xuất, giảm lượng nước thải cho các dòng sông. […] Thứ hai là phải hoàn nguyên, phục hồi các dòng sông đã bị ô nhiễm. Nhưng câu hỏi đặt ra là ai làm được như vậy, ai thực thi câu chuyện đó. Vấn đề giải cứu các dòng sông chúng ta phải nhìn nhận từ góc độ quản lí vì đó là tài sản vô giá của quốc gia. Phát triển là cần thiết nhưng không thể đánh đổi bằng mọi giá, phải có biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

 (Nguồn: https://tddvn/phong van trao doi thay của hay các dòng song-521625,

truy cập ngày 8/3/2023)

[1] Theo dõi

Theo Tiến sĩ Đào Trọng Tứ, vì sao không thể gọi quá trình tác động đến các con sông là chinh phục các dòng sông?

[2] Suy luận

Việc tác giả xem những dòng sông là mạch máu sống của cơ thể quốc gia đã cho thấy điều gì?

Xác định kiểu bố cục của văn bản. Nhận xét mức độ phù hợp giữa nhan đề với nội dung của văn bản. Đề xuất một nhan đề khác cho văn bản và lí giải cơ sở đề xuất của bạn.

Xem đáp án

Bố cục: Văn bản được chia làm ba phần (Môi trường nước ở một số dòng sông đang bị xâm hại, Nguyên nhân và hậu quả của việc các dòng sông bị xâm hại, Một số biện pháp giải cứu các dòng sông). Các phần của văn bản được sắp xếp, tổ chức theo trật tự logic (thực trạng – nguyên nhân, hậu quả – giải pháp).

Nhận xét mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung của văn bản: Nhan đề phù hợp và khái quát được nội dung của văn bản. Tất cả các thông tin chính của văn bản đều được trình bày để hướng đến làm rõ thực trạng cấp bách cần phải giải quyết là việc các dòng sông đang bị ô nhiễm và đề xuất một số cách thức để tiến hành giải cứu các dòng sông ấy.

Đề xuất nhan đề khác: “Sự cấp bách của việc giải cứu các dòng sống bị ô nhiễm”, “Sự ô nhiễm các dòng sông – Thực trạng đáng báo động”,... Cơ sở đề xuất: Dựa trên các thông tin chính được trình bày trong văn bản.

6. Tự luận
1 điểm

Văn bản được xem là loại dữ liệu gì? Căn cứ vào đâu bạn có thể xác định như vậy?

Xem đáp án

Toàn bộ văn bản được xem là dữ liệu sơ cấp vì nội dung phỏng vấn Tiến sĩ Đào Trọng Tử do chính phóng viên Văn Tuấn thực hiện để phản ánh thực trạng môi trường nước ở một số dòng sông đang bị xâm hại và đề xuất một số giải pháp để giải cứu các dòng sông.

7. Tự luận
1 điểm

Xác định thông tin cơ bản và các chi tiết của phần văn bản Nguyên nhân và hậu quả của việc các dòng sông bị xâm hại. Phân tích vai trò của các chi tiết trong phần văn bản trên.

Xem đáp án

Thông tin cơ bản: Nguyên nhân và hậu quả của việc các dòng sông bị xâm hại.

Các chi tiết được sử dụng:

- Tác nhân xâm hại thứ nhất: sự xâm lấn các dòng sông → Hậu quả: gây nên tình trạng xói lở xảy ra ở một số khu vực như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Đồng bằng sông Cửu Long; sự thay đổi dòng chảy Sông Hồng ở Hà Nội.

- Tác nhân xâm hại thứ hai: khai thác cát, cả trái phép và có phép.

- Tác nhân xâm hại thứ ba: sự ô nhiễm từ đô thị, khu công nghiệp và nông nghiệp → Hậu quả: nguồn nước bị thoái hoá, cạn kiệt (bằng chứng cụ thể là các chi tiết về sáu con sống đang bị ô nhiễm nặng là Sông Lừ, Sông Sét, sống Kim Ngưu, sông Tô Lịch, Sông Đáy, Sông Nhuệ), từ đó dẫn đến việc ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của con người.

Vai trò của các chi tiết trên: Làm rõ nguyên nhân gây nên thực trạng một số dòng sông đang bị xâm hại và trình bày chi tiết hậu quả của thực trạng đáng báo động ấy.

8. Tự luận
1 điểm

Xác định để tài của văn bản. Đề tài ấy có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay?

Xem đáp án

- Đề tài của văn bản: Vấn đề ô nhiễm môi trường, Sự ô nhiễm môi trường nước,...

Đánh giá đề tài: Học sinh có thể đưa ra nhiều đánh giá khác nhau, miễn là phù hợp với nội dung văn bản và thuyết phục.

- Sau đây là gợi ý: Đề tài có ý nghĩa thời sự, cấp thiết, nóng hổi trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội của nước ta hiện nay, khi vấn đề phát triển kinh tế luôn phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường để đảm bảo việc phát triển bền vững cho đất nước và nhân loại,...

9. Tự luận
1 điểm

Chọn một phần của văn bản mà theo bạn có thể sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ để biểu đạt thông tin.

a. Xác định (những) loại phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp có thể sử dụng.  

b. Sử dụng Internet để tìm ít nhất một phương tiện phi ngôn ngữ phủ hợp để biểu đạt thông tin.

c. Nhận xét hiệu quả biểu đạt của phần văn bản ấy trong hai trường hợp có sử dụng kết hợp với yếu tố phi ngôn ngữ và không sử dụng kết hợp với yếu tố phi ngôn ngữ.

Xem đáp án

a. Việc xác định loại phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng cần phải đảm bảo các tiêu chí sau: Phù hợp với nội dung của đoạn/ phần văn bản muốn biểu đạt, minh hoạ trực quan hoặc bổ sung thông tin chi tiết cho đoạn/ phần văn bản ấy, giúp cho việc biểu đạt thông tin của đoạn/ phần văn bản trở nên sinh động, cụ thể, dễ hình dung hơn.

b. Việc tìm kiếm ít nhất một phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp ngoài việc đảm bảo những yêu cầu đã trình bày ở câu a, học sinh cần chú ý trình bày đầy đủ thông tin nguồn trích dẫn và tên của phương tiện phi ngôn ngữ.

c. HS có thể đưa ra một số tác dụng như: tăng tính hấp dẫn, tạo ấn tượng, tăng tính hấp dẫn,...

10. Tự luận
1 điểm

Bạn đánh giá như thế nào về quan điểm: “Phát triển là cần thiết nhưng không thể đánh đổi bằng mọi giá, phải có biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại”

Xem đáp án

Quan điểm:  “Phát triển là cần thiết nhưng không thể đánh đổi bằng mọi giá, phải có biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại” là sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

- Phát triển chính là mục tiêu chung của mọi quốc gia

- Đánh đổi bằng mọi giá: bao gồm cả đánh đổi về môi trường sống, về giáo dục…

- Biện pháp khắc phục, hạn chế thiệt hại: giải pháp hạn chế, khắc phục những tác động xấu

à Không thể chỉ nghĩ đến sự phát triển về kinh tế mà đánh đổi bằng môi trường, cuộc sống của con người. Chính vì vậy, em thấy quan điểm này là đúng đắn để thay đổi nền kinh tế hiện nay cũng như khiến giới trẻ chúng em nhận thức đúng

11. Tự luận
1 điểm

Quyền sở hữu trí tuệ là gì? Chỉ ra một vài biểu hiện của việc tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong học tập, nghiên cứu và phân tích một ví dụ để làm rõ.

Xem đáp án

- Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là quyền của cá nhân hoặc tổ chức đối với những sản phẩm sáng tạo như phát minh, tác phẩm nghệ thuật, và thương hiệu. Quyền này bảo vệ lợi ích của người sáng tạo và thúc đẩy phát triển tri thức, công nghệ.

- Biểu hiện của việc tôn trọng và bảo vệ quyền SHTT trong học tập và nghiên cứu:

+ Trích dẫn nguồn: Khi sử dụng thông tin hoặc ý tưởng từ các tài liệu khác, cần ghi rõ nguồn.

+ Không sao chép tác phẩm: Không sao chép nguyên văn các tài liệu, bài viết mà không có sự cho phép hoặc không ghi chú rõ ràng.

+ Bảo vệ sản phẩm sáng tạo cá nhân: Tự bảo vệ các công trình, nghiên cứu của mình bằng cách đăng ký bản quyền hoặc công bố chính thức.

- Ví dụ: Trong quá trình làm luận văn, một sinh viên sử dụng tài liệu nghiên cứu từ các nguồn khác. Nếu sinh viên này trích dẫn đầy đủ thông tin về các tác giả và nguồn gốc tài liệu, thì đó là biểu hiện tôn trọng quyền SHTT. Nếu không, việc này có thể bị xem là sao chép và vi phạm quyền SHTT của tác giả.

12. Tự luận
1 điểm

Ở bài tập Từ đọc đến viết trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr 101, nhóm biên soạn đã dẫn nguồn như thế nào? Xác định những yếu tố trong phần dẫn nguồn đó.

Xem đáp án

Ở bài tập Từ đọc đến viết trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, tr. 101, nhóm biên soạn đã dẫn nguồn đúng quy cách. Những yếu tố trong phần dẫn nguồn đó là: Tên tổ chức soạn thảo tài liệu (Ngân hàng Thế giới), tên tài liệu (Phân tích về ô nhiễm rác thải nhựa tại Việt Nam), số trang (tr. 37).

13. Tự luận
1 điểm

Để thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tác giả đã chú thích nguồn các phương tiện phi ngôn ngữ như thế nào trong các trường hợp sau?

a. Ví con sông như một ngân hàng cát, chuyên gia lí giải nguồn thu đầu vào là lượng cát lắng đọng hàng nghìn năm dưới đáy sông (trầm tích) và phù sa đổ về từ thượng nguồn (khoảng 15% là cát). Đây gọi là trữ lượng hiện có.

Khoản chi thường xuyên của ngân hàng này, thường rất nhỏ, là lượng cát bị dòng chảy đẩy ra cửa biển, lắng đọng thành các đụn cát dọc bờ, tạo nên “bức tường” chắn sóng ngầm bảo vệ bờ biển và rừng ngập mặn. Phần lớn lượng cát còn lại được con người khai thác để đầu tư phát triển, bởi đây là nguồn nguyên liệu tốt nhất cho xây dựng.

Khi tài khoản nhà băng này dương hoặc bằng 0, tức thu lớn hơn hoặc bằng chi, ngân hàng đạt trạng thái cân bằng, cho thấy việc khai thác cát bền vững. Ngược lại, lòng sông “rỗng bụng”, tức ngân hàng thiếu sẽ tạo ra nhiều hố sâu gây sạt lở. [...]

Theo chuyên gia, việc đo cát di chuyển dưới lòng sông (gồm bùn cát đáy, cát lợ lửng và phù sa) là “cực kì khổ”, đòi hỏi kĩ thuật rất cao và nguồn lực tài chính lớn, “quá tầm” địa phương. Thế giới có hàng trăm công thức, kinh nghiệm tính toán khác nhau và không có mẫu số chung cho tất cả. Mỗi con sông có cách tính riêng.

Để thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tác giả đã chú thích nguồn (ảnh 1)

Công cụ ngân hàng cát WWF – Việt Nam đang xây dựng nhằm

quản lí tài nguyên bền vững

(Đồ hoạ: WWF, Đăng Hiếu)

Để giải quyết bài toán trên, Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF – Việt Nam) đang phát triển một công cụ quản lí cát tại Đồng bằng sông Cửu Long từ ý tưởng “ngân hàng cát”, lần đầu tiên thử nghiệm trên thế giới.

(Ngọc Tài, Hoàng Nam, Thu Hằng, Trả nợ dòng Mê Kông, https://vnexpress.net/ tra-no-dong-mekong-4641735.html, truy cập ngày 17/8/2023)

b. Trong số này, có hai mang khuôn khắc minh văn (chữ Hán), có một mặt ngoài được mài nhẵn, rìa cạnh khắc chữ. Do mang khuôn không còn nguyên vẹn nên chỉ còn hai chữ, trong đó có một chữ còn rõ là “Thần”, viết là , tạm dịch là “Quan”. Chữ còn lại không rõ nghĩa, có mặt ngoài được mài nhẵn, trên có chữ “Nhân”, viết là “”, tạm dịch là “Người”.

Để thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tác giả đã chú thích nguồn (ảnh 2)

Xem đáp án

a. Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích này là đồ hoạ thông tin (infographic). Phương tiện phi ngôn ngữ này được chú thích nguồn như sau:

- Tên đồ hoạ thông tin (infographic): Công cụ ngân hàng cát WWF – Việt Nam đang xây dựng nhằm quản lí tài nguyên bền vững.

- Người thiết kế đồ hoạ: tổ chức WWF và Đăng Hiếu.

b. Phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích này là hình ảnh. Phương tiện phi ngôn ngữ này được chú thích nguồn như sau:

- Tên hình ảnh: Hình 4. Mang khuôn khắc chữ Hán khai quật được (hình trái) và bản dập chữ Hán (hình phải).

- Nguồn hình: https://thanhcoloa.vn/suu-tap-khuon-duc-co-loa.

14. Tự luận
1 điểm

Thế nào là bài báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội? Kiểu bài viết này cần đáp ứng những yêu cầu nào về nội dung và cách thức trình bày?

Xem đáp án

Bài báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội là kiểu bài trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội dựa trên những bằng chứng đã thu nhập từ quá trình khảo sát thực tế, thu thập và phân tích dữ liệu/ thực nghiệm những giải pháp mà người nghiên cứu đề xuất.

Yêu cầu:

- Xác định được đề tài và câu hỏi nghiên cứu

- Thực hiện được các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu

- Trình bày được đầy đủ, sáng rõ và thuyết phục các kết quả nghiên cứu bằng văn phòng khoa học 

- Sử dụng, phân tích được đa dạng loại dữ liệu trong nghiên cứu, xác định được tính cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu

- Sử dụng phù hợp các trích dẫn, cước chú, các phương tiện phi ngôn ngữ để làm rõ thông tin 

- Trình bày phần tài liệu tham khảo đúng quy cách

15. Tự luận
1 điểm

Vẽ sơ đồ bố cục của bài báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội.

Xem đáp án

Tên đề tài/ nhan đề báo cáo

Tóm tắt

Từ khoá

Mở đầu

Nội dung chính

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục (nếu có)

16. Tự luận
1 điểm

Dùng Bảng kiểm báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội để đánh giá ngữ liệu tham khảo Đánh giá hiện trạng phát sinh và đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lí rác thải nhựa tại phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong SGK Ngữ văn 12, tập hai. Từ đó, rút ra những điều cần lưu ý khi viết để đáp ứng yêu cầu của kiểu bài này.

Xem đáp án

Em tiến hành tự đối chiếu với Bảng kiểm.

Lưu ý:

- Sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, khách quan, khoa học

- Xác định được đề tài và câu hỏi nghiên cứu

- Thực hiện được các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu

- Trình bày được đầy đủ, sáng rõ và thuyết phục các kết quả nghiên cứu bằng văn phòng khoa học 

- Sử dụng, phân tích được đa dạng loại dữ liệu trong nghiên cứu, xác định được tính cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu

- Sử dụng phù hợp các trích dẫn, cước chú, các phương tiện phi ngôn ngữ để làm rõ thông tin 

- Trình bày phần tài liệu tham khảo đúng quy cách 

- Bố cục bài viết phải đảm bảo đầy đủ các phần, mục.

17. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Tình huống: Trường bạn tổ chức cuộc thi “Nhà khoa học trẻ” nhằm tuyển chọn những đề tài xuất sắc dự thi vòng chung kết cuộc thi Khoa học kĩ thuật cấp thành phố dành cho học sinh trung học.

Nhiệm vụ: Bạn hoặc nhóm của bạn chọn một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội mà (các) bạn quan tâm để tìm hiểu và viết báo cáo nghiên cứu về vấn đề ấy.

Yêu cầu:

- Báo cáo kết quả nghiên cứu có bố cục đầy đủ các phần, mục theo yêu cầu của kiểu bài.

- Kết quả nghiên cứu được trình bày đầy đủ, sáng rõ và thuyết phục bằng văn phong khoa học.

- Sử dụng phù hợp các trích dẫn, cước chú, các phương tiện phi ngôn ngữ.

- Trình bày phần tài liệu tham khảo đúng quy cách.

Xem đáp án

Bước 1: Chuẩn bị viết

- Xác định đề tài: Đề tài có thể là vấn đề tự nhiên hoặc xã hội mà bạn hoặc nhóm của bạn quan tâm. Nên chọn một vấn đề cụ thể và có ý nghĩa thực tiễn.

- Xác định mục đích viết, đối tượng người đọc, mục tiêu, câu hỏi, phương pháp và phạm vi nghiên cứu

Bước 2: Phác thảo đề cương nghiên cứu

Sau khi thu thập đầy đủ dữ liệu, thông tin, cần đọc kĩ những dữ liệu đó để phác thảo đề cương nghiên cứu gồm các phần: tên đề tài, lí do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cơ sở lí thuyết, các dữ liệu cần thu thập, phương pháp thu thập dữ liệu.

Bước 3: Thực hiện nghiên cứu

- Dựa trên các tài liệu đã đọc, phác thảo cơ sở lí thuyết để xác lập căn cứ cho việc khảo sát thực trạng hoặc thực nghiệm giải pháp đề xuất nhằm cải tiến thực trạng.

Bước 4: Viết báo cáo kết quả nghiên cứu

Trên cơ sở đề cương và các thông tin đã có, tiến hành viết báo cáo kết quả nghiên cứu theo đề cương. Cần đảm bảo những yêu cầu của bài báo cáo kết quả nghiên cứu.

Bước 5: Xem lại và chỉnh sửa

Đọc lại bài báo cáo, dựa vào Bảng kiểm báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội để tự đánh giá và chỉnh sửa (nếu cần). Ghi lại các kinh nghiệm bản thân thu nhận được để viết tốt hơn những lần sau.

* Bài mẫu tham khảo:

Ví dụ: Giải pháp nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh

- Mục đích viết: Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về đề tài Giải pháp nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đối tượng người đọc: Ban giám khảo cuộc thi “Nhà khoa học trẻ” của trường.

- Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Câu hỏi nghiên cứu:

+ Mức độ hiểu biết và nhận định của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thống Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?

+ Có những giải pháp nào góp phần nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh?

- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương pháp phỏng vấn, phương pháp phân tích và tổng hợp.

- Phạm vi nghiên cứu: 200 học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 trường THPT X.

- Thu thập tư liệu

Ví dụ:

+ Thu thập dữ liệu sơ cấp: bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn.

+ Thu thập dữ liệu thứ cấp: các thông tin, bài viết, bài nghiên cứu về làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thực hiện nghiên cứu:

● Cơ sở lí thuyết cần xác lập cho đề tài nghiên cứu trên là:

+ Khái niệm làng nghề truyền thống.

+ Nguồn gốc và lịch sử phát triển của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Giá trị/ nét đặc sắc của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Hiện trạng của làng nghề.

● Trực tiếp thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài để làm sáng tỏ câu hỏi nghiên cứu: thiết kế phiếu khảo sát để đánh giá mức độ hiểu biết và nhận định của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tần Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; thiết kế câu hỏi phỏng vấn để khảo sát ý kiến của người dân ở làng nghề.

● Phân tích, xử lí dữ liệu thu thập được bằng những công cụ phù hợp như Excel, SPSS,...

Sau khi phân tích dữ liệu, tiến hành lí giải, phân tích, đánh giá, nhận xét về những thông tin thu thập được để đề xuất một số giải pháp để nâng cao nhận thức của học sinh trường THPT X về giá trị của làng nghề sản xuất mành trúc ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

18. Tự luận
1 điểm

Thế nào là bài trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội? Trong vai trò người nói, bạn cần chuẩn bị trình bày như thế nào?

Xem đáp án

Bài trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội là kiểu bài nói trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội dựa trên những bằng chứng đã thu thập từ quá trình khảo sát thực tế, thu thập, phân tích dữ liệu và thực nghiệm những giải pháp mà người nghiên cứu đề xuất.

19. Tự luận
1 điểm

Trong vai trò người nghe bài báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, bạn cần lưu ý những điều gì?

Xem đáp án

Trong vai trò người nghe bài báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội, bạn cần:

- Tìm hiểu về vấn đề nghiên cứu sẽ được báo cáo.

- Chuẩn bị giấy, bút để ghi chép nội dung bài báo cáo kết quả nghiên cứu.

- Xác định những vấn đề muốn tìm hiểu thêm về kết quả nghiên cứu.

- Tập trung lắng nghe, tìm kiếm những dấu hiệu ngôn ngữ để nắm bắt nội dung của bài báo cáo.

- Ghi chép tóm tắt nội dung của bài báo cáo và những câu hỏi về những vấn đề còn chưa rõ liên quan đến cơ sở lí thuyết, kết quả nghiên cứu,...

- Nhận xét, đánh giá bài báo cáo kết quả nghiên cứu của bạn.

20. Tự luận
1 điểm

Thực hiện đề bài sau:

Tình huống: Bài nghiên cứu của nhóm bạn được chọn dự thi vòng chung kết cuộc thi Khoa học kĩ thuật cấp thành phố dành cho học sinh trung học. Ban tổ chức yêu cầu mỗi nhóm trình bày tóm tắt bài nghiên cứu của mình.

Nhiệm vụ: Hãy chuẩn bị bài trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội để trình bày ở buổi thi.

Xem đáp án

Bước 1: Chuẩn bị nói

- Đề tài của bài nói cùng một đề tài với bài viết.

- Xác định các thành tố giao tiếp liên quan đến bài nói bằng cách tự trả lời câu hỏi: Mục đích nói là gì? Người nghe là ai? Bài nói sẽ được trình bày trong không gian nào? Thời gian bao lâu? Từ đó, chọn cách nói phù hợp, hiệu quả.

- Tìm ý, lập dàn ý: Trong trường hợp đề tài bài nói cũng là đề tài bài viết, bạn chuyển nội dung bài viết thành dàn ý của bài trình bày theo hướng dẫn trong SGK Ngữ văn 12, tập hai.

- Chuẩn bị các phương tiện phi ngôn ngữ hỗ trợ phù hợp.

- Dự kiến những vấn đề mà người nghe có thể phản biện và dự kiến câu trả lời.

- Đối chiếu dàn ý của bài nói với Bảng kiểm kí năng trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội trong SGK Ngữ văn 12, tập hai để luyện tập.

Bước 2: Trình bày bài nói

Khi trình bày, cần tự tin, có sự tương tác tích cực với người nghe và bám sát nội dung bài nói đã chuẩn bị.

Bước 3: Trao đổi, đánh giá

Sử dụng Bảng kiểm kĩ năng trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học và một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội trong SGK Ngữ văn 12, tập hai để tự đánh giá bài nói của bản thân và bài trình bày của các bạn cùng dự thi.

* Bài mẫu tham khảo:

Chào thầy/cô và các bạn. Mình tên là Nguyễn Văn A, hôm nay mình xin được phép đại diện nhóm 1 trình bày về kết quả nghiên cứu của nhóm. Báo cáo nghiên cứu về vấn đề tác động của việc sử dụng mạng xã hội đến tình hình học tập của học sinh trường .

Tóm tắt:

Hiện nay, mạng xã hội trở thành một phương tiện phổ biến với những tính năng đa dạng cho phép người dùng kết nối, chia sẻ, tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, hiệu quả. Sư phát triển của mạng xã hội ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của toàn xã hội, trong đó bao gồm cả học sinh. Qua mạng xã hội, các em tiếp nhận thông tin một cách nhanh chóng, xong chưa có tính chọn lọc. Điều này dẫn đến một bộ phận học sinh hiểu sai, không đúng về một vấn đề nào đó. Việc nghiên cứu đề tài này, giúp chúng em có cái nhìn khách quan, toàn diện về nhiều khía cạnh để từ đó tìm kiếm những giải pháp phù hợp giúp học sinh tránh xa được các tác động xấu của mạng xã hội....

1. Đặt vấn đề

1.1. Mục đích

- Tìm hiểu về lượng thời gian sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

- Tìm hiểu về mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

- Tìm hiểu về những tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

- Tìm hiểu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

1.2. Nhiệm vụ

- Mô tả thực trạng sử dụng Facebook của học sinh (mục đích sử dụng, thời gian sử dụng, thời điểm sử dụng, tần suất sử dụng, phương tiện truy cập,…)

- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến học tập của học sinh.

- Phân tích ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội Facebook đến đời sống của học sinh (các quan hệ xã hội).

1.3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tác động của mạng xã hội Facebook đối với học sinh.

Phạm vi nghiên cứu: 560 học sinh.

Thời gian: Tháng 11 – Tháng 12 năm 2012.

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

Phương pháp đối chiếu so sánh

Phương pháp tổng hợp, hệ thống

2. Kết quả nghiên cứu

2.1. Vai trò, vị trí của mạng Facebook trong đời sống con người.

Facebook thật sự đã mang lại cho chúng tôi nhiều trải nghiệm thú vị và hứng thú. Facebook là nơi chúng tôi có thể chia sẻ, cập nhật thông tin, hình ảnh, tán gẫu cùng bạn bè và tham gia vào các ứng dụng giải trí. Vì thế, chúng tôi dành khá nhiều thời gian truy cập Facebook mỗi khi mở chiếc máy tính của mình. Nhiều lúc, chúng tôi cảm giác khó chịu khi đường truyền internet chặn Facebook vì một lý do nào đó. Qua đó, chúng tôi hiểu rằng, bản thân chúng tôi ít nhiều bị sự thu hút từ mạng xã hội Facebook làm tác động và một số bạn khác cũng như vậy.

Vì thế, với tư cách là những cá nhân trực tiếp tham gia và đồng thời cũng là học sinh, chúng tôi xin nghiên cứu vấn đề này để hiểu rõ hơn về mạng xã hội Facebook mà chúng tôi đang sử dụng, tìm hiểu những tác động tích cực, tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh để từ đó điều chỉnh cách sử dụng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao các tác động tích cực đối với học sinh.

2.2 Thực trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh

Kết quả khảo sát cũng đã phản ánh tỉ lệ cao học sinh tham gia sử dụng mạng xã hội Facebook và hầu như bất kì một bạn nào cũng có riêng ít nhất 1 tài khoản Facebook để tham gia chia sẻ, cập nhật thông tin, hình ảnh và giao lưu kết bạn. Về mức độ thời gian tham gia sử dụng Facebook thì đa số các bạn đã sử dụng Facebook trên 1 năm (481/541 bạn, chiếm 88,9%). Qua đó, phản ánh sự gắn bó lâu dài của các bạn học sinh đối với Facebook. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, mạng xã hội Facebook có nhiều tác động tiêu cực dễ gây ảnh hưởng đến người tham gia sử dụng.

2.3 Mục đích sử dụng mạng xã hội Facebook của học sinh.

2.3.1. Chia sẻ, cập nhật thông tin và hình ảnh:

2.3.2. Giao lưu, kết nối bạn bè:

2.3.3. Giải trí:

2.4 Những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội Facebook đối với học sinh

2.4.1 Những tác động tích cực

Thông qua Facebook, các bạn đã có nơi để thể hiện mình và chia sẻ những điều khó nói cùng bạn bè. Facebook tạo cho phần đông nhóm đối tượng khảo sát sự thoải mái về tinh thần khi được chia sẻ những suy nghĩ về cuộc sống cá nhân hay các vấn đề xã hội. Facebook còn là một công cụ hữu hiệu để thể hiện cá tính bản thân.

2.4.2 Những tác động tiêu cực

Sử dụng Facebook một cách thường xuyên (bất kì thời gian nào trong ngày, chiếm 34,9%). Tác động tiêu cực lớn nhất mà nhóm đối tượng khảo sát cho thấy đó là việc tốn thời gian (chiếm 52,4%). Khoảng thời gian sử dụng Facebook mỗi ngày từ 1 - 3 giờ đồng hồ và trên 3 tiếng đồng hồ chiếm đa số câu trả lời trong cuộc khảo sát (41,3% và 30,2%). Bên cạnh đó, sinh viên khoa PR nhận thức được những tác động tiêu cực đến tâm lý, sinh lý của bản thân do việc lạm dụng Facebook như: nghiện Facebook dễ gây béo phì, ảnh hưởng đến thời gian, sức khỏe, công việc học tập và dễ bị ảnh hưởng bởi những thói hư, tật xấu... Ngoài ra, cũng có một bộ phận nhỏ các sinh viên không biết mục đích sử dụng Facebook là gì?. Tuy nhiên, vì sự rủ rê của bạn bè nên họ cũng tạo tài khoản để bắt kịp xu hướng. Ngoài ra, 15,9% cho là Facebook không có bất kì ảnh hưởng tiêu cực nào đến bản thân đối tượng được khảo sát

2.5 Các biện pháp nâng cao ảnh hưởng tích cực của mạng Facebook đối với học sinh

2.5.1 Biện pháp từ cá nhân

- Mỗi cá nhân hãy tự hỏi xem bạn sử dụng Facebook để làm gì hay lí do đầu tiên để bạn quyết định đăng kí một tài khoản Facebook là gì?

- Tự hoạch định cho bản thân khung thời gian hợp lí, cân bằng được giữa công việc, học tập và giải trí. Chỉ dành thời gian cho Facebook khi bạn thật sự rãnh rỗi hay muốn giải tỏa căng thẳng, mệt mỏi.

2.5.2 Biện pháp từ cộng đồng

- Nhà trường, gia đình cần có sự hướng dẫn, tư vấn, định hướng cho học sinh.

- Các nhà quản lý các cấp, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương.

- Ngoài ra, xã hội cũng cần có những định hướng và giúp đỡ giới trẻ, đặc biệt là các bạn học sinh tham gia vào các hoạt động thực tế, có ích cho bản thân và cộng đồng. Việc đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị, nâng cao tầm nhận thức của học sinh về các vấn đề chính trị, xã hội sẽ từng bước giúp học sinh có được bản lĩnh vững vàng xử lý được những thông tin tiếp cận từ nhiều chiều khác nhau

3. Kết luận

Mạng xã hội Facebook căn bản là một phần của xã hội ngày nay. Nó đã, đang và sẽ mang đến cho cuộc sống của con người ngày càng nhiều những tiện ích thú vị, tương tác cao cũng như sự tối đa hóa các chức năng. Tuy nhiên, mạng xã hội Facebook cũng là nơi dấy lên những tiêu cực khiến nhiều người lo lắng. Và chúng ta không thể đổ lỗi hoàn toàn cho mạng xã hội Facebook. Bởi lẽ, nó đơn giản chỉ là một công cụ, một phương tiện được tạo ra để gắn kết mọi người trên toàn Thế giới. Nhưng chính những người tham gia, sử dụng lại không hiểu đúng mục đích đó nên đã sà đà và lạm dụng quá mức dẫn đến gây ra những sự việc không mong muốn. Tất cả là do hành vi và sự nhận thức ở cá nhân người tham gia sử dụng mạng xã hội Facebook.

Vì thế, mỗi học sinh nên hiểu rõ những biện pháp từ bản thân và cộng đồng để tham gia vào mạng xã hội Facebook một cách tích cực nhất. Điều này sẽ giúp cho mỗi cá nhân nhận thấy Facebook hữu ích hơn và có thể kiểm soát tốt những hoạt động “không tên” trên mạng xã hội Facebook. Ngoài ra, mỗi cá nhân nên thể hiện trách nhiệm trong việc nâng cao tác động tích cực của mạng xã hội Facebook đối với cộng đồng mạng.

Trên đây là bài trình bày của tôi về báo cáo kết quả nghiên cứu về vấn đề tác động của việc sử dụng mạng xã hội đến tình hình học tập của học sinh, cảm ơn thầy/cô và các bạn đã lắng nghe. Rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy/cô và các bạn.